Posted in my johnny, night night (II)

[Oneshot | #JohnDo] 暖かい /𝐀𝐓𝐓𝐀𝐊𝐀𝐈/

48283380_2342305532455252_8696241483616878592_n

Author: Trịnh Ánh

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Rating: K

Summary: ‘Anh thử rồi.’

暖かい /𝐀𝐓𝐓𝐀𝐊𝐀𝐈/

Gặp lại một người nhất quyết không muốn nhìn thấy mặt mình lần nữa khó ngang với lên trời hái sao. Mình thì sẵn lòng đi một vòng trái đất chỉ để hỏi một câu giản đơn, rằng “em dạo này thế nào rồi?”, người ta thì chạy đông chạy tây tránh mình như tránh tà chỉ để không phải chua chát cợt nhả “tôi đang chờ ngày anh chết đi.”

Sao anh không chết đi cho tôi nhờ? Anh cũng không biết nữa, vì anh thử rồi.

Doyoung à, anh thử rồi. Anh đã thử chết đi cả ngàn lần rồi.

.

Lúi húi trong bếp băm băm chặt chặt, Doyoung bặm môi bổ thật mạnh từng nhát dao xuống thớt như muốn trút toàn bộ sự tức giận vào bất cứ thứ gì đặt trước mặt mình lúc này. Sau lưng cậu, Youngho đang ngồi đó, với cái khăn lông sạch duy nhất tìm được trong căn hộ, với cái thân ướt như chuột lột của anh ta, với bộ quần áo đắt tiền của anh ta, với đôi giày lúc nào được đánh bóng loáng và chắc chắn là không phù hợp để đi dưới mưa, giẫm lên một đoạn đường đầy bùn sình sau khi bước ra khỏi chiếc xe sang trọng để đi bộ tới khu chung cư nổi tiếng với sự xập xệ, tồi tàn và lúc nào cũng ngây ngấy vì mùi gây của hơn bốn trăm hợp chất hữu cơ dễ bay hơi hoà trộn với nhau. Anh ta đang ngồi đó lặng lẽ lau nước mưa trên tóc, trên mặt, trên cổ và trên áo quần cứ như thể chính anh ta chứ không phải Doyoung mới là chủ nhân của căn hộ xuống cấp này.

Bực mình, Doyoung gạt hết chỗ mình vừa mới băm vào một cái tô dường như quá lớn so với lượng thịt thà có trên thớt rồi nêm nếm gia vị, cố gắng trấn tĩnh lại. Cậu không thể làm hỏng món này được. Tất nhiên, không phải là vì nấu cho cả Youngho nên cậu mới không muốn mình bày một đống hổ lốn không ra mùi vị gì lên bàn, mà là vì cậu không muốn làm hỏng thêm một việc gì nữa. Cười khẩy một tiếng, Doyoung thấy miệng mình đắng ngắt. Sống trong bãi rác mà cứ cố gắng giữ cho mình được thơm tho để làm gì thế không biết?

Đã rất lâu rồi, Doyoung mới gặp lại Youngho. Kể cả khi anh ta có lấy lí do rằng mình chỉ vô tình đi ngang qua đây, chẳng cần mất một giây để suy nghĩ cũng sẽ biết anh ta chẳng có cớ gì để tới căn hộ này ngoại trừ khiến Doyoung vốn đã khó chịu vì sống trong một căn hộ ẩm thấp vào ngày trời mưa nay lại càng thêm điên tiết. Thứ nhất, đường về nhà anh ta ở hướng ngược lại. Thứ hai, anh ta có ô tô. Thứ ba, anh ta không nhất thiết phải tới tận đây chỉ để trú mưa. Thứ tư, anh ta có thể trú mưa ở chỗ nào anh ta thích ngoại trừ căn hộp ọp ẹp này. Thứ năm, anh ta biết Doyoung ghét mình tới mức nào.

“Em không cần làm gì… cầu kì quá đâu.”

Thấy Doyoung từ lúc mình bước vào nhà thì không thèm liếc mắt nhìn tới một lần, Youngho ngập ngừng lên tiếng. Nhìn một lượt quanh căn hộ, anh thấy được Doyoung đã cố gắng để căn hộ này trông có vẻ bớt tồi tàn tới độ nào. Thế nhưng, sự nghèo khó như một lớp bụi mịn lẩn khuất trong không khí. Nó bám dính vào áo quần, nó lọt vào cả đường thở, bở ra từ những bức tường chỉ cần gõ nhẹ là lập tức bong tróc vôi vữa. Tưởng như anh chỉ cần đập tay xuống bàn, lớp bụi của sự khổ sở và cơ cực cứ thế bật ra, khiến người ta thấy mình hít thở không thông. Từ thẳm sâu trong lòng, anh những muốn chạy ra khỏi đây ngay. Kì thực, Youngho đã quay lại xe rồi rời đi ngay khi vừa nhìn thấy khối nhà xám ngoét như gan lợn mọc lên giữa những khu chung cư cao cấp, tiêu điều và xác xơ như bị bỏ hoang. Thế nhưng, cứ nghĩ tới việc ngày ngày Doyoung đều phải chịu đựng cảnh sống không khác gì tù đày bên trong cánh cửa sắp muốn lỏng bản lề tới nơi kia, anh lại dợm bước tiến thẳng lên tầng sáu.

Sau khi chia tay nhau, Doyoung lại quay về sống ở đây. Mọi thứ vẫn vậy, thứ duy nhất thay đổi, quả thực chỉ có lòng người.

“Em làm món gì thế?”

Youngho tần ngần hỏi tiếp, trong lòng không dám mong Doyoung sẽ trả lời mình. Anh chỉ đang cố gắng nói chuyện một cách thoải mái hơn dù biết rất rõ chính mình cũng cảm thấy khó khăn nếu như vẫn phải chạm mặt kẻ đã có công tống bố mình vào tù sau ngần ấy năm. Bật cười, Youngho khẽ lắc đầu toan ngả lưng ra phía sau nhưng nhanh chóng ngồi thẳng dậy sau khi nghe mấy tiếng kèn kẹt nho nhỏ cùng âm thanh của mối xông đang ăn rỗng chất gỗ.

“Dạo này em thế nào rồi?” Youngho thì thầm như sợ làm kinh động con quái vật đã ngủ yên. Con quái vật của thù hận bên trong Doyoung.

“Đã ai nói với anh rằng,” Thẳng tay ném cái thớt vào trong bồn rửa, Doyoung chống hai tay lên bệ bếp. Nhắm nghiền mắt lại, cậu có thể cảm nhận cơn run rẩy lan toả từ trong bụng đến từng cơ quan trên cơ thể mình. “Anh có mùi của cadaverineputrescine chưa?”

“Cảm ơn em vì đã đánh giá anh cao như thế,” Youngho tiến về phía Doyoung. Đứng ngay phía sau lưng cậu, anh đặt hai tay lên đôi vai đang run bắn lên kia, nhẹ nhàng kéo Doyoung sát lại gần mình. Ít nhất thì Doyoung vẫn coi anh là một sinh vật từng sống trên đời, vì chỉ có động vật mới có mùi hôi thối do cadaverineputrescine để lại khi xác chết của nó phân huỷ mà thôi. Cảm nhận tấm lưng gầy của Doyoung tựa vào ngực mình, Youngho nói như thể đang trò chuyện với ai đó đứng đằng trước Doyoung chứ không phải với cậu. “Cảm ơn em.”

Doyoung nghiến chặt răng chộp lấy con dao để trên bàn bếp. Siết chặt cán dao trong tay mình, cậu những muốn chém xuống một nhát thật mạnh mà không dám. Ha!… Hay thật đấy. Cả đời quanh đi quẩn lại, vẫn là vì hai chữ này. Không dám. Không dám bỏ lại quá khứ sau lưng, không dám cắt đứt liên lạc với kẻ đày đoạ mình suốt những năm tháng thơ ấu, không dám ngẩng đầu lên nhìn mặt ai vì ám ảnh với sự sỉ nhục do có một người mẹ bán trôn nuôi miệng và một người cha không ra gì, không dám hạnh phúc, không dám đòi hỏi một cuộc sống tốt đẹp hơn. Mãi mới dám yêu đương, cuối cùng cũng không được. Trong tay chẳng có gì, mà kể cả có cầm dao thì cũng nào dám đâm chém gì ai? Không dám chết, không dám sống, không dám yêu, không dám vui vẻ. Không dám nói, không dám cười. Sau cùng, chỉ có duy nhất quyền được đau khổ và quyền được khóc thì cũng dốc đến cạn cả nước mắt, hớt vội hết bi thương rồi.

Chẳng còn gì nữa. Thật sự, chẳng còn gì nữa.

“Buông ra đi.”

“Doyoung à, anh xin lỗi.” Youngho không những không bỏ tay khỏi vai Doyoung mà còn ngang nhiên vòng tay ôm lấy cậu vào lòng. Tì cằm lên vai Doyoung, anh chạm vào bàn tay nắm chặt cán dao tới mức các khớp nổi lên trắng bệch của người kia, từ từ gỡ từng ngón tay cậu ra. Thảy con dao xuống chậu rửa, Youngho nói khẽ vào tai Doyoung. Vẫn giọng nói ấy, giọng nói đưa cậu vào giấc ngủ không chút mộng mị của nhiều năm về trước. “Anh xin lỗi. Ướt cả lưng áo em mất rồi, anh xin lỗi…”

Nhìn vết bẩn cáu lại do dầu mỡ trên bức tường phòng bếp, Doyoung cắn cắn môi. Cậu nheo mắt như thể nhìn không rõ, cứ thế để mặc cho Youngho đứng ôm mình. Đằng nào cũng vậy, anh có tới đây hay không, có tìm gặp cậu cho bằng được hay không, vẫn chẳng có gì thay đổi cả. Kể cả anh chết đi, cũng thế cả thôi. Vết dầu mỡ dính dớp nhớp nhúa và nhầy nhụa trên tường vẫn không cách nào gột cho sạch được. Kể cả Youngho có chết đi, cả toà nhà chung cư này vẫn sẽ kinh tởm và buồn nôn. Kể cả Youngho có chết đi, căn hộ này có đem rao bán với giá rẻ như cho cũng chẳng một ai ngó ngàng tới chứ đừng nói là bỏ tiền ra mua về. Kể cả Youngho có chết đi, chỗ này cũng vẫn là một nơi dành cho những kẻ nếu không dọn tới đây thì cũng bị xã hội đem vứt ngoài lề đường, không nơi nương tựa, chẳng chốn đi về, bố thì tù tội, mẹ thì sống hay chết từ lâu đã chẳng còn khiến bản thân bận tâm nữa.

“Anh xin lỗi, Doyoung à…”

“Anh tống bố tôi vào tù.” Nuốt nước mắt vào trong, Doyoung gằn giọng. Quả nhiên, những tên khốn yếu đuối uỷ mị vẫn luôn rơi nước mắt vào những thời điểm không phù hợp chút nào. “Anh tống ông ấy vào tù.”

Nhưng ông ta là tội phạm. Nhưng ông ta thậm chí còn không thèm nhớ tới em nếu như không say khú say khướt hoặc lên cơn thèm thuốc và không một xu dính túi. Nhưng ông ta chưa từng chăm sóc em như một người cha lo lắng cho con trai mình. Những lời ấy cứ nghẹn lại trong cổ họng Youngho. Anh không thể nói ra những điều ấy trước mặt Doyoung. Vì anh biết, đã từ lâu rồi, cậu không cần một người cha. Cậu cần một biểu tượng.

Doyoung đã từng nói với anh như thế này trước khi quay gót rời đi, rằng cậu chẳng cần biết bố mình là người như thế nào, nhưng chí ít thì nhờ sự tồn tại của một người là “bố”, cậu vẫn còn một mối liên hệ nào đó với một khái niệm khác thậm chí còn xa vời hơn – gia đình. Doyoung cần một biểu tượng để bấu víu vào nó, để tự nhắc bản thân rằng mình cũng giống những người khác, có một mái nhà, có một người để dựa dẫm, mặc dù từ trước tới nay cậu chưa từng nhờ vả được ở người đàn ông đã sớm mất tư cách làm cha kia một điều gì. Doyoung cảm nhận hơi ấm toả ra từ thứ ảo tưởng ấy, và ngay khi giấc mộng vỡ tan như bong bóng xà phòng, cậu cảm thấy lạc lõng, chơi vơi ngay nơi miệng vực. Cậu không còn gì để sưởi ấm tâm hồn mình được nữa, và trái tim Doyoung bây giờ lạnh lẽo tới mức anh không dám chạm tới suốt nhiều năm.

Tại sao Doyoung có thể dọn phân cho một kẻ suốt ngày nhậu nhẹt say xỉn rồi đái ỉa khắp nhà, bị chủ nợ trát xi măng vào cửa không cho bỏ trốn? Bởi vì ít nhất cậu vẫn có một người để coi là “bố”, và cậu vẫn có một gia đình.

“Em dạo này thế nào rồi?” Youngho nghẹn ngào, hỏi một câu chẳng hề ăn nhập gì với câu chuyện mà cả hai đang nói. Anh chỉ muốn nghe Doyoung nói. Nói gì cũng được, chỉ cần nói với anh là được.

“Tôi ấy à…” Cựa mình ra khỏi vòng tay Youngho, Doyoung xoay người để có thể đối diện với anh. “Tôi đang chờ ngày anh chết đi.”

Youngho câm lặng. Thấy vậy, Doyoung cười gằn, hai mắt long lên. Cậu thấy đầu mình đau điếng, khuôn mặt đỏ bừng lên như phát sốt.

“Anh tiếp cận tôi rồi lợi dụng tôi để tống bố tôi vào tù. Anh chưa từng coi tôi là người yêu của anh. Trong mắt anh, tôi ngờ nghệch lắm, đúng không? Sao anh không chết đi cho tôi nhờ?”

Cả căn phòng bỗng chốc chìm vào tĩnh lặng. Nhận ra mình có phần hơi nặng lời, Doyoung đột nhiên thấy bồn chồn. Đẩy Youngho qua một bên, cậu quay lại với công việc của mình, lẳng lặng bật bếp ga.

Từ phía sau, một giọng nói khe khẽ vang lên khiến từng mạch máu trong người Doyoung như muốn đông cứng lại.

“Anh cũng không biết nữa, vì anh thử rồi mà không được.”

Giọng nói kia ảo não và đớn đau tới mức làm Doyoung bủn rủn cả chân tay. Quay lại nhìn Youngho, cậu thấy anh ngẩng đầu nhìn trần nhà. Bất giác ngước lên nhìn theo hướng của anh, Doyoung nhận ra một mảnh vữa trên trần vừa mới rơi xuống.

“Doyoung à, anh thử rồi. Anh đã thử chết đi, cả ngàn lần rồi.”

Giống như em, anh cũng cần một biểu tượng. Anh sống tới ngày hôm nay, nhờ hơi ấm toả ra từ biểu tượng ấy. Từ em.

“Và em. Em vẫn luôn là tình yêu của anh.”

 

 

Advertisements
Posted in my johnny, night night (II)

[Oneshot | #JohnDo and ?] dystopian: will-o’-the-wisp

vlcsnap-2018-04-17-22h16m09s607

Author: Trịnh Ánh

Pairing(s): Megalodon x Ethereal (JohnDo/NCT Johnny x Doyoung), Shigenis x Varolai (TaeYu/NCT Taeyong x Yuta)

Character(s): Aulophyseter (NCT Taeil), Megalodon (NCT Johnny), Shigenis (NCT Taeyong), Varolai (NCT Yuta), Ethereal (NCT Doyoung), Rham (NCT Jaehyun), Deino (NCT Winwin), Ceto (NCT Jungwoo), Coprion (NCT Mark), Ghost (NCT Haechan)

Rating: K+

Summary:

“Thật buồn nôn… Buồn nôn thật đấy, khi chúng ta giết chết kẻ giết người chỉ để chứng minh giết người là sai trái.”

dystopian: will-o’-the-wisp

Lịch sử được chia thành nhiều “thời kì”, mỗi thời kì là một giai đoạn xác định có thể đi đến sự kết thúc và được thay thế bởi một thời kì mới với những thực thể khác biệt. Cho nên, thay vì sử dụng cụm từ “sự kết thúc của thế giới”, chúng ta nên nói rằng đó là “sự kết thúc của một thời kì”. Thuyết tận thế không bàn nhiều về “sự kết thúc thời gian” mà là về sự kết thúc của một giai đoạn xác định, sự kết thúc của sự sống như hiện tại, và bắt đầu một giai đoạn mới. Nó thường là một khủng hoảng dẫn đến sự kết thúc của thực tại và mở ra một hướng mới cho sự sống, suy nghĩ hay bản thể. Sự khủng hoảng này có thể mang hình thức là một sự can thiệp của một vị thần trong lịch sử, một cuộc chiến tranh, một sự thay đổi trong môi trường hoặc ý thức đạt được một cấp độ mới.

Nếu kết quả đạt được là một thế giới tốt đẹp hơn thì gọi là “không tưởng”, tức utopian, nếu tồi tệ hơn thì gọi là “phản-không tưởng”, tức dystopian.

.

Trái Đất là một hành tinh rất đặc biệt. Không phải ngẫu nhiên mà trong toàn vũ trụ, kể cả có coi thường sự yếu ớt của sinh vật đang làm chủ Trái Đất là con người đến mấy, hành tinh nào cũng phải dành cho Trái Đất một sự kiêng dè nhất định. Bởi một lẽ, đây là hành tinh duy nhất có tới sáu lần suýt chút nữa đi đến ngày tận diệt nhưng tương ứng với đó là sáu lần trỗi dậy mạnh mẽ. Không một hành tinh nào trong vũ trụ vượt qua được tới sáu cuộc Đại Tuyệt chủng mà vẫn còn tồn tại sự sống cho tới tận ngày hôm nay, và Trái Đất là một ngoại lệ.

Cuộc Đại Tuyệt chủng đầu tiên, hay còn được người Trái Đất gọi là Tuyệt chủng Ordovic – Silur xảy ra cách đây khoảng 550 triệu năm. Hàng loạt nhiều cuộc tuyệt chủng liên tiếp xảy ra cuốn phăng đi 17% số họ và 50% số chi khiến Đại Tuyệt chủng Ordovic – Silur trở thành cơn ác mộng đầu tiên trên Trái Đất. Nguyên nhân dẫn tới cuộc Đại Tuyệt chủng nhận được nhiều sự đồng tình hơn cả là vụ nổ tia gamma của một ngôi sao gần Trái Đất khiến cho carbon dioxide trong khí quyển sụt giảm mạnh. Cuộc Đại Tuyệt chủng này đã tạo ra một thời kì băng hà ước tính là kéo dài tới hơn 1,5 triệu năm.

Cuộc Đại Tuyệt chủng thứ hai được đặt tên là Tuyệt chủng Devon, bắt đầu khoảng 460 năm trước đây, tức là ngay trước thời kì chuyển giao từ Kỷ Devon sang Kỷ Thạch Thán, hay còn được biết đến là Kỷ Carbon. Các bằng chứng khảo cổ cho thấy, các cuộc tuyệt chủng liên hoàn đã diễn ra ít nhất 20 triệu năm. Ước tính có khoảng 19% số họ, 50% số chi và 70% số loài đã bị tuyệt diệt trong cuộc tuyệt chủng này. Trước khi bước vào thời kì này, lục địa là mảnh đất của thực vật bậc thấp và những loài côn trùng đầu tiên, còn dưới đại dương, các loài san hô khổng lồ đang chiếm ưu thế, các loài cá cũng đang trong quá trình tiến hoá. Theo các nhà cổ sinh học, một thiên thạch có đường kính lớn đã có một cú va chạm với Trái Đất, gây nên những đợt sóng thần, tàn phá hệ sinh thái bờ biển, đồng thời gây ra những biến động và xáo trộn ở các tầng biển sâu. Một nguyên nhân khác cũng được đưa ra, đó là sự phát triển của thực vật đã làm suy giảm lượng carbon dioxide, khiến khí hậu lạnh hơn và nhiều loài không kịp thích nghi nên bị loại bỏ.

Cuộc Đại Tuyệt chủng thứ ba được cho là khủng khiếp nhất trong lịch sử khi tuyệt diệt phần lớn sinh vật trên địa cầu và thiết lập lại gần như toàn bộ sinh giới. Tuyệt chủng Permi – Trias đã khiến 90% sinh vật biển và 70% sinh vật trên cạn bị xoá sổ hoàn toàn. Các bằng chứng khảo cổ cho thấy, nguyên nhân chính của hiện tượng trên là do sự vận động kiến tạo mạnh mẽ của lớp vỏ Trái Đất, gây nứt gãy và dồn nén các mảng lục địa. Sự phun trào magma lên bề mặt Trái Đất đã nhấn chìm tất cả trong biển lửa. Bên cạnh đó, bụi và khí carbonic tràn ngập không khí, gây “hiệu ứng nhà kính” khiến Trái Đất trở nên nóng hơn bao giờ hết. Dưới đại dương, các dòng hải lưu thay đổi đã làm biến mất nhiều hệ sinh thái. Một nguyên nhân khác được cho là góp phần gây ra vụ đại tuyệt chủng đẫm máu này là sự va chạm của thiên thạch có bán kính 500km với Trái Đất. Vết tích của vụ va chạm này được tìm thấy ở Nam Cực vào năm 2006 bởi các nhà khoa học thuộc trường Đại học Tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ.

Cuộc Đại Tuyệt chủng thứ tư đánh dấu sự chuyển giao từ Kỷ Tam Điệp (Kỷ Trias – kỷ mở đầu cho thời kì Đại Trung Sinh) và Kỷ Jura xảy ra cách đây chính xác 299,6 triệu năm, gọi là Tuyệt chủng Trias – Jura. Khoảng 23% số họ, 48% số chi đã bị tuyệt chủng, bao gồm nhiều loài động vật có xương sống trong đại dương và bò sát biển ngoại trừ thằn lằn cá và thằn lằn chân chèo. Các động vật không xương như ngành tay cuốn, ngành thân mềm, lớp lưỡng cư và đặc biệt là bò sát phụ lớp thằn lằn cổ – trừ khủng long – ở đất liền cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Sự kiện tuyệt chủng đã loại bỏ nhiều loài động vật lớn trên Trái Đất, tạo điều kiện cho khủng long thống trị hành tinh suốt Kỷ Jura và Kỷ Phấn Trắng (Kỷ Creta). Khủng long làm chủ toàn bộ mặt đất, trong khi đó các vùng nước ngọt là địa phận của tổ tiên loài cá sấu ngày nay (thuộc lớp phụ thằn lằn), nhóm thằn lằn cổ rắn và thằn lằn cá trở thành bá vương biển cả. Các nghiên cứu đã chỉ ra khoảng thời gian cuộc tuyệt chủng diễn ra và vụ va chạm của sao băng tạo nên hồ Manicouagan tại Canada. Bằng chứng này cho thấy, có thể chính vụ va chạm là nguyên nhân trực tiếp khơi mào cuộc tuyệt chủng này.

Cuộc Đại Tuyệt chủng thứ năm xảy ra vào cuối Kỷ Phấn Trắng cách đây 166,5 triệu năm có tên Tuyệt chủng Creta – Paleogen đánh dấu sự kết thúc của Đại Trung Sinh và bắt đầu Đại Tân Sinh bằng Thế Cổ Tân (Thế Paleogen). 17% số họ, 50% số chi và 75% số loài đã bị tuyệt chủng. Các nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng sự kiện tuyệt chủng này là do một hoặc nhiều thảm họa đồng thời gây ra, như sự tác động mạnh mẽ của các thiên thạch đã tạo nên các hố Chicxulub ở Mexico, Boltysh ở Ukraina hoặc do mực nước biển tụt xuống, núi lửa phun trào mạnh mẽ tạo ra hiện tượng “bẫy Deccan” (phun trào magma) tàn phá nghiêm trọng sinh quyển Trái Đất. Các sự kiện địa chất đó đã làm giảm lượng ánh sáng và mức độ quang hợp, dẫn đến sự phá hủy hệ sinh thái Trái Đất trên quy mô lớn, khí hậu khô hơn, chuỗi thức ăn cũng bị phá vỡ. Khủng long là loài động vật có xương sống bị ảnh hưởng đầu tiên khi môi trường thay đổi, sự đa dạng loài giảm đáng kể. Cùng với đó, một số loài thực vật, động vật không xương sống cũng biến mất trên Trái Đất, tạo điều kiện cho lớp thú phát triển và dần chiếm ưu thế.

Cuộc Đại Tuyệt chủng thứ sáu, được biết đến với cái tên Tuyệt chủng Holocen – Will-O’-the-Wisp, chính thức kết thúc mọi sự sống trên Trái Đất. Ngoại trừ một bộ phận nhân loại và cùng sinh vật mà chủ yếu là gia cầm và gia súc đã kịp thời trốn thoát bằng các tàu không gian và tiếp tục cuộc sống của mình bằng cách “trôi nổi” ngoài vũ trụ, tất cả các giống loài khác đều bị tuyệt chủng cùng với sự kết thúc của Trái Đất. Thời kì Will-O’-the-Wisp mở ra, và các tàu không gian chính là hi vọng cuối cùng của cả loài người trước khi tìm kiếm được sự sống trên các hành tinh khác. Đến đây, có rất nhiều người tự hỏi vì sao người Trái Đất không tìm đến Sao Hoả, vốn trước đó được cho là có tồn tại các điều kiện đủ để sinh tồn. Để trả lời cho câu hỏi này, người ta cần nhìn vào nguyên nhân dẫn đến cuộc tuyệt chủng này.

Trái Đất là nơi thích hợp nhất để duy trì sự sống của con người và nhiều loài sinh vật là nhờ vị trí của hành tinh này với Mặt Trời. Trong lõi của Mặt Trời, nhờ có hiệu ứng dây chuyền proton – proton, quá trình tạo ra năng lượng bằng cách tổng hợp hạt nhân hydro thành heli đã diễn ra. Do lõi Mặt Trời không có đối lưu, heli chỉ tập trung tại khu vực này chứ không thể phân bố ra toàn bộ ngôi sao. Thêm vào đó, nhiệt độ ở đây lại không đủ cao để tổng hợp hạt nhân các nguyên tử heli bằng quá trình ba hạt alpha nên chúng không thể tạo ra năng lượng cần thiết để duy trì cân bằng thuỷ tĩnh cho Mặt Trời.

Tính tới các thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, Mặt Trời đã đốt cháy gần một nửa lượng hydro và số nguyên tử còn lại hầu hết là heli. Khi tỉ lệ các nguyên tử hidro trên một đơn vị khối lượng giảm đi, lượng năng lượng thu được từ quá trình tổng hợp hạt nhân cũng giảm theo, khiến áp suất chống đỡ giảm và làm cho lõi Mặt Trời co lại, đồng thời khiến mật độ vật chất cùng nhiệt độ tại đây tăng cao cho tới khi áp suất trở lại cân bằng với các lớp bên ngoài. Việc gia tăng nhiệt độ khiến lượng hydro được tổng hợp nhanh chóng hơn để có đủ năng lượng duy trì cân bằng thuỷ tĩnh. Kết quả, Mặt Trời sản xuất ra nhiều năng lượng hơn.

Khi bước vào tiến trình chính, độ sáng của Mặt Trời chỉ bằng 70% giá trị độ sáng Mặt Trời năm 2018. Cứ 110 triệu năm, độ sáng này lại tăng thêm 1%. Cho tới khi Mặt Trời kết thúc tiến trình chính, tức là sau khi đốt cháy hydro trong lớp vỏ bao quanh phần lõi cho đến khi độ sáng bằng 121% so với ban đầu, nó sẽ bước vào giai đoạn sao bán khổng lồ và trở thành sao khổng lồ đỏ. Theo các tính toán, tính từ mốc Mặt Trời bắt đầu tiến trình chính, phải mất tới 4,8 năm để nhiên liệu hydro trong lõi cạn kiệt. Tuy vậy, con người – đúng phải bản chất ăn tạp và phá hoại của mình – đã thúc đẩy quá trình này, khiến nó diễn ra nhanh hơn gấp nhiều lần so với dự đoán mà chính chúng đưa ra.

Trong giai đoạn sao bán khổng lồ, Mặt Trời tiếp tục tăng gấp đôi khối lượng. Khi diện tích bề mặt của Mặt Trời tăng lên, năng lượng mà nó tỏa ra cũng tăng theo. Trừ khi bán kính quỹ đạo của Trái Đất tăng lên đáng kể, nếu không thì nhiệt độ toàn cầu của Trái Đất sẽ gia tăng theo độ sáng ngày càng cao của Mặt Trời, đồng thời nước sẽ bay hơi ra ngoài không gian ngày càng nhiều hơn. Hầu hết bề mặt Trái Đất sẽ trở thành những hoang mạc cằn cỗi và sự sống tập trung chủ yếu trong lòng các đại dương. Tuy nhiên, khi lượng nước hữu cơ đổ từ đất liền vào các đại dương cũng như hàm lượng oxy trong nước biển ngày càng giảm đi, sự sống ở đây cũng biến mất theo cách tương tự như những gì đã xảy ra trên cạn, và động vật không xương sống, đặc biệt là những loài không phụ thuộc vào thực vật như mối và giun ống khổng lồ sinh sống gần các miệng phun thuỷ nhiệt là những loài động vật cuối cùng. Bên cạnh đó, sự biến mất của nước trên bề mặt Trái Đất với vai trò là chất bôi trơn khiến lớp vỏ Trái Đất trở nên quá khô và không thể bị hút chìm xuống lớp phủ, từ đó làm cho hoạt động kiến tạo mảng diễn ra chậm đi và cuối cùng dừng lại. Khi đó, carbon không còn được giải phóng vào khí quyển thông qua hoạt động núi lửa, đồng thời cũng không thể bị hút chìm xuống đáy đại dương. Chu trình carbon chấm dứt.

Mật độ carbonic giảm quá ngưỡng cần thiết để duy trì quá trình quang hợp của thực vật C3, cây cối và các khu rừng không thể tiếp tục tồn tại, chỉ duy nhất thông thường xanh có khả năng sống sót. Khi đã giảm xuống tới ngưỡng không thể duy trì quang hợp, hàm lượng carbonic bắt đầu dao động lên và xuống. Điều này cho phép thực vật trên cạn sinh sôi mỗi khi mức carbonic tăng lên nhưng trong dài hạn toàn bộ thực vật vẫn sẽ tuyệt chủng. Do sự tuyệt chủng của thực vật, khí quyển Trái Đất cũng sẽ không còn oxy và theo đó là ozone, sinh vật ngày càng ít được bảo vệ khỏi tia cực tím và dần bị tuyệt diệt.

Nhìn thấy trước viễn cảnh các loài động vật đầu tiên biến mất là động vật có vú, tiếp theo là chim, động vật thân mềm, bò sát, cá, cuối cùng là động vật không xương sống, loài người đã lập tức tiến hành đưa người vào không gian trên các tàu vũ trụ có trang bị đầy đủ các công cụ để duy trì sự sống. Việc nghiên cứu thành công phương pháp tạo ra khí oxy mà không cần đến quá trình quang hợp của thực vật, máy in thức ăn sử dụng công nghệ không gian ba chiều, các loại dinh dưỡng nhân tạo và tốc độ phát triển như vũ bão trong công nghiệp nguyên vật liệu đủ để con người tạo ra các sản phẩm có công năng tối ưu, con người đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị để hiện thực hoá ý tưởng điên rồ của mình, đó là sinh sống bên ngoài vũ trụ mà không cần đến bất cứ một hành tinh nào và tránh khỏi một cuộc Đại Tuyệt chủng.

Công nghệ sử dụng enzyme Hydrogenase (được tìm thấy trong một giống tảo vốn đã ở trong trạng thái ngủ đông hàng nghìn năm, có chức năng phân tách các nguyên tử hydro và các proton) để chiết tách nước thành các nguyên tử hydro và oxy, tạo ra một nguồn hydro vô tận mà không cần quá nhiều máy móc phức tạp, giúp duy trì hoạt động của các tàu thám hiểm vũ khi tiến vào các khoảng sâu trong không gian cùng oxy để đảm bảo sự sống. Công tác nuôi tảo nhân tạo để có được loại enzyme này đã được tiến hành ngay từ những ngày đầu khi mới lắp đặt các phòng thí nghiệm bên trong các tàu vũ trụ. Với đầy đủ những trang thiết bị tối tân nhất, con người tiến vào vũ trụ mà không gặp quá nhiều trở ngại. Rắc rối lớn nhất, chính là có bao nhiêu người được lên tàu vũ trụ.

Chiến dịch Apokalypsis của các tầng lớp yếu thế hơn trong xã hội nhắm vào tầng lớp thượng lưu – những kẻ đã thét cái giá cắt cổ để không một ai có cơ hội lên tàu không gian – đã được triển khai trên toàn cầu. Từ Đông sang Tây, hàng loạt các cuộc thảm sát kinh hoàng đã diễn ra. Đường phố trở thành chiến trường. Tất cả mọi vật dụng đều được trưng dụng để dựng thành luỹ. Nông dân, công nhân làm chủ quân đội, nhà máy, công xưởng. Giáo viên và học sinh được an toàn bên trong các khu kí túc xá và trường học. Bác sĩ, kĩ sư, chuyên gia máy tính giành lại quyền tuyệt đối của mình trong các bệnh viện, các phòng thiết kế cùng bản vẽ và sơ đồ đường phố cùng các toà nhà, các phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, các trạm khí tượng, camera an ninh, tổng đài điện thoại. Phi công, tiếp viên hàng không và nhân viên kiểm soát không lưu bảo vệ cả bầu trời và mặt đất. Chiến dịch Apokalypsis giành thắng lợi hoàn toàn, những người giàu có và nắm giữ nhiều quyền lực trong xã hội chỉ sau một đêm bị đẩy xuống tầng thấp nhất. Một thời kì mới bắt đầu – Giai đoạn hậu Apokalypsis.

Không dừng lại ở đó, sau khi đã dồn nhóm 1% vào đường cùng, những người đứng đầu chiến dịch này đã tiếp tục loại bỏ một bộ phận khác trong xã hội mà họ cho là hoàn toàn vô dụng trong xã hội. Tất cả những người già trên bảy mươi tuổi, người khuyết tật bẩm sinh, người tàn phế do tai nạn lao động và tai nạn giao thông, người sống trong tình trạng thực vật, người bị bệnh bại liệt, những người trong độ tuổi lao động nhưng không đủ sức khoẻ theo tiêu chuẩn đều bị khép tội và chịu án tử hình. Ngay cả trẻ sơ sinh mang các dị tật biểu hiện ra kiểu hình cũng bị cho là có tội và điều này được ghi rất rõ trong hiến pháp mới được ban hành.

Xã hội giai đoạn hậu Apokalypsis được chia thành ba nhóm lớn, chia theo vị thế và quyền lực, lần lượt là SHARK, WHALE và ALLIGATOR.

SHARK, hay SHArK, vốn dĩ là một từ viết tắt cho Solar Hydrogen Activity Research Kit, một dự án đã được chính phủ cấp phép thực hiện, đặt mục tiêu khám phá các hợp chất có thể quang hoá nước một cách hiệu quả, dự án tiến hành nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu. Kết quả cuối cùng của dự án này chính là cung cấp công cụ nghiên cứu một phương thức hiệu quả để lưu trữ năng lượng mặt trời. Về sau, dự án này kết thúc, nhưng mọi người đều mặc định gọi giới khoa học là SHARK. Đây là tầng lớp cao cấp nhất, nắm giữ vai trò trọng yếu để vận hành toàn bộ các máy móc cùng thiết bị nhằm duy trì sự sống trên các tàu không gian và các phi thuyền vũ trụ. Họ cũng được giao nhiệm vụ bảo trì các thiết bị này thường xuyên, đồng thời xây dựng mạng lưới liên kết các tàu không gian cùng các phương án dự phòng trong trường hợp khẩn cấp cũng như lên các hành tinh khác để tìm kiếm sự sống.

WHALE là cái tên chung cho đơn vị chống điệp báo, đơn vị chống khủng bố, ban giám sát tình báo, ban giám sát vũ khí huỷ diệt hàng loạt, đơn vị điều tra tội phạm, đội phản ứng nhanh, đội khắc phục hiện trường, đơn vị mạng máy tính, đơn vị chiến dịch công nghệ, đơn vị chiến dịch công nghệ thông tin, đơn vị huấn luyện, đơn vị nguồn nhân lực, các đặc vụ, các giám sát viên và cuối cùng là bộ phận tham mưu cho chính phủ. WHALE được cho là viết tắt của câu nói “We have a little emergency”, một câu nói mà cảnh sát và cứu hoả thường xuyên sử dụng trước khi hành động, có ý nghĩa “Chúng ta có một chút khẩn cấp”. Tất cả đều chỉ là một chút khẩn cấp, như muốn tuyên bố rằng không có tình huống nào mà họ không xử lí và khắc phục được. Nhóm này có quan hệ khăng khít với SHARK do đặc thù yêu cầu công việc. Một mặt, họ giữ gìn an ninh trên các phi thuyền đồng thời “dọn dẹp” hậu quả của các va chạm của thiên thạch với tàu không gian, giúp SHARK yên tâm nghiên cứu. Mặc khác, SHARK cung cấp cho họ các phát minh tối tân nhất về mặt vũ khí và cứu thương.

ALLIGATOR được ghép lại từ “alliance” có nghĩa là liên minh và GATOR – Get All The Orders Right, một yêu cầu trong hoạt động trong nhà hàng – là tên của nhóm doanh nhân, thương gia và toàn bộ những ai tham gia vào hoạt động sản xuất sản phẩm cũng như thúc đẩy kinh tế. Đây là một nhóm có nhân lực vô cùng đông đảo, cũng là nhóm chủ chốt tạo ra liên kết giữa các tàu không gian và chính họ đã tạo ra các khối liên minh gồm các ALLIGATOR trên các tàu khác. Thế nhưng, nhóm này lại được cho là không có tiếng nói hơn cả trên phi thuyền. Ở thời điểm mà nhu cầu được đảm bảo các yêu cầu tối thiểu để sinh tồn, ALLIGATOR phát triển nhưng không mạnh mẽ, do mọi thứ đều được bao cấp. Nói một cách chính xác, họ điều hành các đại lý phân phối sản phẩm và hệ thống nhà hàng.

Ba nhóm này đều tuân theo một nguyên tắc bất di bất dịch, đó là không được phép tiết lộ tên thật của mình cho người khác, kể cả là những người trong cùng một nhóm với mình. Tên thật của họ chỉ có duy nhất ba người được biết, đó là bản thân họ và cha mẹ. Mọi người chỉ gọi những người đã chết bằng tên thật mà thôi.

Có thể nói, ở thế giới này, họ phải chết để được sống là chính mình.

Để hoạt động, họ sử dụng các bí danh. Trong xã hội hậu Akapolypse, các bí danh này được trao truyền từ thế hệ trước qua thế hệ sau như một món tài sản thừa kế. Do đó, chúng ta có Megalodon Cha và Megalodon Con, được dùng để gọi tên hai cha con nhà Megalodon. Các bí danh đều được dùng theo cha và sau khi người cha qua đời, cái tên sẽ được trao lại hoàn toàn cho người con.

Các bí danh được sử dụng cho từng nhóm là tên của các loài, tương ứng với SHARK, WHALE, ALLIGATOR, lần lượt là cá mập, cá voi và cá sấu. Như một lẽ tất yếu, chúng ta luôn có một số cái tên khá nổi bật. Carcharocles Megalodon, Helicoprion, Ghost Shark và Ethereal Snailfish của SHARK; Aulophyseter, Brygmophyseter Shigenis, Zygophyseter Varolai, Cetotherium và Livyatan Melvillei của WHALE; Rhamophosuchus và Deinosuchus của ALLIGATOR chính là những cái tên này. Cùng nhau, họ xây dựng một cuộc sống chưa thể nói là thịnh vượng, nhưng an toàn cho những nhân loại còn lại sinh sống.

Cho đến một ngày, nhà Livyatan phản bội.

Livyatan không đồng ý với các mà xã hội chuyển động, do đó đã đứng lên kêu gọi mọi người đi theo mình, thôn tính ba phi thuyền và lập nên một đế chế mang tên El Demonio Negro, được biết tới rộng rãi hơn với Black Demon ở phía Tây và Hắc Quỷ ở phía Đông so với Trái Đất cũ. Một thời kì không chính thức được công nhận, tuy vậy vẫn được ghi chép lại trong lịch sử loài người, đã bắt đầu – Giai đoạn El Demonio Negro do nhà Livyatan thống trị. Các cuộc chiến liên miên nổ ra gây nên vô số tổn thất cho cả hai phía. Số lượng tù binh trong các nhà tù không gian đã lên với hàng trăm nghìn người. Đã đến lúc cần phải đặt dấu chấm hết cho thời kì loạn lạc này. Dù biết rằng nếu xã hội không loạn thì lòng người cũng sẽ loạn, nhưng không thể nhắm mắt làm ngơ trước những sinh linh vô tội phải bỏ mạng vì sự tham lam và ích kỉ được.

Hậu duệ thứ mười của nhà Ghost Shark cho rằng, chỉ khi các hậu duệ ưu tú nhất của các nhà thuộc cả ba nhóm này hợp sức với nhau, họ mới có thể đánh đuổi được Livyatan khỏi ngôi vương mỗi lúc một vững chắc của chúng.

Meg, Ceto, Varolai, Aul, Shigenis, Rham, Coprion, Deino, Eth, tôi không thích câu này lắm vì WHALE không hẳn là gu của tôi, nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta có một chút khẩn cấp.”

____________________________________

Chú thích:

– Megalodon: Một loài cá mập đã tuyệt chủng sống cách nay khoảng 15.9 tới 2.6 triệu năm, vào thời kỳ Đại Tân Sinh. Việc phân loài của C. megalodon là đề tài tranh luận trong gần một thế kỉ, và vẫn chưa thống nhất. Hai các phân loại phổ biến là Carcharodon Megalodon và Carcharocles Megalodon. Cái tên “megalodon” được dịch trực tiếp qua tiếng Anh là “big tooth”, tức răng to. Kết quả đo đạc mẫu hoá thạch cho thấy, một chiếc răng của Megalodon trưởng thành có độ dài trung bình 17,8cm và sức nhai của loài này gấp ba lần T-Rex. Megalodon trưởng thành có kích thước lên tới 60ft, tương ứng với 2 chiếc xe buýt nối đuôi nhau và có thể nặng tới 70 tấn.

– Helicoprion: Một loài cá bạch đàn eugeneodontid đã bị tuyệt chủng, cá mập. Hầu như tất cả các mẫu hóa thạch đều là các răng của cá nhân, được gọi là “răng xoắn trôn ốc” – xương sọ sụn, xương sống và các yếu tố cấu trúc khác chưa được bảo tồn trong hồ sơ hóa thạch. và hành vi.

– Ghost shark: Cá sụn thuộc phân lớp Holocephali. Cá mập, tia và giày trượt là những thành viên khác của nhóm cá sụn và được phân nhóm theo phân lớp Elasmobranchii. Các tên thay thế bao gồm cá mập voi, makorepe, cá trắng, chimaera cày mũi, hoặc cá voi. Cái tên Ghost Shark được đặt dựa trên một đặc điểm vô cùng đặc biệt của loài cá mập này, chính là loài này bị mù hoàn toàn.

– Aulophyseter: Một loài tuyệt chủng từ các thành tạo Miocen ở bờ biển phía tây và phía đông của Bắc Mỹ, cũng như vùng Patagonia của Nam Mỹ. Aulophyseter đạt chiều dài xấp xỉ 20ft với trọng lượng cơ thể ước tính là hơn 1 tấn. Thường sống thành đàn.

– Brygmophyseter: Một chi cá tuyệt chủng của cá voi có răng. Khi được mô tả lần đầu tiên vào năm 1994, loài này được đặt trong chi Scaldicetus dựa trên hình thái răng. Từng đứng đầu chuỗi thức ăn.

– Zygophyseter Varolai: Một loài động vật biển có vú đã tuyệt chủng, tương tự như cá nhà táng, dài tới 20ft. Loài cá này có hộp so bất đối xứng với khả năng tạo ra âm thanh tần số cao và định vị bằng tiếng vang.

– Cetotherium: Một loài cá voi đã tuyệt chủng, họ Cetotheriidae, là “con mồi” được Megalodon ưu tiên cho “bữa sáng” của mình.

– Livyatan Melvillei hay còn gọi là siêu cá nhà táng: Một thành viên đã tuyệt chủng của bộ cá voi có răng thời tiền sử và được xem là loài cá voi có răng to lớn nhất từng biết, sống cách đây 13,6 đến 11,6 triệu năm.

– Rhamphosuchus: Một loài cá sấu lớn đã tuyệt chủng, gần giống với cá sấu ngày nay, sinh sống ở tiểu lục địa Ấn Độ trong Kỷ Miocen. Nó chỉ được biết đến qua các bộ hóa thạch chưa hoàn chỉnh, chủ yếu là răng và hộp sọ. Được coi là một “vận động viên bơi lội” xuất sắc nhờ cái đuôi đặc biệt dài và khoẻ.

– Deinosuchus: Một chi cá sấu đã tuyệt chủng, loài này từng sinh sống 80-73 triệu năm trước, vào cuối kỷ Creta, dài 60ft, nặng 50 tấn. Tên gọi có nghĩa là “cá sấu khủng khiếp” và có gốc từ tiếng Hy Lạp cổ δεινός/deinos và σουχος/suchos. Hóa thạch đầu tiên được phát hiện ở Bắc Carolina, được đặt tên và mô tả năm 1909.

– Ethereal Snailfish: Một loài cá sống dưới đáy sâu nhất của Rãnh Mariana, được coi là đáy sâu nhất dưới đại dương mà con người khám phá được. Không phải một chi của loài cá mập.

____________________________________

Location: Earth 95.

(Địa điểm: Trái Đất 95.)

Dù không nói ra, nhưng ai cũng ngầm hiểu rằng bây giờ nhà Livyatan mới là những kẻ thống trị thực sự. Và phải thú thực một điều, nếu như Livyatan là một con quái vật trong truyền thuyết khiến cho ngay cả ác điểu vần vũ bầu trời hay mãnh thú quần thảo mặt đất cũng phải ghê sợ, thì chắc chắn nó sẽ hút toàn bộ nỗi sợ trong toàn vũ trụ để duy trì sự sống kinh hoàng bên trong cơ thể cường tráng kia. Kì thực, hẳn thức ăn của hắn phải là nỗi kinh hồn bạt vía, vì ở khắp nơi trong vũ trụ và trên các phi thuyền, không một thứ vật chất gì dư thừa hơn nỗi sợ đang từ từ gặm nhấm sức chịu đựng của con người – sinh vật luôn gào thét vì cơn đói quặn thắt như một lưỡi cưa nghiền vụn từng chút một những gì còn sót lại trong cái dạ dày lép kẹp đang có dấu hiệu của một sự teo lại đầy ám ảnh cùng cái đầu nhồi rơm dần dần tỏ rõ sự ngu muội – còn Livyatan thì lúc nào cũng được no say.

Điều khiến cho Livyatan có thể thu phục được rất nhiều người đi theo mình, chính là “đúng”. Hắn nói đúng.

Hắn nói đúng về việc thể chế xã hội đương thời, hay thể chế chưa từng có lấy một sự thay đổi để bắt kịp sự phát triển của con người trong suốt giai đoạn hậu Apokalypsis đang bộc lộ quá nhiều nhược điểm. Con người không thể chấp nhận việc sống như ngày hôm nay không có gì khác biệt so với cuộc sống của thế hệ cha mẹ mình, ông bà mình, tổ tiên mình, tất cả những thế hệ nối tiếp nhau tìm cách gây dựng một mô hình tổ chức, một phương thức tồn tại thách thức cả sự huỷ diệt và rời bỏ Trái Đất. Trước đây, con người cần nhất là sự an toàn, và tất nhiên, mặc dù tình dục cũng là một trong các nhu cầu này, nhưng bản năng sơ khai ấy đã tỏ rõ sự lép vế trước nhu cầu có một sự đảm bảo về thức ăn, nước uống, phục trang, nơi cư trú, thuốc men. Sau khi những khía cạnh này đã được coi là tương đối đủ đầy, con người bắt đầu hướng tới những nhu cầu cao hơn, có sức khoẻ, thân thể được đảm bảo, có việc làm ổn định, có một gia đình. Kể cả khi không cần phải thực hiện việc sinh sản nữa do đã có máy thụ tinh nhân tạo – thứ vẫn luôn được đem ra đùa cợt như là nhà máy sản xuất trẻ con cỡ nhỏ – thì con người vẫn khát khao gắn bó với một ai đó và cùng người khác sẻ chia vui buồn. Nhưng những người đứng đầu không đưa ra bất cứ một cải cách nào.

Con người bị cấm đoán về hôn nhân để có thể tập trung toàn lực cho lao động để đảm bảo cuộc sống và nâng cấp hệ thống phi thuyền. Họ được quyền quan hệ tình dục, thậm chí có hẳn một khu vực để phục vụ cho nhu cầu này. Thế nhưng, họ phải uống thuốc tránh thai, luật này áp dụng cho cả nam lẫn nữ. Lí do được chính phủ đưa ra chính là những người đang mang thai không thể làm việc trong các phòng thí nghiệm hay nhà xưởng, khiến cho nhân lực thị thiếu hụt và giảm năng suất công việc. Hơn thế nữa, để kiểm soát việc quan hệ được điều độ và trong khuôn khổ, mỗi người chỉ được ra vào khu vực này tối đa ba lần trong một tuần.

Thôi thì dù sao, nhu cầu của con người cũng không chỉ xoay quanh tình dục, vả lại mọi người cũng đã quen với việc làm việc cường độ cao nên không dành nhiều sự quan tâm cho đời sống cá nhân, cho nên một chút khắt khe về phương diện này không làm khó họ được. Nhưng chính phủ đã tỏ rõ sự bất lực của mình trong việc điều hành nhà nước và quản lý toàn bộ hệ thống vốn đã cực kì cồng kềnh của mình. Họ không biết phải triển khai các kế hoạch duy tân ra sao, nên họ chấp nhận để mặc mọi thứ như vậy. Và thực tế đã chứng minh, mọi cỗ máy đều cần được tra dầu và thay đổi linh kiện định kì, nếu không thì dù có hiện đại đến đâu, chúng cũng sẽ hỏng hóc.

Con người luôn có một nhu cầu, đó là được sáng tạo và thể hiện bản thân, bên cạnh đó là nhu cầu thưởng thức văn học, nghệ thuật cùng nhu cầu giải trí. Dưới thời hậu Apokalypsis, con người được khuyến khích sáng tạo để kiến thiết một mạng lưới đồ sộ các phi thuyền và tàu không gian, mạng không dây cũng được cải tiến liên tục, các thiết bị cũng không hề bị tụt hậu, công nghệ ngày một phát triển. Nhưng việc được công nhận giá trị của bản thân lại không hề được chú trọng. Mọi phát minh, phát kiến đều được ghi lại trong hệ thống, nhưng không hề xuất hiện tên riêng của bất cứ một ai. Không một ai cả. Bộ luật cực kì hà khắc về bảo mật tên riêng đã khiến cho nhiều nhà khoa học đau đớn khi tên mình không được đặt một cách trang trọng bên cạnh những thành quả tuyệt vời mà họ đã đạt được. Dùng chung một cái tên với cha mình, anh trai mình, em trai mình, và thế là không một ai biết được chính mình – chứ không phải một ai khác – là chủ nhân của những sản phẩm mà nhiều thế hệ sau vẫn còn sử dụng. Không một giải thưởng nào được trao để khích lệ, cổ vũ tinh thần họ. Ban đầu, họ vẫn rất hăng say, miệt mài nghiên cứu với mục tiêu khiến cuộc sống của con người bớt phần chật vật. Tuy vậy, không một ai lầm lũi cống hiến cả đời như vậy được. Ngay khi đời sống tinh thần không được chăm lo, con người sẽ mất đi thú vui hưởng thụ cuộc sống. May mắn thay, con người có nghệ thuật. Không may thay, trong thời hậu Apokalypsis, nghệ thuật chết yểu.

Hắn đã nói đúng về việc ở đây, con người có tồn tại nhưng không sống, mà kể có có được sống thì cũng không thấy hạnh phúc. Không âm nhạc, không hội hoạ, không điêu khắc, không kịch nghệ, không điện ảnh, không múa, không nhảy, không ảo thuật, và không văn chương, tức là không thơ, không truyện ngắn, không tiểu thuyết. Toàn bộ sách được lưu hành trên các trang mạng mà công dân trên các phi thuyền được truy cập chỉ có các tài liệu nghiên cứu khoa học. Các môn khoa học xã hội không được chú trọng, không có gì mới lạ vì từ trước đến nay, các học giả thuộc lĩnh vực này đều bị cho là vô dụng, không có đóng góp gì cho xã hội mà chỉ giỏi lí thuyết suông. Tuy vậy, việc xoá bỏ không còn một dấu vết các tác phẩm có giá trị đã được lưu giữ từ hàng ngàn đời trước và cấm đoán con người giải trí đã khiến sự bất mãn mỗi lúc một dâng cao. Như một lẽ tất yếu, con người phản kháng. Đánh trúng tâm lí ấy, không khó khăn để Livyatan có một đội quân hùng hậu kề vai, sẵn sàng vì mình mà chiến đấu. Những người đó cho rằng, chiến đấu dưới trướng Livyatan đồng nghĩa với đứng lên giành lại quyền cơ bản của mình: quyền được sống thật tử tế.

Hắn cũng đã nói đúng, khi chỉ ra cho tất cả thấy rằng họ đang sống một cuộc đời vô nghĩa ra sao. Cứ như thể chỉ riêng việc không sống trên mặt đất chưa đủ khó khăn vậy. Mọi thú vui đều bị dập tắt. Những đứa trẻ sinh ra trong những chiếc máy tạo trẻ con kia chỉ có thể ngắm nhìn cuộc sống trên Trái Đất thông qua những thước phim tư liệu được lưu trữ trên hệ thống máy tính và tưởng tượng mình đạp xe trên đường vào những ngày chớm thu, bước đi thật nhanh trên phố vào một sáng mùa đông lạnh tê tái, hân hoan ngắm nhìn một bông hoa nở rộ trong tiết mưa phùn lất phất ngày xuân, chạy trên bãi cát hay nằm dài bên bờ biển vào một chiều hè đầy nắng và gió. Chúng hình dung ra những lớp học với dãy bàn ghế chạy dài, khi mà người ta vẫn dùng tới bảng và phấn. Chúng mường tượng ra những buổi hoà nhạc, những vở kịch nói, những dàn nhạc giao hưởng mà có lẽ cả cuộc đời sẽ không bao giờ chúng được tận mắt nhìn thấy. Chúng hạnh phúc khi nghĩ đến những món đồ chơi từ lâu đã không còn tồn tại trong thế giới mà mình biết đến. Chúng vui vẻ khi nhìn ra bên ngoài các khung cửa rồi tự huyễn hoặc bản thân rằng ngoài kia không phải chỉ có bao la mịt mù và vô biên vũ trụ, mà là bầu trời. Một bầu trời xanh và những đám mây trắng bông như lông cừu, lại một khung cảnh chúng không có cơ hội biết đến, lại một loài vật chúng chưa nhìn thấy một lần nào.

Chúng mê mẩn những vì sao cùng sự tráng kiện của mênh mông bể sở quanh mình. Chúng thích thú với những tri thức mà chúng được học về thế giới bên ngoài phi thuyền, và luyện tập chăm chỉ trong điều kiện khắc nghiệt với những tiêu chuẩn trời ơi đất hỡi để một ngày kia được tròng bộ đồ bảo hộ lên người mà dạo chơi trong không gian. Nhưng chúng cũng đem lòng yêu một thế giới tuyệt đẹp của cha ông chúng. Mặc dù Trái Đất với chúng thật xa lạ và không hơn không kém một hành tinh đã không còn tồn tại, nhưng bên trong chúng, hình như vẫn cuồn cuộn ý thức của thế hệ đi trước. Trái tim chúng và trái tim của tổ tiên, từ xa xưa đã chung một nhịp đập, nên chúng biết yêu ngay khi mới lọt lòng, yêu lấy con người, yêu lấy sự sống, yêu lấy thế giới. Chỉ tiếc một điều, chúng từ chối hiểu rằng không ai có thể sống trong thế giới ấy thêm một lần nào nữa. Điều này không phụ thuộc vào việc chúng muốn hay là không, rồi chúng tài giỏi tới đâu, thông minh cỡ nào. Mọi thứ dường như đã biến mất chỉ sau một đêm, và chúng không thể làm gì để thay đổi sự kiện ấy. Will-O’-the-Wisp, hay hậu Apokalypsis, hay El Demonio Negro, đều chỉ là một sự vớt vát của con người bằng cách nhặt nhạnh những mảnh vụn của một hành tinh đã vỡ tung thành từng mảnh và cố gắng ráp chúng lại với nhau rồi hú hoạ rằng đó là Trái Đất mà họ từng biết.

Tất cả những gì còn sót lại, là những lồng kính có lắp đặt các nút điều khiển. Con người chui vào trong đó và tự lừa mình dối người, rằng mình vẫn có thể tắm mình trong ánh nắng hay xoè bàn tay hứng lấy những bông tuyết bay bay trong không gian chỉ để bẽ bàng nhận ra mọi thứ đều xuyên qua bàn tay mình. Đồ hoạ, thực tế ảo, một xã hội hiện đại với công nghệ phát triển, mọi thứ đều thông minh, duy chỉ có con người là ngu ngốc.

Những bộ luật nực cười đã không còn khiến người ta thoả mãn, một thế giới đầy sự kìm kẹp tới mức ngột ngạt và khó thở gây nên sự chán chường cùng thất vọng của chính những người đã một thời hài lòng chấp hành nó, tuân theo nó, và có khi là cả những ai đã có công tạo ra nó. Không còn nghi ngờ gì khi nói rằng Livyatan sẽ không bao giờ lôi kéo được nhiều người tới như vậy nếu thiếu đi sự mục ruỗng của xã hội này. Một xã hội tồn tại trên những phi thuyền, nơi bọn trẻ hoàn toàn mất đi khái niệm về các phương tiện giao thông vì thứ duy nhất mà chúng biết là tàu vũ trụ, nơi mà mỗi khi ra khỏi “nhà”, người ta lập tức phải mặc đồ bảo hộ nếu như không muốn bị xé nát bởi chênh lệch áp suất bên trong và bên ngoài cơ thể, bị chọc thủng cho mấy lỗ trên người vì các vật thể dịch chuyển với vận tốc đúng nghĩa là “không gì cản nổi”, bị đóng đá như cá đông lạnh ở mức nhiệt -270 độ C, hay thiếu dưỡng khí mà chết, hoặc nhiễm xạ từ các tia vũ trụ rồi bị chính các tia ấy nấu cho chín nhừ để được chết một cách thảm thương hơn.

Một xã hội mà các môn học tự chọn được đưa vào chương trình giáo dục là Toán học, Vật lý ứng dụng, Vật lý hạt nhân, Cơ học lượng tử, Hoá học lập thể, Địa chất học hành tinh, Công nghệ sinh học, Di truyền học, Sinh lý học, Giải phẫu học, Khoa học thần kinh, Y học, Kĩ thuật hàng không vũ trụ, Kĩ thuật máy tính, Công nghệ phần mềm và chỉ có hai ngành duy nhất thuộc nhóm khoa học xã hội là Nhân chủng học và Ngôn ngữ học. Không một môn năng khiếu nào, ngoại trừ thể dục hay đúng hơn là huấn luyện bọn trẻ trở thành những vệ binh dải ngân hà, và chỉ cần tỏ ra yếu kém, chúng sẽ bị khép tội. Tất nhiên, không phải tử hình. Nhưng chúng sẽ phải làm việc trong các xưởng chế tạo vũ khí và tàu vũ trụ hơn tám giờ đồng hồ, mỗi ngày, nếu như không đủ khả năng chen chân vào các phòng thí nghiệm hay chiếm được một cái ghế trong Hội đồng.

Một xã hội với hình thái, cơ cấu, thiết chế cần được cải tổ, và muốn có một cuộc cải tổ thì trước đó phải có một cuộc cách mạng.

Nhét đồng xu vào khe hở trên máy rồi đặt ngón trỏ lên máy quét dấu vân tay, người đàn ông dõi mắt nhìn lên màn hình trước mặt mình vụt sáng. Một người phụ nữ xuất hiện trên màn hình. Phía sau lưng bà, có thể nhìn thấy ánh sáng cuối cùng của một ngày đương bước vào thời khắc tàn lụi. Héo hắt, mỏi mòn và tang tóc, những nếp nhăn trên khuôn mặt bà mỗi lần hiện lên trên màn hình lại như mỗi lúc một hằn sâu. Nụ cười đông cứng lại, miệng cũng méo xệch đi, xiêu vẹo đi, và rồi nước mắt ứa ra. Nước mắt bà lăn dài trên má, nhỏ tong tỏng xuống cả cằm. Không buồn lau nước mắt, bà mấp máy môi nói ba tiếng “Mẹ yêu con” rồi gượng gạo vẫy tay chào tạm biệt với máy quay. Nhìn ra vai bà, nắng đã tắt hẳn. Hay nói đúng hơn, bà đã nhấn nút tắt ứng dụng thực tế ảo bên trong lồng kính. Hình ảnh người phụ nữ mờ dần đi rồi biến mất, để lại màn hình tối đen đang hiện lên hàng loạt các con số, là ngày sinh và ngày mất, hẳn là của người phụ nữ. Không ai muốn nhìn thấy ngày mẹ mình qua đời cả. Lướt mắt nhìn qua các con số, anh giật thót mình, vội vàng quảnh mặt đi.

Bặm môi, anh đưa tay lên quệt khoé miệng. Máu. Đến bây giờ anh vẫn có thể cảm nhận được mùi máu tanh trong miệng mình. Để có được đồng xu kia và xem lại đoạn băng ghi hình giây phút cuối cùng của mẹ mình, người đàn ông đã phải thể hiện mình là người xứng đáng nhất. Hạ gục người khác. Đánh bại họ. Đo ván những người khát khao được một lần nữa nhìn thấy khuôn mặt cha mẹ mình, anh chị em mình, vợ chồng cùng con cái mình. Đè bẹp họ cùng niềm tin và hi vọng của họ. Để có được cơ hội, cần phải chớp lấy thời cơ. Những kẻ thất bại luôn do dự vào giây phút quan trọng nhất, và sơ hở cũng từ đó mà lộ ra. Đúng lúc đó, chỉ cần một cú gạt chân, một cú đánh móc thôi, đối thủ sẽ buộc phải cúi đầu chịu thua.

Đạp lên người khác để tồn tại, không phải là chiếm vị trí của người khác, mà là giành lấy chỗ đứng cho mình. Thực ra, nói vòng vo như vậy cũng chỉ là để giảm bớt cảm giác tội lỗi trong lòng mà thôi. Anh không cho phép mình chần chừ mỗi khi ra đòn, cho nên không được để lương tâm chịu cắn rứt với ý nghĩ mình đang tước đi của người khác một thứ gì đó. Áy náy, hối hận, suy cho cùng cũng chẳng để làm gì. Bởi vì dù có thế nào đi chăng nữa, nếu cho anh cơ hội lựa chọn lần nữa, anh cũng không ngại ngần giáng xuống một cú đấm dùng nhiều lực hơn và chuẩn xác hơn, để đối thủ ra đi trên võ đài chứ không phải là bị quy vào tội tử hình vì không-đủ-năng-lực.

Không đủ năng lực là một đòn hiểm hóc. Nó đánh thẳng vào lòng tự trọng và cướp đi một người đàn ông của gia đình. Người đàn ông trở về từ trận so găng không còn là anh ta của trước đây nữa. Có thể trong mắt mọi người, anh ta vẫn là một đặc vụ kì cựu, một cảnh sát đặc nhiệm khiến người khác kiêng dè, một nhân viên tình báo chưa từng để cho bất cứ ai lần ra danh tính thật của mình. Thế nhưng anh ta biết rõ hơn bất cứ ai, mình đang dần trở thành một con người khác. Bạo lực hơn, độc đoán hơn, tàn nhẫn hơn, nhưng cũng bền bỉ hơn, can trường hơn, gan dạ hơn. Anh đang chiến đấu trên mặt trận của riêng mình, cho nên anh nhất định sẽ không đầu hàng. Đầu hàng là chết.

Từ lúc biết tin mình sẽ không được tham gia vào nhiệm vụ tình báo lần này, anh ở lại Earth 95 – tức phi thuyền của mình – trong tâm trạng không mấy vui vẻ. Như một lẽ tất yếu, anh muốn được làm công việc mà mình giỏi nhất. Trà trộn vào giữa lòng kẻ thù, chiếm lấy lòng tin của chúng và đem tin tức có lợi về cho phe mình. Anh đã vượt qua mọi thử thách, mọi bài kiểm tra nói dối, nhưng phải nhận nhiệm vụ ở lại đây để nhận thông tin tình báo trong khi hoàn toàn có thể đặt chân lên một phi thuyền khác và đảm đương trọng trách không phải ai cũng làm nổi này. Từ sâu bên trong anh là cảm giác bức bối. Anh thấy mình không được trọng dụng, và không tài nào hiểu nổi vì cớ gì mà mình lại không được chọn. Càng nghĩ càng thấy khó chịu trong lòng, anh đến phòng tập nhiều hơn, thử hết một loạt các loại vũ khí, ngày đêm không ngừng nghỉ những muốn chứng tỏ mình xuất sắc hơn người khác, nhưng vẫn cứ phải thất thểu đi đi lại lại trong phi thuyền như người mất hồn.

Livyatan đã chiếm được ba phi thuyền và đang chuẩn bị tấn công các phi thuyền khác. Một ngày nào đó, hắn ta sẽ đưa quân của mình lên Earth 95, và họ buộc phải sẵn sàng cho mọi tình huống xấu nhất có thể xảy đến. Ở thời điểm này, thông tin tình báo đặc biệt quan trọng, thành ra anh đã phải thuyết phục bản thân rằng mình cũng đang đảm đương một phần của công việc nan giải này, nhưng thi thoảng, nỗi uất ức lại trào dâng. Nếu anh không đủ khả năng thì đã là chuyện khác, nhưng đằng này, tính theo bảng xếp hạng hiện tại, anh đang ở vị trí cao nhất trong số các điệp viên hai mang. Tất nhiên, bảng xếp hạng này chỉ có nội bộ nhân viên tình báo của Earth 95 được biết, nhưng như vậy cũng đã đủ để mọi ánh mắt đổ dồn về phía anh khi nhận ra anh vẫn quanh quẩn trong phòng thường trực. Họ thương hại anh, bất bình thay anh, nhưng cũng đưa ra những phỏng đoán về lí do anh không nhận một nhiệm vụ cụ thể nào, nói chung là họ đang làm những điều anh chúa ghét ngay trước mặt anh. Và họ biết là anh ghét điều ấy.

Một tuần nay, anh gần như ngày nào cũng tới đây. Chỉ khi ở đây, anh mới cảm thấy mình được là mình. Những cơn đau trên thân thể rồi cũng sẽ dịu đi, nhưng lòng anh lúc nào cũng như có lửa đốt. Nỗi căm phẫn đối với chế độ, nỗi đau mất người thân chưa từng một lần nguôi ngoai, giờ lại chồng chất thêm nỗi tức tưởi khi bị xem thường, bị coi như món đồ thải loại, người ta không cần nữa thì người ta ném ra một góc. Nghiến chặt răng, anh rút súng đeo bên hông ra, xoay người hướng thẳng về phía cửa ra vào.

Trần đời, ghét nhất đang suy nghĩ thì có người cứ nhìn chằm chằm vào mình.

Người đang đứng ở cửa lập tức giơ hai tay lên tỏ ý xin hàng, khoé miệng khẽ nhếch lên thành một nụ cười.

“Varolai, anh không ngại bỏ súng xuống rồi chúng ta cùng nói chuyện chứ?”

Nhìn người kia một lượt từ đầu tới chân, nhận thấy trên người không có chỗ nhét súng, chỉ có điều con dao găm mà đối phương nhét trong tất chân khiến anh không thể lơi là cảnh giác. Tự do ra vào khu vực này như vậy, lại có sinh trắc để mở cửa, chắc chắn không phải hạng xoàng xĩnh. Trang phục không có gì nổi bật, không để lộ thân phận hay cấp bậc, chiều cao trung bình, kiểu tóc phổ thông. Một người quá bình thường giữa tất cả những kẻ không bình thường trên phi thuyền này, cho nên trong mắt anh và rất nhiều người khác, người đang đứng trước mặt anh lúc này hoàn toàn không được tính là bình thường. Thậm chí, đối diện với một người như vậy lại càng không được khinh suất, nếu không bất cứ lúc nào cũng sẽ bị đánh một vố đau. Trên đời này, đáng sợ nhất là những người không cần cố gắng cũng tìm ra cách để không trở nên quá nổi bật trong đám đông. Người đó đi đứng như mọi người, nói năng như mọi người, ăn vận không khác gì mọi người. Nhưng chỉ cần tập trung quan sát, người khác sẽ phải sững sờ nhận ra từ trước đến nay mình luôn bị một cặp mắt âm thầm dõi theo mà không hề hay biết, luôn vướng vào những sự vụ mà ai cũng nghĩ chỉ là tình cờ, và kẻ đứng sau tấm màn ấy không ai khác ngoài kẻ hết mực bình thường kia.

Varolai cười khẩy một tiếng rồi tháo chốt an toàn. Bây giờ, súng đã sẵn sàng nhả đạn. Người kia, chỉ xét riêng về ngoại hình thôi cũng đã đủ để trở thành một nhân viên tình báo. Đừng nghĩ rằng một điệp vụ phải có ngoại hình khiến tất cả chú ý. Khiến người khác chú ý tới mình, hành tung càng dễ bị bại lộ.

Thấy anh có vẻ không chào đón mình, người kia thở dài đánh thượt cứ như ủ ê lắm rồi nói bằng giọng buồn buồn, nhưng nghe sao cũng ra ý giễu cợt vô cùng lộ liễu:

“Kìa Varolai, đừng như vậy chứ. Anh vẫn nợ tôi một lần mà, hẳn là anh chưa quên được đâu, nhỉ?”

“Có chuyện gì thì nói nhanh đi,” Kéo chốt an toàn, Varolai nhét súng vào bao đeo bên hông rồi phủ vạt áo xuống che đi, bình thản đáp trả như thể những gì người kia sắp nói chẳng hề hấn gì đến mình. “Tôi không có cả ngày cho anh đâu, Ghost.”

.

Location: Earth 95.

(Địa điểm: Trái Đất 95.)

Bật rồi tắt, tắt rồi bật. Con ngươi chuyển động theo từng khung hình lướt qua trước mắt. Suốt hơn một giờ đồng hồ, không gì có thể khiến y rời mắt khỏi hình ảnh ba chiều phát ra từ chiếc máy nhỏ xíu đã cũ kĩ tới mức phải liên tục giữ tay trên nút bấm để hình ảnh không thình lình tắt ngấm. Bật rồi tắt, bật rồi tắt. Trước mắt y, cả một khu rừng đang cháy ngùn ngụt. Lửa bốc lên, gió càng mạnh, lửa càng to. Lửa liếm vào thân cây, lửa cắt phăng những cành, lửa vặt trụi những lá. Lửa căm hận, lửa thiêu đốt, lửa giết chết tất thảy. Bật rồi tắt, bật rồi tắt. Sóng từ ngoài khơi nối tiếp nhau xô bờ, vội vã, vội vã, ì oạp, ì oạp, sóng nối sóng, sóng tiếp bờ. Sóng lên cao, lên cao mãi, cao tới mức không tưởng. Sóng nào có còn là con sóng nhỏ của ngày xưa nữa. Từ trong lòng biển, mặt đất bị xới tung, rạn vỡ, nứt toác. Từ trong tim biển, sóng cuộn trào. Sóng muốn hất tung tất cả, sóng muốn con người phải vì sóng mà đảo điên. Bật rồi tắt, bật rồi tắt. Một đứa trẻ bị nghiền nát trên đường tàu. Bật rồi tắt, bật rồi tắt. Xác chết được đặt nằm vắt ngang trên lưng ngựa. Ngựa chạy trên thảo nguyên. Ngựa hí. Ngựa hất tử thi trên lưng rồi vùng lên chạy. Ngựa bị mùi hôi thối làm cho quẫn, làm cho đau đớn. Ngựa điên.

Bật rồi tắt, bật rồi tắt.

Ghost nói rằng sẽ sớm quay về.

Bật rồi tắt, bật rồi tắt.

Ghost đã đi ba ngày rồi.

.

Location: Livyatan’s Prison No.17.

(Địa điểm: Nhà tù số 17 của Livyatan).

Không thể chối cãi được một điều, rằng Livyatan có lí do để xây dựng một nhà tù không có một điểm gì giống nhà tù này. Hắn ta thừa thông minh để hiểu được một điều rằng những cá thể đang bị giam giữ tại đây ghê gớm ra sao, và chỉ cần một người trong số họ thôi – nếu như có cơ hội tiếp cận hắn – đều có thể bằng một lưỡi dao mà đoạt mạng hắn và họ luôn sẵn sàng cho điều này. Thậm chí, ngay cả khi không thể tiếp xúc ở cự li gần thì tính mạng hắn vốn dĩ cũng luôn bị đặt vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc vì những mưu mô, những tính toán khó lường của hàng tá chiến lược gia, đặc vụ và lính đặc công bị bắt giữ làm tù binh trong các nhà tù của mình. Họ đủ khôn khéo để làm thân với cánh quản ngục, đội ngũ được cho là sắc bén và tinh tường nhưng luôn dễ dàng bị lôi kéo bởi những lời dịu dàng và từ tốn thốt lên từ những cái miệng đáng ra phải luôn văng lời tục tĩu. Họ cũng đủ khôn ngoan để không manh động ngay từ đầu mà tìm kiếm sự đồng cảm từ phía quản ngục trước rồi mới từ từ thực hiện ý đồ của mình, đó là có cơ hội lợi dụng “tình bạn” mới chớm nở kia để kiếm chác một chút sự dễ chịu, một chút sự tự do và tất nhiên là hoàn thành mục tiêu được đặt ra ngay từ khi mới bước chân vào buồng giam: vượt ngục.

Thế nhưng, nhà giam của Livyatan thì không cho bất cứ tù nhân nào cơ hội trốn thoát. Lí do rất đơn giản, và cũng rất khó tin. Tù nhân không muốn rời khỏi đây.

Ở đây, khái niệm “buồng giam” không tồn tại. Toàn bộ tù nhân đều được ở trong phòng riêng, và họ có quyền mở cửa để ra khỏi phòng bất cứ lúc nào mình muốn, để sang các phòng khác hoặc đi vào khu vực sinh hoạt chung, miễn là không cố gắng lẩn tránh sự theo dõi của các máy quay an ninh hay là tháo thiết bị định bị đeo ở cổ chân. Họ có thể tham gia nhiều hoạt động khác nhau, như là chơi cờ, chơi bài, giải câu đố, và toàn quyền sử dụng hệ thống phòng tập luyện được trang bị tất cả các thiết bị hiện đại nhất có thể tìm được trong vũ trụ. Đặc biệt hơn, để được sử dụng lồng kính trong vòng hai giờ đồng hồ, họ chỉ cần đánh bại người khác trong một trò chơi thực tế ảo là được.

Mỗi ngày, các tù nhân đều được lần lượt đưa đến khu vực trò chơi. Họ chỉ cần đeo kính VR và cầm các thiết bị là có thể bắt đầu chơi. Chỉ có điều, cảm giác đau đớn khi bị ăn đòn là thật. Nhưng điều đó cũng chẳng mấy quan trọng vì sau khi chơi xong, nếu thua, người ta cũng sẽ không mất mạng, và nếu thắng, tù nhân cũng không cần thấy dằn vặt vì đã khiến ai đó phải bỏ mạng chỉ vì lợi ích của mình. Điều này khiến cho nhà giam của Livyatan gần giống với một thiên đường nếu như đem ra so sánh với đế chế của những người đứng đầu hậu Apokalypsis. Ở một nơi mà người ta được chu cấp vừa đủ sự thoải mái và tiện nghi, có đủ cơm ăn ngày ba bữa, đủ quần áo để thay rửa ngày hai lần, không bị đánh đập, không bị tra tấn, không phải lo ngại quản ngục, không cần phải áy náy vì những gì mình đã làm vì thực chất họ không hề bị ép buộc phải làm gì quá đáng cả, không một ai tình nguyện chọn rời đi trừ khi tình yêu dành cho Tổ quốc đột nhiên trỗi dậy. Nhưng cũng không cần phải lo về việc đó lắm, vì không nhóm lửa mà xung quanh cũng không có gì dễ cháy thì không cần phải lo ngộ nhỡ lửa có bùng lên.

Bên trong các nhà tù của Livyatan, toàn bộ tù nhân đều được an toàn và nhạo báng thay, họ không thể phủ nhận chuyện mình đã sống một cuộc sống dễ chịu hơn hẳn so với bên ngoài nhà tù, tức là trên các phi thuyền mà họ coi là “Trái Đất”.

Trái Đất.

Thật nực cười khi họ gọi tất cả các phi thuyền theo đúng một cú pháp “Earth” đi kèm số hiệu của nó. Và cũng thật mỉa mai khi mà không một ai coi phi thuyền ấy là Trái Đất nhưng lại cứ thế gọi nó như vậy mà không biết ngượng là gì. Biết rằng loài người vốn là sinh vật không biết thế nào gọi là xấu hổ, nhưng đến mức độ và cường độ sự mặt dày trở nên thừa mứa như ngày hôm nay thì kể ra cũng đáng để bất ngờ.

Chúng ta dành không biết bao nhiêu thế kỉ để tiến hoá. Chúng ta đã bỏ ra biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt để tìm ra con đường đưa mình tới đỉnh cao nhất của sự phát triển. Chúng ta nắm trong tay vô số công cụ để phục vụ cho mục đích ấy của mình, và các giống loài khác đã phải hi sinh quá nhiều để chúng ta có cái quyền huênh hoang về một thứ giả tạo được gán mác lòng tự tôn khi là một phần của một giống loài đẳng cấp, trong khi bản thân hiểu rõ hơn bất cứ sinh vật nào tồn tại trong vũ trụ rằng mình thối nát ra sao. Không một cá thể loài người nào cho các sinh vật khác quyền được lựa chọn. Con người cứ thế tước đi quyền được sống của các loài khác như thể đó là điều hiển nhiên. Điều duy nhất được con người coi là chân lí chính là hành hình các loài khác trước khi bị chúng tiêu diệt. Với trí tuệ, với sự linh hoạt trong hành động, với sức mạnh của tinh thần bất khuất, con người đã tiến hoá đến mức cho rằng bản thân có quyền đứng đầu chuỗi thức ăn và thống trị cả bầu trời, mặt đất, biển khơi. Phải cho tới một ngày tự nhiên không thể dung túng cho loài người hơn được nữa, chúng ta mới quay lại lạy lục cầu xin một con đường sống. Con người chỉ khúm núm trước sức mạnh huỷ diệt của thiên nhiên khi sự tồn vong của mình bị đe doạ. Giống loài nghĩ rằng mình không sợ trời không sợ đất này không hơn không kém một loài ăn cháo đá bát nhưng luôn mặc định mình vượt trội hơn tất thảy các sinh vật khác trong vũ trụ.

Vũ khí mà con người có được chính là sự bền bỉ, trí tưởng tượng và hi vọng. Nhờ có tưởng tượng dẫn lối và định hình một thế giới tương lai chưa có thực, nhờ niềm tin sắt đá vào năng lực của giống loài mình cùng nỗ lực dùng ý chí vượt qua khó khăn, con người đã tạo nên các phi thuyền như một cứu cánh cho loài người bên ngoài vũ trụ và họ đã sống như vậy cả trăm năm. Con người chưa từng một lần giã từ quá khứ, và một trong những thứ họ quyết níu giữ chính là hi vọng vào những điều tốt đẹp. Để lưu giữ những điều tốt đẹp như thế và truyền bá chúng tới muôn đời, loài người sáng tạo ra nghệ thuật. Nghệ thuật nào có phải chỉ để giải trí. Nghệ thuật là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn con người và là con đường nhanh nhất của giáo dục đạo đức cho nhân loại. Không phải là nói quá khi mạnh miệng khẳng định rằng, không có văn học nghệ thuật, con người không là gì hết.

Giao tiếp là một phương thức đặc biệt mà con người sử dụng để kết nối với nhau, và chỉ khi giao tiếp, chúng ta mới tìm kiếm được điểm giao cắt giữa mình với đồng loại, mới có thể đoàn kết và cộng tác, như bao đời nay vẫn thế. Để có thể giao tiếp, có thể dùng tới rất nhiều cách khác nhau, trong đó có ngôn ngữ chữ viết, kí hiệu và ngôn ngữ hình thể. Văn học nghệ thuật chính là sử dụng triệt để các loại hình ngôn ngữ để giao tiếp với con người.

Đọc văn chương để thấy mình chu du tới những miền đất mà cả đời có khi không đủ điều kiện để đặt chân đến, để thấy mở ra trước mắt mình những khung cảnh, những không gian và thời gian, những khuôn mặt người, những cử chỉ dáng điệu, những lao động và tư duy, để nghe âm vang bên tai mình tiếng hát yêu đời của một anh thợ gặt, tiếng cười khúc khích đến là dễ thương của một cô thôn nữ, giọng nói hào sảng và đầy cuốn hút của một vị chủ tiếng, câu đùa hóm hỉnh ngộ nghĩnh của một anh lính trẻ, để giỏng tai mà lắng nghe tiếng suối chảy róc rách, tiếng ào ào thác đổ mưa nguồn. Xem kịch nghệ, xem điện ảnh để nín thở mà nghe như nuốt lấy từng câu thoại, mà lọc bỏ đi hết những thứ rườm rà, gột rửa bằng sạch lớp vỏ bọc bóng bẩy để lộ ra một khối ý tứ, một khối chân tình, để mà rùng mình khi tiếng nhạc cất lên, để lặng người khi nhìn thấy một mảnh đời lướt qua, để rơi nước mắt trước những thân phận mình chưa từng quen biết, ấy vậy lại thân thuộc tới lạ lùng. Thưởng thức một khúc ca để hồn mình hoà vào làm một với hồn người, để tường tận những gì mà thế hệ trước để lại phía sau, để thấm nhuần những xúc cảm khiến người ta run rẩy vì đồng cảm, để gửi vào trong lời ca một chút gì đó vỡ vụn, để đặt vào ca từ một chút gì đó đau thương nhưng đẹp đẽ tới vô ngần. Văn học nghệ thuật trước dạy ta cách làm người, sau bồi dưỡng ta nên người. Thiếu đi văn học nghệ thuật, chúng ta chỉ biết cách nói đúng mà không biết cách nói hay, chỉ biết cách sống đúng mà không biết cách sống tốt. Gạt bỏ văn học nghệ thuật, tức là nghiễm nhiên đem phương tiện có sức mạnh cảm hoá con người và khiến thế giới chúng ta đang sống trở nên mỗi ngày một tốt đẹp hơn ấy bỏ vào thùng rác.

Có thể coi thường các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học xã hội chỉ vì nhìn qua trông họ có vẻ lúc nào cũng thích lí luận chứ không mấy khi trực tiếp bắt tay vào cải tạo thế giới, có thể cho rằng việc thưởng thức nghệ thuật hàn lâm là vô bổ và tốn thời gian, vậy thì cũng có thể chà đạp lên hàng trăm, hàng nhìn những giá trị tốt đẹp và đáng trân trọng khác. Có thể khinh khi mà phát ngôn rằng những người không đứng trong phòng thí nghiệm thì chẳng cần phải vất vả, vậy thì hẳn là chưa từng nhìn thấy cảnh người ta phát khóc vì xúc động khi hoàn thành một tác phẩm văn học, chưa từng tận mắt chứng kiến những diễn viên múa với “bàn chân quỷ” đầy vết thương, chưa từng thấy những giỏi mồ hôi nhỏ xuống phím đàn khi một nghệ sĩ nhiệt huyết với bản nhạc đàn của đời mình, cũng chưa từng đau đớn khi nghe tin về cái chết của một diễn viên vì quá nhập tâm vào vai diễn mà đánh mất chính bản thân. Có rất nhiều người cống hiến tất thảy những gì họ có để góp công sức đúc kết nên bức tượng đài đồ sộ như một di sản văn hoá để con người vỗ ngực tự hào mình có gốc gác, tự hào mình không chỉ tiếp nhận những món quà có sẵn trong tự nhiên mà còn tạo nên phẩm cách của riêng loài người. Những người đã trọn vẹn mấy mươi thập kỉ làm nên điều kì diệu, không phải là để những kẻ không có học thức, nông cạn, phiến diện và bảo thủ coi như cỏ rác.

Những kẻ ngu dốt cho rằng lịch sử, địa lí, văn học và những thứ thuộc về văn hoá không có gì đáng để học và đáng để trọng thì không đủ tư cách nói chuyện cùng con người, chứ đừng nói là lên mặt dạy đời ai. Thật lạ khi có những người cho rằng chỉ có toán học cùng các môn tự nhiên mới có ích cho xã hội. Trước khi là những nhà phát minh, nhà khoa học, người ta phải là con người và để tạo nên một con người hoàn thiện với đầy đủ các phẩm chất để bắt tay vào nghiên cứu, chế tạo bất cứ một thứ gì, con người cần có lịch sử, địa lí, văn chương và khoa học xã hội. Không có lịch sử cùng những bài học kinh nghiệm tích luỹ được suốt hàng ngàn năm, chúng ta sẽ đánh mất cả hiện tại lẫn tương lai, nói không với mọi phát minh, phát kiến bởi một lẽ mọi thứ đều được bồi đắp thêm từ một nền móng vững chắc những gì lớp lớp thế hệ đi trước để lại. Không có địa lí với kinh độ, vĩ độ, chúng ta sẽ mất cả bầu trời, mặt đất và đại dương. Không có văn chương, chúng ta sẽ mất đi phương tiện giáo dục hiệu quả nhất cho lòng yêu nước, lòng nghĩa hiệp, lòng nhân ái, lòng vị tha, sự dũng cảm, tính trung thực và thái độ sống biết trân trọng những gì mình đang có. Không có khoa học xã hội, tức là không có nhân chủng học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, tội phạm học, tâm lý học, kinh tế học, luật pháp, chính trị học, xã hội học, không có nhưng yếu tố cần thiết để tổ chức xã hội và giữ trật tự xã hội. Tất cả những gì con người đang có dưới sự thống trị ngu xuẩn chỉ là một tương lai của sự đổ vỡ gần như là chắc chắn.

Một kẻ không biết gì về pháp luật mà dám làm hiến pháp, một kẻ không hiểu về kinh tế học mà dám điều khiển việc giao thương buôn bán, một kẻ coi thường chính trị học lại dám đứng một đầu chiến tuyến trong khi biết rõ đó là lĩnh vực mà phía bên kia đặc biệt thông tuệ, ba kẻ này có thể chỉ là một mà thôi, và chắc chắn sẽ đưa loài người đến chỗ diệt vong, một lần nữa.

Mỉa mai thay, trong nhà tù của Livyatan, mỗi ngày tù nhân đều được đọc tiểu thuyết và nghe nhạc. Họ còn không cần phải vào lồng kính để được sử dụng giấy vẽ và chì màu. Ở khắp mọi ngóc ngách trong nhà tù, người ta nghe thấy tiếng reo vang thích thú như trẻ nhỏ của những người đã từng cầm trên tay súng plasma, giờ đây lần đầu tiên khám phá ra niềm vui khi được cầm cọ vẽ. Chưa bao giờ trong suốt cuộc đời, họ thấy mình học một thứ gì với tốc độ nhanh tới khủng khiếp như vậy cho tới khi ghi nhớ ca từ của một bài hát. Họ đọc những cuốn sách và bật lên những lời cảm kích từ sâu trong lòng khi nhận ra sự tài tình của việc sắp xếp câu từ rồi ngộ ra vẻ đẹp sáng ngời của một con chữ in trên giấy. Họ chạm tay tới một kì quan mà từ trước đến nay dù có ngưỡng mộ cách mấy cũng chỉ biết đứng nhìn từ xa. Những người tù nhân được ban cho cơ hội sống một lần nữa, trọn vẹn hơn, nhiều màu sắc hơn và bình yên hơn. Họ hào hứng mỗi khi đến giờ sinh hoạt chung, vì họ biết mình sẽ được đến gần hơn với thế giới đẹp đẽ trong những vần thơ và những bức hoạ xứng đáng được lưu danh muôn thuở. Họ hồ hởi tập luyện cho các buổi công diễn, vì mặc dù chỉ là ở quy mô nhỏ thôi, nhưng Livyatan thường xuyên tới thăm các nhà tù và người ta thường truyền tai nhau về một giai thoại rằng, có một lần vì những bước nhảy của tù nhân, Livyatan đã đứng lên vỗ tay và cúi gập người để cảm ơn. Những người tù nhân không cảm thấy bị căng thẳng khi ở đây, dù rằng họ đau lòng khi biết ngoài kia vẫn là chiến tranh, là cướp bóc.

Chuyện tương tự chưa từng xảy ra trong giờ lượng tử, trong giờ hoá hữu cơ hay trong bất cứ một tiết học nào về ứng dụng công nghệ. Họ không cần thiết phải ngồi thẳng lưng và nhìn chăm chú vào màn hình, cố gắng tột cùng trong việc tỏ ra mình hiểu hết những gì được dạy nhưng thực chất chỉ là một phần mười số đó. Những người tù nhân được phép chọn tư thế mà mình muốn ngồi hay nằm và tuỳ ý sinh hoạt ở bất cứ vị trí nào trong phòng, chỉ cần khiến họ thấy thoải mái là được.

Ở trong tù mà lại được tự do tự tại, trong khi hoà bình tự do mà Apokalypsis hứa hẹn thì không khác gì một đế chế cầm tù.

Không một ai ở đây lại bị dồn ép tới mức đường cùng mỗi khi nghĩ tới các giờ kiểm tra lượng kiến thức đã thu nhận được. Không có một điều khoản nào trong luật lễ của Livyatan quy định họ sẽ bị xử chết ngay lập tức khi thua kém người khác. Không một WHALE nào phải đánh nhau – mỗi ngày, ý anh là mỗi ngày – chỉ để có cơ hội xem một đoạn băng ghi hình dài chưa tròn một phút ghi lại khoảnh khắc cuối cùng trước khi bị đưa đến pháp trường của người thân, điều mà rõ ràng là chỉ làm bùng lên nỗi hận thù trong lòng họ. Không một SHARK nào phải cặm cụi ngày đêm để chế tạo mọi thứ theo đơn đặt hàng của bộ máy cầm quyền đang nắm thóp mình nữa, họ được quyền độc lập nghiên cứu những gì mình muốn, đọc sách hàng ngày để tiếp nhận tri thức mới mà chắc chắn không được học khi còn ở các phi thuyền trong giai đoạn hậu Apokalypsis. Không một ALLIGATOR nào phải kinh doanh những mặt hàng mà mình thấy ghê tởm, tuân theo lộ trình đầy chết chóc để đi tới các phi thuyền khác mà kiếm vài đồng nuôi thân, liều mạng để có thể được đánh giá là đủ tiêu chuẩn công dân với năng suất lao động hiệu quả. Và đó là cách mà nhà tù của Livyatan đột nhiên trở thành nơi mà người ta muốn đến hơn cả. Họ coi đó như nhà mình trong khi trong mắt những người đang chờ đợi họ nơi “quê nhà”, họ là những tên phản bội.

Phản bội. Vấn đề không phải là phản bội điều gì, mà là điều ấy có xứng đáng với lòng trung thành của mình hay không.

Nội gián, họ có từng nghĩ đến chuyện phản bội tổ chức của mình hay không, nhất là sau khi tận mắt chứng kiến sự mục ruỗng của thứ mà mình được dạy là phải tôn thờ và nhận được quá nhiều tình yêu thương cùng sự tin tưởng ở thế lực bị cho là xấu xa, đê tiện và cần phải bị lật đổ? Điệp viên, họ có từng nghĩ tới chuyện mình đang tiếp tay cho một phe phái không chần chừ huỷ diệt tất cả những gì mình thề sẽ bảo vệ bằng cả mạng sống ngay khi có được thứ mình phải mất rất nhiều thời gian và công sức để tìm về cho thứ có vỏ bọc hào nhoáng – tổ chức? Những người lính phải lên đường ra mặt trận, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, họ có ý thức được mình có thể sẽ không góp phần trong viễn cảnh tương lai tươi đẹp mà họ đã cam đoan chắc chắn như đinh đóng cột trước đó? Những người nghĩ rằng mình đang hi sinh cho vợ chồng, con cái, anh chị em mình, liệu có từng một lần dừng lại và thử nghĩ xem liệu tương lai ấy có thực sự là những gì mà họ mong muốn có được để rồi thấy biết ơn mình vì đã trao cho họ cơ hội được sống hay không?

Điều mà chúng ta cất công chuẩn bị cho người khác, rất có thể bị người đó coi như một lời nguyền. Một đứa trẻ luôn tự trách bản thân nó rằng đáng nhẽ ra nó phải cảm thấy hạnh phúc và may mắn vì được đi học. Nhưng nó chưa từng một lần trong đời thấy hài lòng với những gì mà cha mẹ đã phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, có khi là giành giật của người khác để đem về mớm tận miệng cho nó. Nó muốn học vẽ, người ta giật lấy từ tay nó bảng màu và giấy trắng. Nó muốn học múa, người ta đem giày của nó thẳng tay ném vào đống lửa. Người ta đang huỷ hoại nó từ sâu bên trong chỉ bằng một nguyên do, đó là muốn “tốt” cho bọn trẻ. Họ muốn bọn trẻ có một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc sau khi chúng kiếm được một công việc hứa hẹn với tất cả những bằng cấp, những tri thức chúng lĩnh hội được ở trường. Nhưng tốt cho họ, đẹp mặt cho họ, thoả mãn cái ước muốn bệnh hoạn kiểm soát cuộc đời người khác vì không thể làm điều tương tự với những cơ hội mình có được, hay là tốt cho con cái họ, đẹp lòng con cái họ, thành toàn những khát vọng cháy bỏng mà con cái họ nung nấu suốt thời ấu thơ nhưng lại bị dập tắt một cách không thương tiếc bởi chính những người mà chúng nghĩ là phải thấu hiểu chúng nhất và cho chúng một sự cổ vũ, ủng hộ hết mình?

Dưới thời Apokalypsis, con người luôn bị đe doạ tính mạng bởi hai chữ “yếu kém”. Những kẻ thua thiệt người khác đều bị khép tội tử hình. Người già cả, người khuyết tật, người mang mầm mống bệnh tật, người làm việc kém hiệu quả, và cả những người trẻ tuổi đứng ở các vị trí cuối cùng trong tất cả các môn học đều có tội. Những bậc làm cha làm mẹ, vì thế mà hoảng hốt lo sợ nên lúc nào cũng thúc ép con cái mình phải học, học và học. Họ không muốn mất con, nên họ chẳng còn cách nào khác ngoài việc trở nên cực đoan như thế để đứa trẻ đến cả một chút chểnh mảng hay sa sút cũng không dám. Nhưng thực tế đã chứng minh, không phải đứa trẻ nào cũng chịu đựng được áp lực và theo đúng luật, chúng vẫn phải chết trong nỗi đau đớn, phẫn uất và rồ dại của cha mẹ. Và thực tế cũng đã vạch ra cho họ thấy, rằng để không làm cha mẹ mình thất vọng, để không phải mất mạng, con người phải nói đúng một câu là “không từ thủ đoạn” để lách luật. Chúng hãm hại những đứa trẻ khác để mình có được một vị trí cao hơn, để lấp liếm sự dốt nát và tha hoá bên trong mình.

Để thích nghi và tồn tại, bọn trẻ tự may cho mình hai chiếc áo. Một chiếc vạt trước ngắn hơn năm tấc để lúc cúi mình một cách đê hèn và nhục nhã trước mặt những kẻ cầm quyền thì vạt áo không quết đất. Một chiếc khác, vạt sau cũng bị cắt ngắn đi năm tấc, để lúc ưỡn ngực vênh váo khệnh khạng trước những kẻ bị mình đạp xuống dưới, áo cũng không vì chạm tới đất mà bị làm cho lấm bẩn. Không thể nào nói rằng con người biến thành quái vật chỉ vì những quy luật khủng khiếp của thế giới này được. Vì kể cả khi không có kiểu đánh giá con người thông qua hệ thống xếp hạng này thì trước đó, con người đã là một sinh vật giỏi lường gạt và dối trá rồi. Chúng ta luồn cúi những kẻ bề trên và luôn tìm cách nạt nộ những người bị cho là ở tầng thấp hơn mình như một hệ quả của nếp suy nghĩ mình là bậc tiến hoá cao nhất nên xứng đáng nắm quyền sinh sát trong tay. Từ xưa đến nay, con người vẫn tìm cách trục lợi từ sự đổ vỡ của người khác. Chúng ta bắt người khác phải hi sinh vì mình quá nhiều và coi đó là chính đáng. Giai đoạn hậu Apokalypsis và những người đứng đầu của nó chỉ khiến cho một bộ mặt khác của con người bị phơi bày mà thôi.

Nếu có thể, Shigenis cũng sẽ không đứng về phía Apokalypsis. Nhưng gia đình anh còn ở lại phía bên đó. Gia đình. Hai chữ này thôi, nhưng quá nhiều ràng buộc.

Đọc lại một lần cuối cùng nội dung tờ giấy được kẹp bên trong cuốn sách mà tay quản ngục vừa mới đưa cho mình, anh nhắm mắt lại hồi tưởng các vị trí trọng yếu trong sơ đồ nhà tù rồi lật giở các trang sách, tìm một trang có các chữ mình cần rồi nhanh tay dùng bút khoanh tròn lại. Kẹp cuốn sách vào giữa đống sách vở cùng giấy tờ trên bàn, Shigenis lẩm nhẩm đếm ngược thời gian mình phải ra khỏi lồng kính. Phía bên ngoài, hai tay lính gác đã bị hạ gục, chỉ còn lại tay quản ngục kia đang đứng đợi anh. Chìa tay đón lấy cuốn sách, người kia dõi theo khẩu hình miệng của anh rồi mở sách ra, nhìn lướt qua một lượt rồi gật đầu ra hiệu anh bám sát theo mình. Theo nội dung tờ giấy kia thì xem ra Varolai đã trà trộn vào đây thành công, vì trong đó ghi rõ anh chỉ cần theo chân Varolai ra ngoài là được. Trong hai chữ “gia đình” mà anh lúc nào cũng canh cánh, Varolai cũng xuất hiện và chiếm một vị trí quan trọng trong lòng anh. Nói ra điều này có chút ngượng, nhưng hoặc là người kia không phải Varolai, hoặc là khả năng hoá trang của Varolai đã lên một tầm cao mới khiến ngay cả anh cũng nhận không ra.

Nhanh chân bước theo để không bị bỏ lại phía sau, anh quan sát bóng lưng người kia, không kìm được mà cảm thán trong lòng một câu. Đến cả giả vờ tập tễnh khi không có ai xung quanh ngoài anh mà còn làm được, “chồng cũ” của mình bây giờ quá tài giỏi rồi. Nhưng niềm vui ngắn chẳng tày gang, Shigenis không có cơ hội mừng vui quá lâu.

Mặc dù đã cố che giấu, nhưng khi nãy lúc “Varolai” nhập mật khẩu để mở cửa, ngón tay bàn tay trái của người kia cũng giật giật cử động theo. Đây là biểu hiện của chứng khủng hoảng hoạt động phản chiếu, và anh biết cái tay điệp viên từng một thời đầu gối tay ấp với mình kia chẳng có một chút liên hệ gì với bệnh này.

Nắm lấy con dao bằng giấy lúc nào cũng giấu trong tay áo, Shigenis nín thở chờ cơ hội tấn công. Người kia đóng giả Varolai đến tìm mình, vậy thì chắc chắn không phải có mục đích tốt đẹp gì.

____________________________________

Chú thích:

Hiện tượng “khủng hoảng hoạt động mang tính phản chiếu”: Biểu hiện cụ thể và cũng phổ biến nhất là hoạt động của tay trái giống hệt hoạt động của tay phải và ngược lại. Các hoạt động của hai tay diễn ra đồng thời như được phản chiếu qua một tấm gương đặt ở giữa cơ thể. Các nhà khoa học thuộc Trường Đại học Montreal, Canada là những người đầu tiên phát hiện và nghiên cứu về dạng khủng hoảng này. Hiện tượng này có thể xuất hiện ở tay, chân hoặc là toàn bộ cơ thể người bệnh. Nguyên nhân căn bệnh xuất phát từ đột biến gen đã khiến cho quá trình tạo protein trong cơ thể bị đảo lộn hoặc cơ thể thiếu hụt một loại protein nào đó trong não bộ. Đây chính là nguyên nhân tác động trực tiếp đến hoạt động truyền tín hiệu trong não, đặc biệt là hoạt động truyền tín hiệu ở phần não trái, từ đó dẫn đến sự khiếm khuyết trong việc ra lệnh của não trái cũng như sự điều khiển của các bán cầu não đối với phần cơ thể bên trái và bên phải.

____________________________________

Location: Somewhere in The Heterogeneous.

(Địa điểm: Đâu đó trong Vùng Dị Thể).

Tong, tong!

Một giọt, hai giọt, dung dịch nhỏ lên tiêu bản.

Tong, tong!

Một giọt, hai giọt, chất lỏng nhỏ vào ống nghiệm.

Một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, Ghost vẫn chưa trở về.

.

Lạch cạch, lạch cạch.

Cửa đóng lại.

Bên ngoài lặng thinh.

Lạch cạch, lạch cạnh.

Bỗng chốc từ đâu nổi lên tiếng lao xao.

Lạch cạch, lạch cạch.

Ghost không thể trở về nữa.

.

Location: Farout, ALLIGATOR’s spaceship, Somewhere in The Miscellaneous.

Nearest Destination: Earth 95.

(Địa điểm: Phi thuyền Farout của ALLIGATOR, Đâu đó trong Vùng Hỗn Tạp.

Điểm đến gần nhất: Trái Đất 95.)

“Vậy tức là anh đang trên đường thực hiện nhiệm vụ hả?”

Vừa gợi chuyện, Rham vừa đưa cho người đang cố gắng dùng hết sức bình sinh mở túi hút chân không đựng thực phẩm kia một dụng cụ chuyên dụng, hiếu kì nhìn người kia loay hoay mãi mà không làm xong việc mà đến trẻ con cũng làm được. Phải chật vật thêm một lúc nữa, người kia mới cắt được miệng túi rồi tiếp tục ngồi ngây ra không biết phải làm thế nào để ăn được. Thấy mình không thể đứng ngoài nhìn mãi được nữa, Rham quyết định giúp đỡ người kia một phen. Cầm lấy chiếc túi, Rham bóp nhẹ dưới đáy túi một cái, dinh dưỡng được đóng dạng bánh lập tức được đẩy lên phía miệng túi. Trao lại chiếc túi cho người đang mắt tròn mắt dẹt nhìn từng động tác của mình, Rham gật đầu vẻ hơi áy náy.

“Anh chịu khó vậy nhé, sắp tới Earth 97 rồi.”

Vì chưa quen ăn thức ăn dinh dưỡng trong túi chân không thế này, người kia có đôi chút khó xử nhìn chằm chằm đang được đẩy lên từ miệng túi như thể dè chừng thú hoang. Cuối cùng, nhịn không được nữa, người kia bèn ghé miệng mà cắn một miếng. Thoạt tiên, anh cứ ngậm lúng búng mãi trong miệng mà không dám nuốt, đẩy miếng thức ăn hết bên nọ sang bên kia nhưng về sau cũng trệu trạo nhai, cơ mặt cũng giãn ra một chút. Thấy đồ trên tàu của mình có vẻ không quá khó ăn với người kia, Rham thở phào nhẹ nhõm.

Đồ ăn dự trữ ở trên tàu phần lớn là dinh dưỡng được xay nhuyễn rồi đóng thành bánh như thế này, còn lại là protein dạng lỏng, chỉ cần cắm ống hút vào là dùng được một bữa tương đối đủ chất, không lo thiếu năng lượng khi đi nhiều ngày liền mới tới các phi thuyền khác. Đối với Rham và Deino, những thứ này tương đối ngon lành và kể cả có không được hợp khẩu vị cho lắm thì họ vẫn phải ăn nếu như muốn sống sót tới khi giao dịch xong những món đồ chất đống trong phi thuyền. Nhưng những người đã quen với việc sử dụng thức ăn từ máy in ba chiều, tức là vốn không quen chịu cảnh cực khổ như thế này thì sẽ thấy hơi khó nuốt một chút. Rham và Deino tìm thấy anh chàng này ở gần Earth 95, với một tàu không gian trong tình trạng rõ ràng là không được ổn cho lắm. Nó trông tàn tạ đến độ khiến Deino phải sửng sốt bảo anh rằng chắc chắn một cơn bão thiên thạch vừa mới quét qua đây, nếu không thì thật khó để lí giải vì sao con tàu lại nát bươm như vậy.

Từ lúc lên tàu đến giờ, người kia không nói gì mấy. Hẳn là do vừa mới gặp người lạ, thành ra vẫn còn có chút ngượng ngùng. Nhưng Rham không muốn có thêm một nhân vật cả ngày không nói không rằng trên tàu của mình nữa, nên anh không thể không lên tiếng để phá vỡ sự im lặng gượng gạo này.

Ngồi xuống để khuôn mặt mình ngang tầm với người kia, Rham mỉm cười.

“Tôi là một Rhamphosuchus, anh cứ gọi tôi là Rham. Như anh cũng thấy đấy, tôi là thương nhân. Còn đằng kia,” Rham khoát tay về phía người đang điều khiển phi thuyền, người kia lập tức đưa mắt nhìn theo rồi cúi đầu chào lễ độ. “Kia là một Deinosuchus, cũng là thương nhân. Cậu ấy thích được gọi là Deino, nếu như anh không phiền.”

Thấy người kia gật gù xem chừng đã hiểu, Rham vui vẻ nói tiếp.

“Đi cùng chúng tôi còn có một người nữa, cũng là người của Earth 95 đấy.”

Nghe tới đây, mặt mũi người kia lập tức tái mét xua xua tay.

“Tôi không phải… không phải…”

“Sao cơ?” Thấy người kia hốt hoảng như vậy, Rham cũng chột dạ. Hướng về phía người kia, cậu trấn an. “Có chuyện gì à?”

Người kia đưa tay lên sờ sờ thuỳ tai, đoạn nuốt nước bọt nói nhỏ.

“Tôi không phải là người của Earth 95.”

Rham gật gù, nhưng trong lòng thì lấy làm lạ. Vì thấy anh ta ở gần Earth 95 nên anh mới cho rằng cuối cùng đã tìm được đồng hương cho cậu bạn im hơi lặng tiếng của mình, nếu không phải thì hẳn là đang đi đường rồi gặp nạn thôi. Không phải thì cứ nói là không phải, tự dưng chối đây đẩy thế này, ai cũng sinh nghi. Nhưng nghĩ lại thì từ trước đến nay Earth 95 vốn nổi tiếng là kỉ luật thép hơn hẳn các phi thuyền khác, đối với người cố gắng tìm cách trốn đi, hẳn là có biện pháp trừng phạt cực kì hà khắc. Người này nếu như có tìm cách rời khỏi Earth 95 thật đi chăng nữa cũng sẽ không chịu nói với anh, ngộ nhỡ có bị bắt về thì rất phiền hà, Nghĩ tới đây, Rham nhún vui cho là không có gì đáng để bận tâm lắm, bèn định nói qua chuyện khác thì Helicoprion bước ra.

Chắc là vì khi nãy nghe thấy có người nhắc đến mình nên Coprion mới rời khỏi phòng. Dù mới gặp được ít ngày nhưng cả Deino và anh đều công nhận rằng chưa thấy ai ở lì một chỗ được lâu như Coprion. Ừ thì cậu ta là một SHARK, cắm mặt ở trong phòng nghiên cứu không ai thấy mặt cả ngày cũng là bình thường. Nhưng Coprion thì khác. Y có thể chết dí một chỗ hai ngày liền, đến ăn uống cũng không màng đến. Thấy Coprion đứng chết trân một góc, Rham bèn đi tới kéo y lại gần.

“Đây là người khi nãy tôi nhắc tới. Là một Helicoprion.”

Trong lúc tập trung nhìn Coprion, Rham không để ý nụ cười nhàn nhạt của người kia, nhưng toàn bộ sự thay đổi thái độ ấy không hề qua mắt được y.

“Không lắp bắp nữa à?”

“Tôi… tôi…”

Chưa kịp vui mừng vì thấy cuối cùng cũng đã có người khiến Coprion mở miệng, Rham đã phải sững sờ trước câu nói của y. Dường như Deino cũng bị một câu kia làm cho giật mình. Cậu vội vàng ngoảnh lại tròn mặt nhìn sự căng thẳng vừa mới được thiết lập kia. Nhanh chóng chuyển sang chế độ tự lái, Deino đứng dậy đi về phía đám người đang tụ tập lại ở một góc phi thuyền, thì thầm với Rham như muốn hỏi rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra nhưng chỉ nhận lại một cái lắc đầu vô can của anh. Chỉ còn lại Coprion và người kia đấu mắt với nhau, có điều Deino và Rham không hẹn mà gặp, đều cảm thấy rõ ràng ván này Coprion đã thua trắng rồi. Người kia giữ nguyên nét mặt bình thản, xem ra không muốn diễn vai ngốc nghếch lâu hơn nữa. Đứng dậy phủi phủi áo quần cho bớt nhăn nhúm, người kia nhếch mép.

“Lâu rồi không gặp, Coprion.”

Trước sự choáng váng của Deino và Rham, Coprion quay lưng đi thẳng về phía phòng mình rồi khoá trái cửa lại. Nhìn sang người mới lên phi thuyền với một vẻ mặt nếu như anh ta không lập tức giải thích rõ ràng ngọn ngành đầu đuôi thì sẽ ăn một cước văng ra ngoài vũ trụ, Rham hắng giọng một tiếng, nét mặt nghiêm nghị tỏ ý đề phòng một cách rõ ràng. Deino cũng khoanh tay trước ngực mà cau mày nhìn người đang đứng trước mặt mình thay đổi một trăm tám mươi độ so với khi nãy rồi lại nhìn về phía cánh cửa phòng đã đóng chặt của Coprion, hất hàm một cái ra hiệu cho người kia mở miệng.

Cố tình lờ đi sự nôn nóng của hai vị thương nhân, người kia thong dong ngó nghiêng khắp phi thuyền. Dừng ánh mắt lại nơi cánh cửa đóng im ỉm kia, anh ta lặng lẽ cúi đầu. Đoạn như vừa lấy hết dũng khí, anh ta hít một hơi thật sâu rồi nhìn thẳng vào mắt Deino khiến cậu theo phản xạ mà giật lùi về phía sau một bước. Thấy vậy, Rham bèn giữ lấy cổ tay Deino, nhìn cậu từ đầu tới chân rồi lại nhìn người kia với một vẻ khó hiểu.

Thở dài một tiếng, người kia vừa nhàn nhạt cười tự giễu vừa bình thản trả lời thắc mắc trong lòng Deino và Rham như thể ánh mắt đượm buồn kia không biết nói.

“Coprion vẫn còn giận tôi vì đã giấu giếm cậu ấy. Nhưng tôi được giao nhiệm vụ riêng, cho nên đành phải đắc tội với người ta thôi.”

Rồi chợt nhớ ra mình chưa giới thiệu gì về bản thân, người ta đặt tay lên ngực trái, khẽ nghiêng người.

“Tôi là một Aulophyseter, tôi…” Nói tới đây, anh ta chợt khựng lại rồi suy nghĩ một lát, đoạn lắc đầu cười cho qua chuyện. “Tôi làm ở phòng quản lí công dân của Earth 95.”

Rham mở to mắt nhìn người kia từ đầu đến chân. Quay sang nhìn Deino, thấy vẻ sợ hãi trên khuôn mặt cậu, anh biết mình không nghe nhầm. Thì ra nhân vật này đến từ phòng quản lí công dân khét tiếng đó. Sự hắc ám của hệ thống đánh giá xếp hạng công dân mà Earth 95 áp dụng đã lan truyền khắp các phi thuyền, khiến người ta ăn không ngon, ngủ không yên. Đại khái đây là một hệ thống mà mỗi công dân sẽ được đánh giá dựa trên nhận xét của những người mà họ tiếp xúc tại nơi làm việc và tại các khu vực công cộng trên phi thuyền. Mỗi người đều có một thiết bị cảm ứng cầm tay để xếp hạng cho người mình vừa mới gặp gỡ hoặc các nhân viên làm việc cho mình – trong trường hợp là người đứng đầu một bộ phận nào đó trên phi thuyền. Trong trường hợp bị xếp hạng thấp, một công dân có thể bị giáng chức xuống các vị trí thấp hơn, được hạn chế trao đổi, buôn bán với các ALLIGATOR đến từ các phi thuyền khác, khẩu phần ăn mỗi ngày cũng ít hơn và khủng khiếp nhất chính là số giờ ngủ cũng bị giảm xuống. Nếu như bị xếp hạng thấp trong nhiều tháng liên tục, một công dân có thể bị đuổi khỏi Earth 95, tất nhiên là với một tàu không gian là lương thực đủ để không chết đói trước khi đặt chân lên được phi thuyền gần nhất. Khi họ tìm thấy Coprion và đề nghị cậu lên phi thuyền để cùng mình quay về Earth 97, chỗ lương thực đó vẫn còn khá nhiều chứng tỏ y vẫn chưa đi được bao xa thì đã gặp phi thuyền Farout.

Phi thuyền Farout của Deino và Rham đang hoàn thành chặng đường cuối cùng để về nhà. Họ đã đi từ Earth 97 tới Earth 90 để nhập hàng hoá và việc đón hai hành khách có nhu cầu đi nhờ không khiến hai vị thương nhân này thấy phiền hà cho lắm. Họ chỉ không nghĩ tới việc mình sẽ có cơ may được tận mắt nhìn thấy một nhân viên làm việc cho phòng quản lí công dân huyền thoại của Earth 95 thôi.

Như đọc được suy nghĩ của Rham và Deino, Aulophyseter giải thích.

“Công việc trước đây của tôi là huấn luyện cho lính đặc chủng. Tôi bị điều động sang phòng quản lí công dân vì để xảy ra sơ suất khi huấn luyện.”

Không hẹn mà gặp, Rham và Deino hít một ngụm khí lạnh. Huấn luyện lính đặc chủng… Huấn luyện lính đặc chủng… Huấn luyện lính đặc chủng… Cái này không phải khủng khiếp hơn rất nhiều sao? Rham cảm thấy hai tai mình hơi ù đi. Mỗi lời người này nói ra mỗi lúc một khủng bố.

Giữa thời chiến, mọi công việc trao đổi buôn bán ở các phi thuyền vẫn diễn ra bình thường. Ai cũng cần ăn, và ai cũng cần sống cả. Ai tự tin nói rằng ngoài kia chiến tranh nên mình không dám ra khỏi nhà nữa và cứ thế ru rú ở một góc cho đến lúc chết đói thì cứ việc làm theo những gì mình muốn, vì hình như chẳng mấy ai quan tâm lắm đâu. Do đó, bất chấp việc chiến tranh đang lan rộng ở một góc của vũ trụ, ở đây bầu không khí vẫn tương đối hoà bình. Không hiểu có phải là nhờ cái tên Earth hay không mà mọi chuyện diễn ra bên ngoài phi thuyền của mình đều bị con người coi là chuyện ở hành tinh khác. Chính nhờ thường xuyên đi khắp nơi khắp chốn trong vũ trụ như thế này, Rham và Deino đã không ít lần chạm mặt đội lính đặc chủng của các phi thuyền khác nhau. Họ gặp Farout trên đường đi ra mặt trận để cứu nguy cho quân của Akapolypsis đang thua thảm hại ở tiền tuyến, còn Farout đi ngang qua họ để tranh thủ tiếp tế cho họ nhu yếu phẩm trước khi lên đường. Trong mắt họ, Farout giống như một trạm lưu động, nhưng đối với Deino và Rhamm, những người không mấy khi tận mắt nhìn thấy các WHALE ngoài đời, đội lính đặc chủng giống như từ trong thần thoại bước ra vậy. Đoàn quân ấy tạo cảm giác không thực.

Không biết vì cớ gì, chỉ cần nhìn vào đôi mắt họ thôi, người ta cũng thấy như chất chứa cả một vũ trụ bi ai. Đoàn quân ấy giống như đoàn quân tử thần mà người ta triệu hỗi từ cõi chết. Họ đáng nhẽ ra phải an nghỉ từ rất lâu rồi, nhưng không một ai cho họ quyền được chết. Họ sống lại, chỉ để lao đầu vào chỗ chết thêm một lần nữa. Cứ như vậy, rồi lại tiếp tục như vậy. Sống chỉ để chết, chết rồi lại sống, sống rồi lại chết. Không ai bảo ai, họ cứ thế hiên ngang bước chân lên tàu vũ trụ sau khi chẳng để lại gì cho những người ở lại ngoài thứ hi vọng quái đản đến từ một lời tiên tri về sự tận diệt. Những người lính ấy, có khi đã ngã xuống hàng trăm, hàng ngàn lần rồi mới phải. Nhưng họ không trống rỗng. Đau đớn thay, mỗi lần được sống, họ đều cảm thấy nhiều hơn, đều yêu nhiều hơn và hận nhiều hơn.

Những người lính ấy, họ có thể xông pha tới bất cứ miền chết chóc nào chỉ vì sự an nguy của gia đình đang đặt trên đôi vai. Họ sẽ khóc rưng rức như trẻ nhỏ khi một người đồng đội bỏ mạng vì họ biết rằng sự hi sinh ấy không hề vô nghĩa. Họ dám hứa sẽ thay người anh em mình che chở cho một người từ nay về sau đã thành goá phụ, cho những đứa trẻ trong phút chốc thành trẻ mồ côi.

Người này, chính là thầy của những người đàn ông đi vào sử sách ấy.

Người này, chính là người dạy họ phải gai góc, phải can trường, phải nhìn về phía trước mà tiến lên, phải nhớ về phía sau mà tiếp tục, phải nhìn khắp chung quanh mà nén lại đau thương khi đồng đội mình phút trước, phút sau không thể cùng mình chiến đấu nữa. Người này, chính là người đã dùng những lời đanh thép nhất để cảnh tỉnh họ rằng chiến trường không phải là nơi cứ biết đường từ đó về nhà là muốn về lúc nào thì về. Người này, chính là đau đớn như tự tay móc gan móc ruột mình ra, nhưng không cho phép bản thân được phép gục ngã. Anh ta là chỗ dựa tinh thần cho quá nhiều người. Quá nhiều người tin tưởng giao phó cuộc đời họ cho anh ta, nguyện tôn anh là thầy, nguyện cung kính hướng về phía anh ta xưng hai tiếng “học trò”. Quá nhiều người dõi theo người đàn ông này, cũng như người đàn ông này muốn làm nhiều hơn thế nữa cho những ai muốn đứng trong hàng ngũ của mình.

Người khát khao làm nhiều việc như vậy, chỉ cần nhìn vào ánh mắt anh ta là thấy được hết cả những hoài bão, những hoạch định, những lí tưởng. Nhưng trong mắt Aulophyseter, không có gì ngoài nỗi u uất. Không phải là nỗi buồn man mác không tên của một kẻ trầm mặc hay một kẻ hận đời lấy trào phúng làm vui, mà là một nỗi đau quá rõ ràng. Anh ta đau lòng vì lúc mình vinh hiển không ai khen ngợi một lời, nhưng chỉ cần trong chốc lát sảy chân, mọi thứ đều tan thành mây khói. Bên trong anh ta chất chứa mặc cảm của một người đã từng sai và sợ rằng mình lại một lần nữa phạm sai lầm. Aulophyseter dè chừng mọi thứ, ngại ngần mọi thứ, không muốn cho người khác biết mình là ai, phải đến khi có người nhận ra mình mới đành thú nhận, nhưng rõ ràng cũng cố tình nói xẵng giọng để người ta nghe thoáng qua thì không ra một chút run rẩy lẫn trong những câu từ ấy. Có thể anh ta sợ rằng người ta sẽ nhìn thấu nỗi căm hờn mà anh ta bật ra trong mấy tiếng “Earth 95” đầy oan nghiệt ấy, có thể lắm chứ.

Đối với một người lính, không gì đánh bại anh ta nhanh hơn là nói rằng anh ta không đủ tư cách làm lính. Cắt chức, giáng chức, nào có phải đơn thuần là yêu cầu rời bỏ vị trí. Đó còn là chỉ thẳng mặt một người mà nói rằng anh ta không xứng đáng với những gì mà mình đang có, dù rằng mọi thứ đều do một tay anh ta gây dựng nên chứ không hề ăn cắp của ai. Rồi một người lính sẽ phải nhìn mọi người như thế nào khi tất cả biết được vì sao anh ta không được cầm súng chiến đấu hay đứng trong phòng huấn luyện nữa? Rồi người ta sẽ đồn thổi gì về anh ta, khi nhìn thấy anh ta thất thểu đi về một mình sau khi vật lộn với công việc mới, một công việc vốn không dành cho người như anh ta? Rồi nếu như anh ta đã có con, vậy thì phải làm thế nào để đối mặt với đứa bé bây giờ, khi mà bố nó không còn là người hùng mà nó thường khoe với bạn bè nữa? Đứa bé ấy sẽ tủi hổ và bẽ bàng ra sao, khi bị người khác nói rằng bố nó không đủ tư cách làm lính? Người lính ấy sẽ chết trong lòng bao nhiêu lần nữa mới đủ, khi bị chính con trai, con gái mình nói rằng chúng cảm thấy thất vọng về mình? Earth 95 đã khiến cho lòng tự tôn của một người lính bị đả kích sâu sắc. Đế chế ấy đã cướp đi mọi thứ từ tay anh ta.

Deino chợt cảm thấy khó thở. Xoa xoa ngực mình, cậu toan nói gì đó rồi lại thôi. Người đàn ông này có lẽ đã nghe quá đủ lời an ủi rồi, và cậu không cần nhắc lại cho anh ta biết rằng trong mắt mọi người trên phì thuyền hiện tại thì anh ta thảm cỡ nào. Coprion quay lưng lại với anh ta, không cần thêm cậu thương hại anh ta nữa.

Uể oải ngồi xuống, Aulophyseter xoa xoa cổ ra chiều không muốn tiếp chuyện nữa. Biết thân biết phận, Rham chỉ hỏi han thêm vài ba câu như có cần thêm chăn không rồi nằm ở một góc phi thuyền như vậy có vấn đề gì không rồi nhanh chóng kéo Deino đang đần cả mặt về buồng lái. Vẫy vẫy tay trước mặt Deino mấy lần liền khiến cậu bực mình gạt tay mình sang một bên. Ngồi phịch xuống ghế lái, Deino khe khẽ thở dài.

Không gian trước mặt như được mở ra vô tận. Những kẻ chưa từng một lần được thấy mặt trời trong đời mình tưởng như đã quá quen với đêm đen chồng chất đêm đen, ấy thế mà khi nhìn thấy giá lạnh căm căm trong tâm hồn một người, vẫn cứ choáng váng một phen. Aulophyseter chọn rời bỏ Earth 95, bảo sao mà lúc đầu anh ta hoảng loạn chối bay chối biến chuyện mình có dinh líu với phi thuyền này. Ngẫm lại, cũng thật dễ hiểu lí do anh ta luống cuống ngay khi nghe Rham nói rằng trên Farout cũng có người đến từ cùng một phi thuyền với anh ta. Nếu là họ, họ cũng sợ đến toát mồ hôi hột.

“Nhìn kìa!”

Deino bật dậy chồm người về phía trước, chỉ tay về phía ánh đèn lập loè chớp tắt liên tục phía trước. Nhìn theo hướng tay Deino, Rham nín thở, miệng lẩm nhẩm đếm rồi như thể không tin nổi, anh gào lên.

“Có người! Có người đang phát tín hiệu cầu cứu!”

Từ phía sau, một cánh tay vươn tới ngắt chức năng lái tự động trên bảng điều khiển. Chẳng biết từ lúc nào, Aulophyseter đã đứng phía sau họ. Thoáng giật mình, Rham há hốc mồm nhìn anh ta, rồi ngay khi thấy anh liếc về phía mình thì đưa tay lên miệng giả vờ đang ho. Người này, lại một lần nữa khiến anh phải sợ hãi. Khi nãy lúc họ nói chuyện phía bên ngoài, Deino có thể nghe được tiếng mọi người là do cửa buồng lái khi đó đang mở. Nhưng ban nãy khi vào buồng lái, anh nhớ mình đã đóng cửa lại sau lưng rồi. Nhìn Aulophyseter đầy nghi hoặc, Rham mím chặt môi, bàn tay cũng từ từ siết nắm đấm. Người này, nếu như ngay từ đầu không đứng trong buồng lái, vậy thì tai phải thính tới mức nào kia chứ?

Lờ đi Rham đang hồ nghi ở một góc, Aulophyseter nghiêm nghị nhìn ánh đèn liên tục phát ra ở phía xa. Quay sang nhìn Deino, anh gật đầu.

“Vậy thì, chúng ta cứu họ thôi.”

Không đợi phải nhắc thêm câu nào, Deino lập tức điều khiển Farout. Theo như tính toán, với tốc độ hiện tại, chỉ cần chưa tới ba mươi giây để Farout có thể tiếp cận tàu không gian kia. Trong lúc Deino và Aulophyseter đang tập trung quan sát phía trước, Rham mở cửa bước ra khỏi buồng lái, định chuẩn bị chăn, nước và thức ăn cho những người chốc nữa được cứu lên phi thuyền. Bất giác, Rham đưa mắt nhìn về phía phòng Coprion. Đưa tay lên ôm trán, anh thấy đầu mình hơi nhức.

Nếu như anh không nhìn lầm, thì cánh cửa phòng Coprion vừa đóng lại. Không biết nghĩ thế nào, Rham tiến đến gõ nhẹ lên cánh cửa rồi áp sát tai vào nghe ngóng. Thấy không có động tĩnh gì, anh thở dài. Phải lưỡng lự mất một lúc, Rham mới lên tiếng, cố gắng nói lớn giọng một chút để người bên trong nghe rõ.

“Lát nữa có thể sẽ rất đông người bên ngoài, nếu không thích thì không cần ra đây đâu. Tôi thay anh chào hỏi bọn họ.”

Coi như im lặng tức là đã đồng ý, Rham tiến về phía khoang dự trữ. Lấy ra mấy cái chăn hẵng còn mới, anh đập đập mấy cái có vẻ vừa lòng lắm rồi quay về khu vực sinh hoạt chung. Khi nãy, anh nghe thấy một tiếng động lớn ở phía bên ngoài, hẳn là chiếc tàu kia được được đưa vào phi thuyền an toàn rồi. Đúng lúc này, một chuỗi âm thanh tiếng động đồng loạt vang lên, tiếng chạy, tiếng cửa bật mở rồi bị đóng sập lại, tiếng mọi người gọi nhau tạo thành một tổ hợp âm thanh đinh tai. Rảo bước đi về phía trung tâm của sự huyên náo trên phi thuyền lúc này, Rham không khỏi lo lắng. Ngày hôm nay đã xảy ra quá nhiều chuyện rồi, và anh không mong muốn họ lại vướng vào rắc rối gì khác nữa. Quả nhiên, anh lo lắng không hề thừa. Trước con mắt sững sờ của Rham, Aulophyseter, Deino và cả Coprion khi nãy vẫn còn khoá mình trong phòng đều đang xúm lại một góc. Liếc nhìn chiếc tàu vũ trụ vừa mới được kéo vào bên trong phi thuyền Farout, anh bị mức độ thảm hại của nó làm cho mất hồn. Anh không nghĩ rằng một chiếc tàu lại có thể trông như xơ mướp thế này, mặc dù đã sớm chuẩn bị tinh thần từ trước vì một khi đã bật tín hiệu cầu cứu chứng tỏ tàu đã hỏng hóc rất nặng rồi. Nguồn năng lượng sản sinh từ tảo đã khiến cho việc cạn kiệt nhiên liệu trước khi đến các trạm trung chuyển để nhận bình cung ứng mới là việc khó có thể xảy ra, nhưng nếu bị bắn đến độ không còn ra hình thù gì thế này thì vẫn còn đủ hydro để duy trì trạng thái di chuyển đã là quá phi thường rồi.

Thấy Rham đứng trân trối nhìn chiếc tàu không còn khả năng sửa chữa, Aulophyseter trừng mắt nhìn anh, nói gần như đang quát nhưng không phải vì bực mình với anh mà là đang muốn át đi cơn run rẩy trong giọng nói của mình.

“Đứng đực mặt ra đó làm gì nữa, tới đây mau lên!”

Aulophyseter cố gắng trấn tĩnh lại. Anh chỉ biết hai trong số năm người vừa mới được cứu lên phi thuyền, và họ đều đang nằm đây, cứng đờ, người bê bết máu. Coprion xem chừng cũng đã nhận ra họ, cậu nghiến răng xé lớp vải áo để sát trùng vết thương, không nói với anh lấy một lời, nhưng anh biết Coprion đang lo lắng tới phát điên.

Đặt chỗ chăn mới lấy từ kho xuống sàn phi thuyền rồi hối hả bước tới, Rham nhìn Coprion thoăn thoắt buộc băng gạc cầm máu cho người đang nằm trên sàn trong khi Deino chụp ống thở cho một người khác mà phát run. Ba người nằm dài trên sàn, thương tích đặc biệt nặng, còn hai người đang ngồi thở hồng hộc như vừa đi đánh trận về, kia thì chỉ xây xát ngoài da, có lẽ là do lúc tàu bị bắn nên bị va đập. Không kịp nghĩ gì nhiều, anh chộp lấy hộp đồ sơ cứu đặt ở một góc phi thuyền rồi quỳ xuống bên cạnh người nằm phía ngoài cùng, dùng răng xé gói băng gạc để cầm máu vết thương trên trán người kia. Đúng lúc này, người nằm dưới sàn tưởng như đã bất tỉnh đột ngột mở mắt như choàng tỉnh sau giấc ngủ dài, bàn tay bê bết máu túm chặt lấy tay anh, miệng mấp máy liên tục. Vẫn tiếp tục ngăn máu chảy ra từ vết thương, Rham nói nhanh như tên bắn:

“Tôi ở đây với anh, có tôi ở đây rồi. Đừng sợ, tôi giúp anh cầm máu, được chứ?”

Thấy người kia cứ hết lắc đầu rồi lại xua tay, Rham ngẩn người ra thắc mắc rồi nhìn theo hướng người kia đang nhìn, lập tức hiểu ra vấn đề. Bắt gặp ánh mắt kiên định của người mà họ vừa mới cứu lên phi thuyền đang ngồi xoa nắn cổ chân, nói khe khẽ:

“Anh tên gì?”

“Tôi…” Bị hỏi bất chợt, người kia thoáng giật mình, người ngồi bên cạnh cũng chớp chớp mắt nhìn Rham đầy hoang mang. Rồi như hiểu ra người yếu tới mức không mở nổi miệng ra để nói chuyện kia đang lo lắng cho mình, người kia hạ thấp giọng trả lời Rham. “Megalodon. Meg.”

“Còn anh?” Đã hỏi thì hỏi cho trót, Rham quay sang người vẫn đang ngơ ngác đằng kia.

“Ceto…” Bị Megalodon huých tay một cái, người kia luống cuống đáp lời.

Nhận được câu trả lời mình muốn, anh gật đầu một cái chắc nịch rồi thì thầm với người cuối cùng cũng chịu nằm yên để mình chữa trị.

“Meg và Ceto không sao cả, họ không sao cả…”

Bặm môi xem xét một vết thương khác trên bả vai người kia, Rham cố gắng bỏ ra khỏi đầu hình ảnh người kia cùng một lúc cử động cả hai tay như một cái máy. Nếu cứ nghĩ mãi đến chuyện đó, anh sợ rằng mình sẽ chuyển hướng phi thuyền mà lái về trung tâm để giao nộp người này mất. Năm người, hai người may mắn bị thương nhẹ nhưng ba người đang nằm vật dưới sàn, người nào cũng sắp chết, nhưng người này là tệ hơn cả trong số đó.

Người này không chỉ sắp chết. Anh ta còn có bệnh.

.

 

Location: Farout, ALLIGATOR’s spaceship, Somewhere in The Miscellaneous.

Nearest Destination: The Border of Apokalypsis.

(Địa điểm: Phi thuyền Farout của ALLIGATOR, Đâu đó trong Vùng Hỗn Tạp.

Điểm đến gần nhất: Biên giới Apokalypsis.)

Có sức vóc nhất trong số ba người vừa mới từ cõi chết trở về, nhưng phải đến hai ngày sau, Shigenis mới có thể ngồi dậy được để kể cho các thành viên – cả cũ lẫn mới – trên phi thuyền Farout nghe về câu chuyện quái đản đã xảy đến với mình, cũng là nguyên nhân thoả đáng nhất giải thích cho sự nát bét của chiếc tàu không gian mà họ vừa mới phải đi ngược đường, ngược cả cơn bão thiên thạch để tống nó vào một trạm sửa chữa gần Earth 82. Những ai còn đủ tỉnh táo và đủ sức tiếp nhận một câu chuyện có một không hai, tức là ngoại trừ Varolai đang ở trong tình trạng nói không ra hơi do tác dụng của thứ thuốc đang cần phải được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm tạm thời của Coprion nên cũng chẳng buồn nghe và người chưa biết tên vẫn còn đang hôn mê; tất cả mọi người, bao gồm Rham, Deino, Aulophyseter-đã-đồng-ý-cho-gọi-là-Aul, Coprion-đang-chờ-kết-quả-phân-tích, hai người mới lên phi thuyền là Meg và Ceto đều tìm một chỗ ngồi cạnh giường Shigenis. Và đây là lúc họ nhận ra mình nên quên mấy thứ dị hợm đọc được trên mạng đi, vì những gì mà Shigenis sắp kể mới là ông vua của vương quốc những câu chuyện kì quặc nhất vũ trụ.

.

Shigenis đã từng nghe qua về cái giống đó.

Chắc chắn là anh đã từng nghe qua về cái giống quái vật đó.

Trước đây, anh có lần được nghe nói qua về một loại kí sinh trùng sống trong mắt các loài động vật và điều khiển hành vi của chúng. Đại loại là khi kí sinh trùng chưa đến giai đoạn trưởng thành, nó sẽ giúp cho vật chủ an toàn trước kẻ săn mồi. Ví dụ như kí sinh trùng ở cá bảo vệ vật chủ bằng cách khiến cho vật chủ trở nên lờ đờ, kém năng động hơn khi di chuyển, từ đó ít bị vướng vào lưới hơn, kẻ săn mồi cũng ít khi phát hiện ra hơn. Nhưng ngay khi chuyển sang giai đoạn trưởng thành, tức là cái thứ quái quỷ đó cần phải đổi vật chủ mới mà cụ thể là đám chim chóc coi cá là thức ăn, chúng sẽ khiến những con cá bị nhiễm kí sinh trùng bơi sát mặt nước hơn và bơi cũng nhanh hơn bình thường để dễ bị chim phát giác hơn và bị giết thịt nhanh hơn và đại khái là lao thẳng vào chỗ chết, dâng hiến thân mình cho một giống loài đang hả hê mà không hay biết mình chỉ là một quân cờ của một con kí sinh trùng chết dẫm.

Để có thể tồn tại được, chúng cần kí sinh trong mắt cá. Ở thời điểm đó, chúng chưa đủ khả năng sinh sản nên cần một cơ thể sống mà cụ thể là cá để không chết bất đắc kì tử ngay khi vừa mới biết mục đích sống của mình là bấu víu một cách thảm hại vào các sinh vật khác. Nhưng chỉ cần chúng đã đủ lông đủ cánh – tất nhiên chỉ là đang nói một cách đầy hoa mĩ thôi – thì chúng cần một vật chủ mới và để cái ước mơ có một chỗ ở rộng rãi, khang trang hơn, chúng tìm đến ruột chim, kí sinh trong đó, sinh sản, đẻ trứng theo phân chim, trứng nở trong nước thành ấu trùng, ấu trùng lây nhiễm vào trong ốc nước ngọt, phát triển trong cơ thể ốc rồi lại quay về với cá. Kí sinh trùng thâm nhập xuyên qua da cá, di chuyển đến giác mạc và ở lại trong đó. Ồ vâng, thâm nhập xuyên qua da. Và cái vòng tuần hoàn nghiệt ngã ấy cứ lặp đi lặp lại khiến chúng không bao giờ chết, thậm chí còn đủ khả năng để giật dây sinh vật khác đâm đầu vào cửa tử.

Cái sinh vật đang liên tục tìm cách tấn công Shigenis lúc này khiến anh không thể không liên tưởng tới một con cá nhiễm kí sinh trùng Diplostomum pseudospathaceum. Kể cả anh chưa từng tận mắt nhìn thấy cá một lần nào trong đời, ý anh là một con cá còn sống nhăn nhở bơi lội tung tăng ngoài sông ngoài suối chứ không phải là món cá được bưng ra từ máy in, thì sự liều lĩnh tới mức khiến người khác choáng ngợp, sự chán sống đến mức ra tay không lưu tình như muốn kết liễu địch thủ rồi quyên sinh của kẻ đang săn lùng Shigenis thật sự khiến anh phải vin vào một cái cớ nào đó nghe có vẻ khả quan để bạo biện cho sự sợ hãi của mình lúc này.

Anh thực sự sợ, vì tên kia có thể khống chế Varolai và hiện tại đang truy sát anh. Gã không thể bị đánh bại, đơn giản là vì gã không sợ chết. Không một ai có thể giết một xác chết. Tương tự, chẳng một kẻ nào dù mạnh tới mấy có thể hạ gục nổi một kẻ không quan tâm đến chuyện mình có toàn mạng mà ra khỏi cuộc chiến hay là không. Liều lĩnh đến như vậy, không sợ không được. Chưa bao giờ anh lại thấy đồng phục của quản ngục trong nhà tù của Livyatan lại ám ảnh tới nhường ấy.

Để có thể an toàn mà ra khỏi nhà tù, Shigenis buộc phải giữ im lặng mà theo gót người đóng giả Varolai. Không có nhiều cơ hội để lẩn ra khỏi đây, bởi lẽ mặc cho việc bản thân các tù nhân vốn không hề có ý định rời đi, nhà tù vẫn cứ là một nhà tù. Hơn nữa, Livyatan – với xuất thân là một WHALE – hiểu rõ chỉ cần một chút sơ sẩy rất nhỏ thôi, tù nhân cũng có thể trốn thoát nếu như không có hệ thống phòng bị nghiêm ngặt. Hàng loạt các tay súng bắn tỉa ẩn náu trên các tháp cao bên ngoài nhà tù, vành đai giới nghiêm được lắp đặt cảm ứng với thiết bị giám sát đeo ở cổ chân tù nhân, và cơn ác mộng khủng khiếp nhất, khiến người ta cho những kẻ muốn trốn thoát khỏi nhà tù của Livyatan là một đám vắt mũi chưa sạch: chỉ. Không sai, là các sợi chỉ. Đây cũng chính là lí do chủ yếu để Shigenis quyết định bằng mọi giá phải bám sát “Varolai”. Cậu ta không bị mắc bẫy ở các sợi chỉ này.

Rất nhiều các sợi chỉ mảnh tới mức khó mà thấy được bằng mắt thường được giăng ở các địa điểm khác nhau bên trong nhà tù. Chúng được buộc ở độ cao ngang ống đồng một người trưởng thành, tính theo chiều cao trung bình của con người ở thời điểm hiện tại là 1,7m với nữ và 1,8m với nam, chỉ cần không cẩn thận mà vướng vào các sợi chỉ này, ngay lập tức còi báo động hú lên và từ bốn phương tám hướng, sẽ có người ập tới khiến cho toàn bộ công sức nghĩ mưu tính kế sẽ đổ xuống sông xuống biển – tất nhiên là nói một cách hoa mĩ thôi.

Nhờ có “Varolai”, anh đã không bị vướng vào các sợi chỉ này và thú thực, việc các sợi không được buộc cố định một chỗ đã khiến cho anh trong giây lát muốn làm bạn với người kia, bất kể cậu ta có là phe tốt hay phe xấu. “Varolai” này còn đưa đồng phục quản ngục cho anh cùng với mẫu sinh trắc của chủ nhân đích thực của bộ đồng phục (cá là do cậu ta giết, bằng một cách nào đó mà anh không dám hình dung). Tay giả mạo tận tâm còn cho anh xem một đoạn băng ghi hình cảnh tay quản ngục xấu số kia đi ngang qua thiết bị giám sát để anh bắt chước dáng đi của anh ta. Đó là cách anh thành công đánh lừa các máy móc hiện đại bên trong nhà tù của Livyatan, kể cả máy phân tích cử động được cho là tối tân.

Sau khi xong xuôi lỉnh ra khỏi nhà tù trước hàng nghìn người, “Varolai” dẫn anh tới một tàu không gian rồi yêu cầu anh đi theo cậu ta vào trong đó. Đâm lao thì phải theo lao, anh bước chân lên tàu, và có thể anh đã không quay sang tấn công “Varolai” nếu như đập vào mắt anh không phải là Zygophyseter Varolai thật đang ra hiệu cho anh bằng ánh mắt vì chân tay không thể cử động do bị trói nghiến vào ghế lái. Và Varolai là một nhân viên tình báo. Ai tự tin có thể lừa được một nhân viên tình báo, hạ gục được một nhân viên tình báo, trói gô như trói gà một nhân viên tình báo, thậm chí đã nghĩ tới phương án một nhân viên tình báo sẽ tự bẻ khớp ngón tay cái của mình để luồn tay ra khỏi dây trói nên giúp nhân viên tình báo bẻ khớp trước rồi mới trói, xin mời ra đây tỉ thí với vị huynh đài này chứ anh thì anh không dám. Nếu không nhờ tàu không gian của Meg và Ceto ngay lúc đó đến gần khu vực nhà tù của Livyatan rồi phát hiện ra cuộc ẩu đả không được cân sức này để cứu anh cùng Varolai thì dễ có khi cả hai đã mất mạng dưới tay kẻ giả mạo rồi.

Theo lời kể của Meg và Ceto, thì nhà tù của Livyatan được dựng lên ngay bên cạnh Vô Nhân Địa, khu vực mà quân của cả hai không được phép lấn sang. Chỉ cần một tàu không gian từ bên này đi qua bên kia, trận chiến ngay lập tức sẽ nổ ra. Vì nhìn thấy tín hiệu cầu cứu được phát từ tàu không gian của “Varolai” lúc đó đã được cậu ta khởi động để đi qua Vô Nhân Địa do Shigenis phát ra, cả hai đã quyết định cứu những người trên tàu không gian. Tại thời điểm đó, Meg và Ceto đều đơn thuần nghĩ rằng mình đang hỗ trợ những người vượt ngục, chứ không ngờ “người vượt ngục” còn đang ở tình thế sắp bị cứa đứt cổ tới nơi bởi một người mặc đồng phục quản ngục của Livyatan.

Meg và Ceto cũng nói rằng, bản thân họ ý thức rất rõ hậu quả của việc hỗ trợ những người vượt ngục. Không chỉ hậu quả cho riêng bản thân họ, mà tính chất của cuộc chiến có thể sẽ thay đổi chỉ vì hành động này. Lúc đó, họ chỉ đơn giản nghĩ rằng mình không thể để người của Livyatan giết hại thêm bất cứ ai thuộc phe mình mà thôi. Nếu như bây giờ cho phép họ lựa chọn lại, thì kể cả một tàu không gian hay mười tàu không gian bị bắn nát tới độ không còn ra hình thù, họ vẫn sẽ chọn cứu Shigenis, Varolai cùng người chưa xác định được danh tính kia.

Người phe ta. Xét cho cùng, ba tiếng đơn giản này, phải đặt vào tình thế hiểm nghèo mới hiểu hết được sức nặng của nó. Ba người kia bị thương rất nặng, một phần do cuộc ẩu đả trước đó, một phần do bị chuyển sang tàu của Meg và Ceto trong khoảng thời gian quá gấp rút nên không kịp thắt dây an toàn, cộng thêm phải bay trong tình trạng bị bán rất rát thành ra bị va đập liên tục. Nhưng dù sao đi chăng nữa, giữ được cái mạng trong hoàn cảnh đó đã là quá may mắn rồi.

Shigenis thở dài, hai tay buông thõng đầy vẻ bất lực. Cảm kích cúi đầu trước Meg và Ceto để tỏ lòng biết ơn, anh tiếp tục câu chuyện.

Không phải là không đủ khả năng đánh bại cậu ta, chỉ là thứ vũ khí hoá học mà cậu ta sử dụng khiến cho ngay cả những chiến binh thiện chiến nhất cũng không được tính là một đối thủ xứng tầm. Nói thế này thì hơi buồn cười, nhưng sức mạnh của “Varolai” này gần như không có một điểm chung nào với Varolai thật. Đành rằng Varolai mà anh biết không chỉ sử dụng tốt sức mạnh cơ bắp mà còn là người túc trí đa mưu, nhưng kẻ mạo danh này lại thích làm chủ cuộc chơi ngay từ đầu bằng cách khiến cho địch thủ nhũn ra như bún hơn chơi đấu trí hay áp chế bằng vũ lực. Đây chính là điểm khiến cho đối phương có thể vượt mặt Varolai một cách dễ dàng tới như vậy. Người ta không ngại ngần nhận lời khiêu chiến của những tay sừng sỏ to gấp rưỡi mình, cũng chẳng mấy khi chùn bước trước những đối thủ mưu lược như thần, nhưng với một tên dùng bình xịt hơi cay và tệ hơn, một hợp chất dạng phun sương nào đó có công hiệu làm suy yếu các cơ bắp trên cơ thể thì chẳng ai đánh thẳng nổi.

Nói thế này thì nghe có vẻ hơi đánh giá thấp đối phương, nhưng gần như toàn bộ sức mạnh của “Varolai” đều nằm cả trong món đồ chơi hoá học cần được dán nhãn tránh xa tầm tay cả trẻ em và người lớn đó. Dĩ nhiên, trong lúc quờ quạng lần mò tìm cách thoát thân, anh đã được tận mắt chứng kiến cậu ta dịch chuyển nhanh tới cỡ nào, ra đòn bằng cả hai tay một cách mau lẹ ra sao. Nhưng có thể do không được đào tạo một cách bài bản, nên dù có lực, “Varolai” dễ bị mất sức, kĩ thuật kiểm soát lực ra đòn cũng còn rất yếu. Chỉ cần rèn luyện thêm về sức bền, chắc chắn với sự chuẩn xác trong việc cân đo đong đếm liều lượng thuốc mỗi lần sử dụng và một thể lực tốt hơn, sẽ không có một chiến binh nào được cử ra mặt trận tính đến thời điểm hiện tại đấu lại được cậu ta.

Nghĩ lại, về điểm này anh thấy thật may mắn vì “Varolai” vẫn chưa phát huy hết toàn bộ tiềm năng mà cậu ta có. Thứ nhất, nếu như lúc đó anh phải chống lại một “Varolai” đã ở thời điểm sử dụng cơ thể linh hoạt hơn cùng sức bền đáng nể hơn, việc anh vẫy cờ trắng xin hàng ngay cả khi không bị thuốc suy giảm cơ bắp làm cho mấy phen chết hụt là điều chắc chắn, không phải bàn cãi gì nữa. Đến giờ nghĩ lại, Shigenis vẫn thấy mình chế ngực được tên điên với đôi mắt long lên sòng sọc chỉ muốn bổ nhào về phía mình mà cắm phập cả con dao mổ lợn vào cổ họng kia dựa vào một phần rất lớn là cậu ta bị đuối sức trong quá trình rượt đuổi. Giả dụ cậu ta không hề hấn gì sau mỗi lần dùng quá nhiều sức lúc đâm trượt, anh có ba đầu sáu tay cũng chẳng xoay kịp chứ đừng nói là còn đang đứng không vững, chỉ có phương án duy nhất là lăn trên sàn để né đòn và tìm lá chắn. Thứ hai, để có thể chế tạo ra được vũ khí hoá học, cậu ta không chỉ có tri thức, có thời gian, có tính toán rất cẩn thận mà còn có quyền sử dụng phòng thí nghiệm để điều chế hoá phẩm mà không bị ai nghi ngờ gì. Chỉ có các SHARK mới có nguồn cung không giới hạn các dụng cụ thí nghiệm, đây không phải là một mặt hàng kinh doanh, cũng được chính quyền cung cấp nên các ALLIGATOR không dại gì mà tìm cách buôn lậu, còn phần lớn WHALE thì chắc cả đời chưa biết ống nghiệm có hình thù thế nào. Mọi hoạt động của WHALE mà cần đến kết quả hoá nghiệm đều được bàn giao cho SHARK, cho nên vị trí của SHARK mới được đặt cao tới như vậy. Một người có đầu óc, chắc chắn không thiếu kinh nghiệm, có mục đích, có thời gian, được cung cấp đầy đủ các phương tiện và công cụ, nếu như bây giờ mà có cả thể lực tốt thì cậu ta nên bắt đầu cuộc chinh phạt của mình để trở thành bá chủ luôn là vừa.

Nghe xong từ đầu đến cuối câu chuyện, trong lòng mọi người không tránh khỏi ngổn ngang suy nghĩ. Họ không quá lạ lẫm với chuyện một người có khả năng vượt xa các thành viên cùng nhóm với mình về mặt thể lực hay trí lực, vì dù sao đi chăng nữa, việc phân chia các nhóm cũng hoàn toàn dựa trên đặc điểm về nghề nghiệp. Bên cạnh nghiệp vụ, rất có thể các thành viên trong nhóm cũng có các khả năng khác, hoặc tự mình rèn luyện để có nhiều kĩ năng phục vụ cho mục đích phát triển toàn diện, hay chí ít là sống sót được trong thời buổi loạn lạc này. Đặc biệt là với nhóm SHARK, nhờ đã có sẵn trí tuệ, ngay cả khi không thể bì được với WHALE về thể lực, họ vẫn có thể tìm ra nhiều phương thức khác để đánh bại địch thủ mà một nhân chứng may-quá-vẫn-còn-sống kia là một ví dụ điển hình. WHALE có thế mạnh về hành động, cũng phải thuộc dạng túc trí đa mưu, có thể dựa vào Shigenis và Zygophyseter Varolai để nhận định họ chắc chắn không phải dạng ngu si tứ chi phát triển, chân to não teo gì. Tuy vậy, vũ khí của WHALE cũng là do SHARK nghiên cứu, mọi lí thuyết liên quan tới cấu trúc giải phẫu (mà nói cụ thể là cách để đánh gục không chỉ WHALE mà là mọi sinh vật sống) đều được SHARK chuyên về khoa học di truyền nắm trong lòng bàn tay. Đấu không lại, vẫn cứ là đấu không lại.

Thế nhưng, gạt bỏ hết mọi chi tiết rườm rà bên ngoài, câu hỏi lớn nhất được đặt ra đối với các thành viên trên phi thuyền Farout lúc này đây lại là lí do khiến “Varolai” hành động bất thường như vậy. Không ai tự dưng lại bắt cóc một nhân viên tình báo, rồi lại cất công vào tù để lôi bằng được chồng cũ của anh ta vốn là một thành viên của đội phản ứng nhanh để giết chết cả đôi cả, nếu như không có một động cơ cực kì lớn. Động cơ này không chỉ đủ để một người cư xử như cá bị nhiễm sán lá mắt, điều khiển mọi hành động của cậu ta, mà còn phải khiến cậu ta điên tiết lên tới mức sẵn sàng giết người. Đừng quên, vẫn chưa ai loại trừ được khả năng cậu ta đã giết chết một quản ngục trong nhà tù của Livyatan, một hành động được cho là châm ngòi cho một cuộc chiến mới, lớn hơn, nhiều người chết hơn.

“Varolai” này chắc chắn phải căm hận vợ chồng Shigenis tới mức không màng tới tính mạng của mình, đánh liều cả mạng sống của hàng triệu người vô tội ngoài kia. Nhưng điều khiến họ choáng ngợp hơn, chính là cảm giác cậu ta không thiết tha gì với cả vũ trụ này nữa và sẽ biến không gian bao la ngoài kia thành mồ chôn thây cả loài người. Sống không nổi, vậy thì tôi chết, anh chết chung. Nghĩ tới đây, mọi người không nói không rằng, đều đưa mắt nhìn nhau đầy hoang mang. Rùng mình một cái, Meg đưa tay xoa xoa cổ rồi lên tiếng:

“Tôi vào trong đó xem cậu ta thế nào…”

“Vâng, cậu ta tỉnh lại lúc không có ai bên cạnh cũng không ổn lắm.” Thấy Meg có vẻ hơi ngần ngại, Deino gật đầu với anh. Cúi xuống nhìn túi đồ lỉnh kỉnh đầy các chai lọ, bình xịt hoá học mà người đến giờ vẫn còn là một ẩn số kia mang theo, cậu tặc lưỡi một cái. “Chậc, sao một người có thể tự mình chế ra ngần này thứ nhỉ?”

“Tại vì người ta giỏi.” Coprion đã quay lại khu vực hoạt động của mình, tức là cái phòng thí nghiệm vừa được dựng lên hết sức tạm bợ ở một góc trên phi thuyền, điềm nhiên nói như thể đó là điều hiển nhiên nhất trên đời. Thấy Coprion chăm chú như vậy, xem ra mẫu máu của kẻ mạo danh Varolai mà cậu ta nhờ người bên Earth 95 phân tích đã có kết quả rồi. Rham lập tức đến gần Coprion, chuyên tâm nhìn vào màn hình rồi khẽ lắc đầu. Những thứ này nhìn sao cũng không phù hợp với chuyên môn của anh, có lẽ từ nay về sau chỉ nên chuyên tâm lái phi thuyền với bán hàng thôi.

Do tìm cách trốn thoát khỏi Earth 95, Coprion không thể dùng căn cước của mình đã yêu cầu được hỗ trợ, tương tự với Aul. Shigenis là tù nhân vừa mới vượt ngục, bây giờ việc cần lo là làm giả căn cước cho anh ta để đầu xuôi, đuôi lọt để lát nữa đi vào Earth 97, coi như loại. Căn cước của Varolai đã bị huỷ, hẳn là người giả mạo kia đã xoá đi ngay khi bắt cóc anh ta rồi nên bây giờ Varolai cũng không khác người chết là mấy. Rham và Deino đều là người của Earth 97, không liên quan gì tới Earth 95, mà nếu nhờ người của Earth 97 thì lại bứt dây động rừng. Họ là ALLIGATOR, chỗ thân cận bên SHARK gần như không có nên buộc phải thông qua người trực phòng thí nghiệm, mà người này thì chắc chắn sẽ gửi kết quả lên cấp trên. Nếu như kết quả bị báo lên cấp trên thì sẽ phải giao nộp lại “Varolai”, mà họ thì không mong muốn điều này xảy ra khi chưa xác định được “Varolai” là ai. May mắn thay, Meg và Ceto đều là SHARK. Không những thế, Meg còn là cấp cao nhất của SHARK ở Earth 90, kết quả có báo lại cũng là báo cho anh ta. Sử dụng căn cước của Ceto và một chút hỗ trợ từ Meg, Coprion thành công gửi mẫu máu của “Varolai” về phòng thí nghiệm của Earth 90.

Nghe xong một câu kia của Coprion, Shigenis quay sang bên cạnh, thấy Varolai cau mày khó chịu thì suýt không nhịn được mà phá lên cười. Biết Varolai vẫn còn thấy hậm hực vì đã để mất mặt tới như vậy trước mình, anh vỗ đùi “chồng cũ” một cái, cũng vẫn còn chút tình người mà né vết thương của người kia ra:

“Chưa chết là may rồi đấy, tự ái làm gì.”

Trừng mắt nhìn anh một cái, Varolai khó nhọc xoay người nằm xuống giường, quay mặt về phía thành phi thuyền, tỏ ý không thèm tiếp chuyện nữa. Thấy vậy, Aul liền lấy mấy viên thuốc giảm đau rồi đưa cho Shigenis. Thấy người kia ngẩn người ra có vẻ chưa kịp hiểu, Aul hất hàm về người đang cuộn mình thành một cục trên giường, tỉnh bơ nói:

“Nghĩa tử là nghĩa tận.”

Mặc kệ Shigenis đang cười đến mức tưởng như bục được cả vết thương vừa mới được cố định lại ở bụng trong khi Varolai thì tức nổ đom đóm mắt, Aul quay sang hỏi tổ hợp lạ lùng vẫn đang hoá đá trước màn hình máy tính, nhịn không nổi mà đằng hắng một cái. Thấy Ceto quay lại nhìn mình, mặt trắng bệch như vừa tính toán ra tốc độ rơi của thiên thạch vào phi thuyền, Aul cũng hơi chột dạ. Bước sau lưng Coprion rồi quan sát màn hình, Aul thấy mồ hôi lạnh đang vã ra như tắm. Rham và Deino dường như cũng đã nhìn ra vấn đề giữa ngồn ngộ các dữ liệu liên tiếp được đưa lên màn hình. Cả hai đứng lùi lại phía sau để nhường chỗ cho Aul đến gần sát hơn để anh có thể đọc cẩn thận một lần nữa dòng thông tin đó. Thấy bên kia im ắng quá, Shigenis và Varolai đều thắc mắc. Dìu Varolai rời khỏi giường, Shigenis thì thào. Đột nhiên anh có linh cảm không lành, và việc nói lớn tiếng có thể đánh thức một con quái vật với hàm răng cắn một phát đứt đôi phi thuyền Farout.

“Mọi người tìm được gì rồi?”

Nuốt nước bọt đánh ực một cái, Aul chợt cảm thấy đầu mình váng vất. Không trả lời Shigenis, anh đặt tay lên vai Coprion, nặng nề thở hắt ra một tiếng. Vẫn còn đang sốc tới mức không buồn hất tay Aul ra khỏi vai mình, Coprion đưa một tay lên nắn bóp một bên thái dương, không buồn trả lời. Phải mất một lúc sau, giọng Deino mới vang lên, cắt một nhát bén ngọt vào bầu không khí đang dần đặc quánh lại trong phi thuyền.

“Tức là, cậu ta muốn giết vợ chồng bọn họ vì Shigenis giết con mèo của cậu ta?”

.

Location: Farout, ALLIGATOR’s spaceship, Somewhere in The Miscellaneous.

Nearest Location: Reality Lab, Earth 54.

(Địa điểm: Phi thuyền Farout của ALLIGATOR, Đâu đó trong Vùng Hỗn Tạp.

Điểm đến gần nhất: Phòng thí nghiệm Thực Tại, Trái Đất 54.)

Megalodon đóng cánh cửa lại sau lưng rồi tiện tay xoay chốt khoá trái lại. Lặng lẽ đứng nhìn người đang nằm yên trên giường một lát, anh mới lê bước về phía tủ đầu giường rót thật đầy một cốc nước rồi tiến tới ngồi xuống bên cạnh giường. Người kia, không biết ở ngoài làm mưa làm gió ra sao, nhưng bây giờ như sọp hẳn đi, hao gầy bội phần. Trông cậu ta lúc này chỉ như một chú mèo con lông dính nước, trong lòng tràn ngập sự sợ hại, rơi tự do trong mặc cảm với chính cảm giác yếu ớt, chới với và vô vọng bên trong mình. Ướt sũng, nặng nề và buồn khổ, người kia nằm yên trên giường, khuôn mặt trắng bệch như bị rút cạn sức sống nhưng không rõ vì sao cứ nhìn vào mí mắt thi thoảng lại khe khẽ lay động kia, Megalodon lại hình dung ra hai cánh mũi cậu phập phồng vì nén nước mắt vào trong, nhưng hai mắt đã sớm đỏ hoe tự bao giờ.

Nhấp một ngụm nước, anh tần ngần xoay xoay cốc nước trên tay, ngắm nhìn thứ chất lỏng diệu kì sóng sánh bên trong mà thấy tim mình nhói lên từng đợt. Trong lòng anh, sóng gió lại một lần nữa nổi lên, quăng mình đập vào bờ đê tưởng như đã rất kiên cố nhưng nghe răng rắc tiếng rạn nứt của lớp bê tông bị bòn rút nguyên vật liệu của nhà thầu và những tay dựng công trình vô lương tâm. Anh đã từng được nghe câu chuyện ấy. Câu chuyện về mười sáu nghìn người bỏ mạng vì một chiếc đê vỡ, và người ta tìm ra nguyên nhân cho thảm hoạ ấy chính là toàn bộ nguyên liệu được chỉ định để xây dựng đê đã bị người ta đánh tráo với loại có chất lượng thấp hơn rất nhiều. Đến bây giờ, anh vẫn thấy trăn trở về những gì đã xảy ra đối với những thế hệ trước của mình. Hàng trăm năm về trước, có những người chỉ vì đút túi mấy phần trăm chênh lệch trong chi phí mua nguyên vật liệu mà không màng đến hàng chục nghìn sinh mạng ngoài kia. Sống như vậy, mỗi sáng thức giấc ngắm nhìn khuôn mặt mình trong gương, không hiểu có thấy ghê tởm hay không?

Trong hoàn cảnh nào cũng vậy, luôn có những người chỉ biết nghĩ tới bản thân mà thôi, và thời kì này cũng chẳng ngoại lệ. Nhưng từ rất lâu rồi, con người đã không còn suy nghĩ ăn cắp thứ gì của người khác nữa. Tôi thiếu, anh cũng nào có dư dả gì cho cam, vậy thì còn lấy trộm của người ta cái gì được nữa đây? Hơn nữa, hàng loạt các sáng kiến trong việc nâng cấp thiết bị an ninh, vả chăng đã khiến con người nhận ra so với việc đi ăn trộm thì chăm chỉ làm lụng vẫn cứ dễ hơn rất nhiều. Xã hội này khiến con người sống kham sống khổ hơn mấy trăm năm về trước rất nhiều, nhưng cũng nhờ thế mà mang dáng dấp văn minh hơn. Con người cần cù lao động, nhận được đồng lương tương ứng với công sức mình bỏ ra. Ngay cả những người lãnh đạo cũng không có chuyện hàng tháng lĩnh tiền mà không cần suy nghĩ. Luôn có rất nhiều người giám sát họ, để đảm bảm họ không cậy quyền cậy thế mà làm càn, đầu cơ tích trữ. Có làm, có hưởng, và không trộm cắp, không cướp giết, cho nên người ta mới sửng sốt trước số lượng những người đã hi sinh trên chiến trường.

Cuộc cách mạng đã khiến cho mọi sự “văn minh” kia đi đến bờ rạn vỡ. Nhưng cũng giống như chiếc đê chắn sóng bị ăn bớt nguyên liệu kia, chỉ đến khi nó có dấu hiệu của một thảm hoạ, người ta mới nhận ra những gì cấu thành nó không hoàn hảo như mình vẫn tâm niệm.

Cầm cốc nước trên tay một lúc, anh bắt đầu cảm nhận được sức nặng của nó. Đột nhiên, Megalodon hướng về phía người kia, ngắm nhìn đôi mắt vẫn đang nhắm nghiền cùng đôi môi mím chặt ngang ngạnh, ương bướng của cậu, nói mà lại nghe lẫn cả ý cười. Đến chính anh cũng thấy bất ngờ vì mình vẫn có thể nói chuyện một cách nhẹ nhàng như thế này sau một thời gian dài không giao tiếp với ai ngoài Ceto, một người cũng không hứng thú với chuyện mở miệng cho lắm. Nghĩ lại, cũng có thể là do vết thương trên ngực vẫn còn tưng tức cũng nên.

“Từ đâu mà có, cậu biết không?”

Nâng cốc nước lên ngang tầm mắt mình, Meg nói đều đều. Tất nhiên, người kia không thể trả lời anh được. Bật cười tự chế nhạo mình, anh uống nốt cốc nước rồi đặt nó lại ở tủ đầu giường.

“Nước mà chúng ta đang sử dụng đến từ một hệ thống lọc nước.” Lại ngồi xuống bên cạnh giường, anh nói như đang tâm tình với người kia.

“Từ hàng trăm năm trước, con người đã vận chuyển lên các phi thuyền một dây chuyền lọc nước khổng lồ cùng các bình chứa nước có dung tích lớn nhằm tiếp tục duy trì sự sống của chúng ta ở một nơi tìm đâu cũng không có nước.

“Nước trong bình chứa được sử dụng cho sinh hoạt và sản xuất, tức là nước vừa dùng để nấu nướng, để uống, để tắm giặt, cũng để cho nhiều công việc khác nữa. Nước thải được đưa vào trong máy lọc nước, và nước sạch sẽ lại được đưa vào trong bình chứa. Đây là một hệ thống hoàn toàn tự động và được lập trình từ trước để giữ lại các chất rắn trong quá trình quay li tâm nước. Hiệu năng hệ thống được giám sát từ xa để kịp thời khắc phục các sự cố xảy ra với phần mềm. Nước sau khi tái chế được đưa đi khử trùng và sẵn sàng để sử dụng lại, thậm chí trước lúc đưa vào sử dụng còn đi qua hệ thống làm nóng và làm lạnh nữa. Nước bắt nguồn từ đó.

“Người ta còn bổ sung thêm các loại khoáng vào trong nguồn nước uống của chúng ta để không ai bị thiếu dưỡng chất cả. Cậu biết không nhỉ, các lõi tạo khoáng trong máy lọc nước ấy? Khoáng chất chủ yếu có trong nước là calci và magnesium. Nếu như hàm lượng các khoáng này đạt mức 150mg/l thì rất tốt cho cơ thể con người, phòng ngừa được cả loãng xương, cũng giúp duy trì hoạt động của tim, các cơ và hệ thần kinh nữa. Các loại khoáng nhân tạo này, cơ thể rất khó hấp thụ. Chúng cũng là môi trường thích hợp để vi khuẩn xâm nhập lại nguồn nước nữa, cho nên cứ 6 tháng một lần, chúng ta lại phải thay mới các lõi tạo khoáng này. Chúng ta đã chấp nhận rủi ro, vì chỉ riêng việc sống mà không bấu víu vào một hành tinh nào đã đầy những bất lợi rồi.

“Đến đây, chắc cậu sẽ có thắc mắc rằng không thể nào cứ liên tục tái chế nước như vậy, rồi muốn lọc nước thì phải làm sao. Trước đây, vấn đề này cũng khiến tôi đau đầu không kém. 10% lượng nước luôn bị thất thoát do quá trình bay hơi, một lượng nhỏ khác lại được dùng để rửa ngược các bộ lọc định kì. Muốn khử trùng nước mà không dùng tới hoá phẩm, buộc phải sử dụng ánh sáng cực tím áp suất thấp và ozone, tức là những thứ chúng ta không có sẵn. Nhưng mọi vấn đề đã được giải quyết nhờ một loạt các máy móc khác, như máy thu hơi nước, máy tạo tia cực tím và ozone nhân tạo. Các SHARK đã làm rất tốt vai trò của họ, và chúng ta vẫn luôn tự hào về điều ấy.

“Chúng ta có thể sống đến tận ngày hôm nay, là nhờ có những phát minh như thế. Nhưng một đám SHARK như tôi có thể sống, là vì dựa vào các WHALE và ALLIGATOR mà sống, giống như cách họ không ngừng tự hào về chúng ta vậy. Một mình chúng ta không thể làm được tất cả mọi việc, cho nên chúng ta mới cần có nhau. Tôi không ngại nói điều này đâu, nhưng rất nhiều người cần cậu, và cậu cũng cần chúng tôi hơn cậu nghĩ rất nhiều đấy.

“Tôi cần cậu, thật đấy.”

Căn phòng chìm vào tĩnh lặng. Megalodon đã nói hết những điều mà mình muốn nói, và kể cả người kia có nghe được hay không, anh cũng không bận tâm quá nhiều. Có nhiều chuyện, nói ra cũng chỉ để bản thân thấy dễ chịu hơn mà thôi. Những lời vừa rồi gần giống với một lời tự trấn an bản thân hơn là nói cho người kia nghe. Anh chỉ muốn chắc chắn một lần nữa rằng dù có bất cứ chuyện gì xảy ra, mình cũng sẽ không như người kia bây giờ.

Một mặt, anh muốn giết chết tất cả những kẻ đã đày đoạ mình. Trong mắt anh, những kẻ cưỡng chế anh làm những điều mình không muốn thì làm đều đáng chết như nhau. Nhưng mặt khác, anh luôn phải giữ cho mình tỉnh táo để không sa đoạ, không bị cơn giận dữ nuốt chủng lấy tâm hồn mình. Anh không muốn lòng hận thù khiến mình đánh mất tất cả những gì còn sót lại sau hàng loạt những biến cố nối tiếp biến cố. Anh không thể để lạc mất lí trí của mình một lần nữa.

Nắm lấy bàn tay người kia, anh khẽ thở dài. Anh vẫn còn chưa biết mình sẽ phải làm gì với người này. Anh rời phi thuyền của mình với mục đích là đích thân đưa Ceto – người đang tập huấn nghiệp vụ ở trung tâm gần Đường Biên Giới quay lại Earth 90 và mặc dù gặp một chút khó khăn trên đường trở về thì nhiệm vụ cũng đã sắp sửa hoàn thành. Tới đây, Farout sẽ đưa anh và Ceto trở lại Earth 90, bọn Rham và Deino cũng không có ý định nán lại lâu hơn vì họ đã chậm hành trình về Earth 97 mấy ngày liền rồi, cả Aul và Coprion trước mắt cũng đều đi theo hai vị thương nhân. Varolai và Shigenis thì đã nhận được sự đồng ý của anh nên sẽ đi một chuyến tới trung tâm bảo dưỡng đang sửa chữa, hay nói đúng hơn là thay mới toàn bộ linh kiện cùng các thiết bị trên tàu không gian đã bị hư hỏng nặng của anh. Hiện tại, họ không thể đường đường chính chính quay về Earth 95 được, hơn nữa anh cũng chỉ cho mượn tàu không gian chứ không hề cho không. Vậy là cuối cùng chỉ còn lại mỗi người này không biết phải đi về đâu, để cậu ta đến Earth 97 thì không được mà theo anh và Ceto về Earth 90 cũng chẳng xong.

Càng nghĩ càng thấy rối, anh chỉ mong người kia mau mau tỉnh lại một chút, cùng với Shigenis và Varolai giải quyết xong xuôi mọi chuyện rồi có gì thì từ từ tính tiếp. Nhìn xuống bàn tay người kia, Meg chợt nhận ra cũng chính bàn tay đang bấu chặt lấy tay mình này đã hạ gục một trong những điệp vụ xuất sắc nhất của Earth 95. Ngắm nghía bàn tay đang nổi gân lên vì túm vào tay mình kĩ một chút, anh bật cười vỗ nhè nhẹ lên mu bàn tay cậu.

“Thôi đã tỉnh rồi thì mở mắt ra xem nào.”

Người nằm trên giường từ từ mở mắt ra, đau đáu nhìn lên bóng đèn trên trần. Gỡ tay mình ra khỏi gọng kìm của người kia, anh trỏ tay về phía bình nước tỏ ý mình không đi đâu xa cả rồi lẳng lặng rót đầy nước vào cốc. Đỡ lưng người kia ngồi dậy, Meg một tay giữ gáy người kia, một tay ghé miệng cốc tới sát đôi môi khô không khốc của người vừa mới tỉnh dậy sau một cơn hôn mê dài, từ từ nghiêng cốc để người kia uống từng ngụm nhỏ. Lúc đầu, người kia còn định gạt tay anh ra. Nhưng cơn khát khiến cậu ta đành phải ngồi yên nương theo anh, để yên cho anh giúp mình uống nước. Vì bị thương khá nặng, ngực vẫn còn đau, thành ra cậu ta cứ vừa uống vừa nhăn nhó, rên xiết từng chập một. Dù không quen biết gì, nhưng thấy cậu ta một mình chịu đau, anh cũng thấy hơi xót xa. Lúc này cậu ta một chút cũng không giống sát thủ, chỉ giống một người đang cần được chăm sóc thôi.

Giơ cốc nửa vẫn còn non nửa lên, nhận được cái lắc đầu khó nhọc của người kia, anh đặt cái cốc về chỗ cũ, với tay dựng cái gối lên để cậu tựa lưng vào rồi tháo giày để leo lên giường. Sau khi đã ngồi một cách thoải mái phía cuối giường, mặc cho ánh mắt có phần nghi kị của người kia, Meg quyết định mình là người mở lời trước. Dù gì thì muốn người ta bớt đề phòng, mình phải cho người ta thấy thành ý trước đã.

“Tôi là một Megalodon, đến từ Earth 90, tôi và một Cetotherium đã đưa cậu lên tàu không gian của chúng tôi. Hiện tại, tàu không gian đó cần được sửa chữa, cho nên cậu đang ở trong phi thuyền Farout của hai thương nhân Rhamphosuchus và Deinosuchus của Earth 97. Đi cùng chúng ta còn hai người nữa, là một Aulophyseter và Helicoprion, đều của Earth 95. Hiện tại chúng ta đang đi tới gần Reality Lab của Earth 54 và sẽ dừng lại tại đây một lát để trao đổi hàng hoá. Cậu không thấy phiền nếu như nói cho tôi biết tên của cậu chứ?”

Người kia lắc đầu. Meg vỗ trán, cảm thấy dở khóc dở cười. Nhìn người kia đặt tay lên cái bụng lép kẹp, anh sực nhớ ra chắc phải hai ngày rồi cậu ta chưa có gì bỏ vào bụng.

“Muốn ăn gì không để tôi đi lấy?”

Người kia lại tiếp tục lắc đầu. Nhưng lần này thì Meg quyết không chịu thua. Tên không nói cũng không sao, nhưng đói mà cứ không chịu ăn thì sẽ không có chuyện anh nhân nhượng.

“Ăn một tí thôi cũng được, nhé?”

Vẫn lắc đầu.

“Ăn.”

Lắc đầu.

“Phải ăn.”

Kiên quyết lắc đầu.

“Cậu ăn xong, tôi giao vợ chồng Shigenis và Varolai cho cậu xử lí.”

Gật đầu. Khi nãy anh không nhắc tới tên hai vợ chồng bọn họ trước mặt người kia, nhưng chắc chắn cậu ta biết mọi người đang cố gắng không cho cậu ta cơ hội tiếp xúc với gia đình họ. Dù gì thì ở đây có đông người như vậy, chắc cậu ta sẽ không đòi sống mái một phen được, cho nên anh thấy mọi thứ vẫn trong khả năng kiểm soát nên mới nói như vậy. Có rất nhiều cách để giải quyết một vấn đề, nhưng người ta chỉ có thể gỡ rối từng vấn đề một mà thôi. Trước khi biết được rốt cuộc Shigenis và Varolai đã đắc tội tày đình gì với người này, cậu ta phải sống sót ra khỏi đây mà không chết đói đã. Với tình trạng da bụng dính vào da lưng như hiện tại, người này cần gấp một bát canh nóng.

“Được rồi, thế muốn ăn gì nào?”

Meg bắt đầu có cảm giác mình đang dỗ trẻ con. Anh chưa có con, nhưng đã nhiều lần chứng kiến người khác chăm các em bé rồi. Thường thì muốn cho bọn trẻ ăn cần rất nhiều thời gian, ví dụ như phải bế đi rong khắp nơi, hoặc lấy món đồ chơi nào đó mà chúng thích ra để dụ dỗ. Quả nhiên, chiêu bài Shigenis đã phát huy tác dụng. Hào hứng đứng dậy, Meg xoa xoa hai tay vào nhau rồi cung kính cúi người. Thái độ lịch thiệp này của anh thường khiến mọi người phá lên cười, nhưng không phải với cậu ta. Chưng hửng vì không nhận được một câu trả lời nào, Meg gãi gãi đầu cười xuề xoà, trong vài giây để lộ bản chất của một SHARK ru rú trong phòng thí nghiệm đến quên cả cách giao tiếp với con người.

“Thế thì tôi ăn gì cậu ăn đấy nhé.”

Nói rồi, anh quay lưng toan bước ra ngoài. Đúng lúc này, từ phía sau lưng anh, một giọng nói cất lên, nhẹ tênh như gió thoảng.

“Eth.”

Bị người kia làm cho bất ngờ, anh quay đầu lại mắt tròn mắt dẹt nhìn người vừa mới lên tiếng lúc này đây đang cúi gằm mặt, không hiểu là vì chán ghét hay ngại ngùng. Không biết có phải vì thấy Meg không có địch ý, lại không sợ sệt rồi tìm cách xa lánh hay thậm chí là lấy dây trói lại như một biện pháp để đối phó với tội phạm nguy hiểm hay không, nhưng cuối cùng thì cậu ta cũng đã chịu nói tên của mình. Tuy rằng vẫn muốn được nghe cậu ta kể nhiều điều khác nữa, cũng muốn được biết lí do cậu ta săn lùng hai vợ chồng nhà WHALE kia, nhưng Meg không muốn ngay lập tức đòi hỏi người kia quá nhiều. Cho anh biết tên đã là một bước tiến vĩ đại rồi, những chuyện khác dần dà để sau cũng được.

“Eth, đợi tôi một lát nhé.”

Nghĩ đi cũng phải nghĩ lại, cậu ta cũng chỉ là một SHARK thôi. Một kẻ giết người, một tên bắt cóc? Không, anh không nghĩ thế. Việc Eth khống chế và bắt cóc Varolai là thật, chuyện cậu muốn giết chết Shigenis là không có gì phải bàn cãi nữa, nhưng không một bằng chứng chắc chắn vào xác thực cậu ta đã ra tay sát hại người của Livyatan. Vả lại, nếu như muốn giết Shigenis và Varolai, cậu ta đã làm rồi. Khi nãy trước khi vào phòng, anh có nhìn qua đống chai lọ hoá dược phẩm, anh nhìn thấy một vài cái tên mà bất cứ một SHARK nào nghiên cứu về độc dược đều không lạnh mà run. Chắc chắn Ceto cũng đã nhìn thấy chúng, vì lúc vận chuyển túi đồ ấy, dù đang rất vội nhưng cả hai không cần nói một lời cũng hiểu rằng mình cần phải đối xử nhẹ tay với những “đứa trẻ” khó chiều này.

Rùng mình một cái, anh điểm lại trong đầu hàng loạt các loại chất độc mà Eth đã mang theo bên mình, những thứ đủ để giết chết cả một phi thuyền nếu như cậu muốn. VX được đựng trong một chiếc bình đặc chế bằng thép, vũ khí hoá lỏng giết chết người bằng enzyme exetylcholinesterase, ngay sau khi tiếp xúc, cơ thể sẽ phản ứng trúng độc với các biểu hiện tăng hoặc giảm huyết áp đột ngột, mờ mắt, tức ngực, ho, tiêu chảy, chảy dãi, ra mồ hôi liên tục, buồn ngủ, đau mắt, nhức đầu, đau bụng, tiểu tiện nhiều, thở gấp, chảy nước mũi, suy tim, co giật và chắc chắn tử vong nếu không rửa sạch chất lỏng kịp thời. Một loại khác anh có thể nhận ra là phosgene, một loại hoá chất công nghiệp được dùng trong chế tạo nhựa và thuốc trừ sâu trước đây. Hoạt động dựa trên cơ sở tấn công các mô phổi, ngay khi mới tiếp xúc, nạn nhân sẽ cảm thấy bỏng rát như cổ họng đang bốc cháy, thị lực cũng suy giảm, thở dốc và ói mửa, ho ra dịch màu hồng, huyết áp giảm mạnh và suy tim. Nếu anh không lầm, thì còn một bình đặc chế khác được dán nhãn “sarin”, thứ chất độc chỉ cần một giọt cũng có thể đoạt mạng người với khả năng gây chết cao gấp 26 lần xyanua.

Eth có thể giết hai vợ chồng nhà kia bất cứ lúc nào thay vì phải đuổi đánh Shigenis như vậy, vì lúc đó, sức lực của Shigenis đã giảm đi rất nhiều do tác dụng của thuốc và nếu muốn, cậu hoàn toàn có thể giết chết Varolai trước mặt chồng anh ta, nhưng cậu đã không làm thế. Chỉ cần một trong số các chất độc ấy là đủ, nhưng Eth lại mang tất cả theo bên mình. Vậy thì có hai trường hợp xảy ra, một là Eth không muốn giết họ mà chỉ muốn doạ họ mà thôi, hai là cậu mang tất cả chỗ thuốc độc bên mình để đảm bảo trong thời gian mình vắng mặt, không ai động tới những thứ chết người này.

Nói đúng hơn, Eth muốn giết họ, nhưng cậu không ra tay vì cậu không phải một tên sát nhân máu lạnh. Cho nên, Meg không cần phải trói cậu lại. Eth sẽ không giết anh, như cách cậu ấy chọn không giết vợ chồng Shigenis. Và Eth, có lẽ chính cậu ta cũng không ý thức được một cách rõ ràng, rằng cậu ta cần cảm giác một ai đó không ghê tởm mình và né tránh mình đến mức như thế nào.

“Tôi không giết anh ta,” Eth nói bằng giọng chắc nịch, ngẩng đầu lên nhìn thẳng vào mắt anh. Rồi như sợ anh chưa kịp hiểu ra, cậu lại nói tiếp bằng giọng gần như van nài anh. Eth đang nài nỉ anh, hãy tin lời cậu ta. “Người quản ngục đó, tôi không giết anh ta. Anh ta đã chết trước khi tôi đến tìm rồi.”

 “Tôi tin cậu.” Dợm bước tiến về phía Eth, anh chống một chân quỳ xuống để tầm mắt mình ngang với tầm mắt cậu rồi gật đầu. Lưỡng lự một hồi, anh cúi xuống nhìn vết thương được quấn băng ở cổ chân Eth, nheo nheo mắt lại quan sát cách nó được cố định lại. Thấy vậy, người trên giường cũng lấy làm lạ mà hướng mắt nhìn xuống chân mình, đoạn như hiểu ra điều gì đó, hai mắt mở to nhìn anh vẻ kích động. Đưa tay lên miệng “suỵt” một tiếng ra hiệu cho Eth giữ im lặng, tới khi nhận được cái gật đầu của người kia, anh mới thong thả nói tiếp. “Để tôi hỏi xem họ có nước sôi không nhé.”

.

Vừa mở cửa bước ra ngoài, anh nhìn thấy Ceto đang đi đi lại lại ngoài cửa. Túm vội lấy tay anh rồi lôi xềnh xệch về phía đám người đang quắc mắt nhìn nhau như kì phùng địch thủ bên ngoài, Ceto không nén được một tiếng thở dài:

“Em biết là anh sẽ không muốn nghe đâu, nhưng chúng ta cần xử lí vụ này.”

“Từ từ đã,” Trước con mắt sửng sốt của mọi người chĩa về phía mình, Megalodon đẩy Ceto sang một bên rồi tiến về phía chiếc thùng chất đầy thức ăn đóng hộp, lấy ra một túi trông có vẻ tạm được nhất rồi phe phẩy trước mặt Rham. “Cậu còn món nào mà người ốm ăn xong không nôn hết lục phủ ngũ tạng ra ngoài không?”

“Để tôi lấy giúp anh,” Rham nhìn nét mặt đanh lại của Varolai rồi nhún vai một cái tỏ vẻ trời không chịu đất thì đất phải chịu trời. Cầm lấy một cái bánh được đặt bên cạnh máy in, Rham đưa cho Meg. “Anh đói à?”

“Tôi mang vào cho Eth.”

“Tỉnh rồi cơ à…” Shigenis nói khẽ.

“Thì đã hỏi được tên nhau rồi đấy thôi.” Deino ở bên cạnh cười nhạt.

Tất cả mọi người dõi theo bóng lưng Megalodon một lần nữa khuất sau cánh cửa. Khoảng mười phút sau, anh quay lại. Nhìn một lượt khuôn mặt của những người trong khoang phi thuyền, anh thấy sự giận dữ, sự bối rối, sự tội lỗi cùng sự khó hiểu hiện lên trên ánh mắt họ. Khoanh tay trước ngực, Meg cười khẩy một cái, dáng dấp của một SHARK hoàn toàn biến mất. Trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người trừ Ceto, anh trào phúng:

“Tôi đã sẵn sàng nghe các anh rồi đây. Nào, kể tôi nghe xem Eth đã phải chịu đựng những gì nào.”

.

Location: Farout, ALLIGATOR’s spaceship, Somewhere in The Miscellaneous.

Nearest Destination: Reality Lab, Earth 54.

(Địa điểm: Phi thuyền Farout của ALLIGATOR, Đâu đó trong Vùng Hỗn Tạp.

Điểm đến gần nhất: Phòng thí nghiệm Thực Tại, Trái Đất 54.)

Trong khoang sinh hoạt chung, phi thuyền Farout, dù giọng nói của Varolai đã được hồi phục và không còn gì để lo ngại về sức khoẻ của những người vừa mới được cứu chữa nữa, nhưng bầu không khí căng thẳng và ngột ngạt đang bao trùm. Một cuộc tranh cãi nảy lửa bắt đầu diễn ra. Về cơ bản, các thành viên của phi thuyền tự động chia thành hai phe mà đứng ở hai đầu chiến tuyến là Megalodon – đại diện cho phía bảo vệ quan điểm của Eth – và Shigenis, người đang cảm thấy tức giận vì sự phi lí khi có một người rắp tâm làm hại mình và “chồng cũ”, tức Varolai chỉ vì một-con-mèo. Cuộc tranh cãi gay gắt tới độ mọi người đều bị cuốn phăng theo nó, và chỉ có một mình Varolai cùng Aul nhận ra cánh cửa phòng Eth vẫn chưa được đóng lại hoàn toàn. Thế nhưng, họ chọn không lên tiếng.

Cậu ta muốn nghe, vậy thì cứ để cho cậu ta nghe.

Shigenis: Từ bao giờ mà anh về phe cậu ta vậy? Cậu ta đã tấn công chúng tôi và bị cho là đã giết chết một người để phục vụ cho cái mục đích chết tiệt của cậu ta, nhưng anh…

Varolai: Shigenis, cẩn thận mồm miệng.

Shigenis: …nhưng anh vẫn đứng về phía một kẻ như thế và đứng đây, trước mặt chúng tôi? Những người là nạn nhân trực tiếp của cậu ta?

Meg: Theo tôi được biết thì hình như tôi chưa từng thuộc phe cậu thì phải.

Rham: Vấn đề quan trọng không phải là ai nghiêng về phe ai. Vấn đề mà chúng tôi cảm thấy khó hiểu chính là anh cảm thấy việc trả thù cho một con mèo là chuyện hết sức bình thường.

Meg: Vậy thì theo cậu, thế nào là bình thường và thế nào thì được coi là không bình thường? Vì tôi cho rằng tôi và cậu không đứng cùng một lập trường trong vụ này đâu, Rham.

Rham: Bình thường, chính là không vì một con mèo mà giết người.

Varolai: Nhưng mà…

Aul: Đối với cậu ta, giết người vì một con mèo là bình thường. Anh không thể thay đổi suy nghĩ của người khác được.

Deino: Đúng là suy nghĩ thì khó lòng mà thay đổi, nhưng chúng ta có quyền nhận định nó đúng hay sai, nên tuân theo hay không, không phải sao?

Aul: Đúng hay sai, nên tuân theo hay không, không thể chỉ phụ thuộc vào duy nhất bản thân cậu ta.

Rham: Tôi không hiểu ý anh. Dù có như thế nào đi chăng nữa, cậu ta là người quyết định xem mình có hành động theo cách ấy hay không.

Varolai: Tôi nghĩ là tôi hiểu được ý của Aul. Quyết định của một người phụ thuộc vào môi trường người đó được nuôi dưỡng, điều kiện hoàn cảnh và rất nhiều yếu tố khác tác động tới. Tâm lí của cậu ta bị ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực thì mới dẫn tới hành động như vậy, chắc chắn không thể chỉ một mình cậu ta định đoạt.

Deino: Nhưng tất cả những yếu tố ấy lại tổng hoà bên trong cơ thể cậu ta, là những thứ cấu thành cậu ta. Nhắc tới cậu ta, là nhắc tới tất cả các yếu tố mà anh vừa nhắc tới, là môi trường, là điều kiện, là hoàn cảnh, và không một ai có thể tách rời các khía cạnh đó ra khỏi một con người được. Chính cậu ta chứ không phải ai khác đã quyết định trả thù vì con mèo ấy, anh không thể nguỵ biện rằng đó là do nguyên nhân này, nguyên nhân khác để bạo biện cho hành động ấy được.

Rham: Và kể cả có lí luận theo cách ấy, thì sai vẫn là sai. Anh không thể nào biến sai thành đúng được, Varolai.

Varolai: Này này, các anh…

Aul: Được rồi, nếu như các anh đã nói như vậy, thế thì tôi cũng rất thắc mắc về chuyện này. Các anh bảo rằng một con người là sự tổng hợp tất cả các yếu tố cả nội sinh lẫn ngoại sinh, Eth cũng vậy, các anh cũng không ngoại lệ. Tất cả các yếu tố cấu nên con người anh, tức là bao gồm cả quan điểm về khuôn mẫu giá trị và chuẩn mực cũng đều gắn chặt vào con người anh, là một phần của anh. “Một phần” này của anh không giống của Eth, và hiện tại, tôi thấy phần đó bên trong anh đang kêu gào đòi bài xích một quan điểm khác, vốn gắn chặt với người khác. Anh nói rằng anh là người đúng, Eth mới là người sai. Vậy thì anh lấy gì để thuyết phục tôi, Eth không đúng, trong khi anh chỉ đang dựa vào “cái đúng” của anh để phán xét hành động của người khác?

Shigenis: Tức là anh cho rằng giết người vì một con mèo là đúng?

Meg: Tôi không thấy Aul nói bất cứ điều gì liên quan tới chuyện khẳng định giết người vì mèo là đúng, cho nên anh đừng có dán nhãn cho người khác như thế.

Shigenis: Nhưng chính anh ta đang ngầm tuyên bố rằng anh ta thấy chuyện cậu ta giết người vì cậu ta thấy là đúng đắn thì không đáng bị lên án, tôi không nghĩ là anh hiểu ý tôi.

Rham: Tôi vẫn cho rằng mạng người là quan trọng nhất.

Coprion: Từ khi nào mà tính mạng của con người lại được đặt ở vị trí cao hơn các giống loài khác thế?

Deino: Từ khi chúng ta sống bên ngoài vũ trụ đấy, Coprion.

Meg: Tôi chỉ thấy Aul nói rằng trước khi nghĩ tới chuyện đánh giá một ai là tốt hay xấu và việc người đó làm là đúng hay sai, anh phải đặt mình vào vị trí của người đó, chịu sự chi phối của hoàn cảnh, của môi trường, của đức tin, của văn hoá mà người đó thừa hưởng để suy xét. Với phần lớn chúng ta, không một ai vì một con mèo mà ra tay giết người. Nhưng với Eth, chuyện báo thù cho một con mèo không có gì sai. Cậu ấy đúng hay sai là do pháp luật quyết định, không tới lượt chúng ta. Tôi mong rằng đến giờ anh đã hiểu ý của chúng tôi.

Varolai: Hơn nữa, Eth không giết người của Livyatan đâu.

Shigenis: Em nhìn thấy người khác giết tay quản ngục?

Varolai: Em không nhìn thấy, nhưng em nhìn thấy khuôn mặt sửng sốt của Eth khi phát hiện ra anh ta đã chết. Lúc đó cậu ta chỉ mang theo người loại thuốc đã khiến anh tê liệt thôi, tức là chỉ muốn lấy trang phục và mẫu sinh trắc chứ không muốn giết người. Cậu ta cũng làm tê liệt người của Livyatan quản lí các băng ghi hình dáng đi của tất cả những ai xuất hiện trên máy quay bằng loại thuốc ấy, nên em không nghĩ Eth đã giết người.

Meg: Cuối cùng cũng có người lên tiếng về vụ này. Khi nãy Eth cũng nói với tôi rằng khi cậu ấy tìm đến thì người kia đã chết rồi.

Shigenis: Sao em không nói chuyện này sớm hơn?

Coprion: Anh ấy chỉ vừa mới hồi phục, và hình như đã cố gắng nói khoảng ba lần rồi nhưng không ai muốn nghe cả.

Shigenis: Nhưng dù sao thì… Nó cũng chỉ là một con mèo thôi…

Aul: Tôi phải nhắc lại bao nhiêu lần nữa để anh hiểu một điều rằng con mèo ấy có thể là tất cả những gì cậu ta có?

Shigenis: Nhưng cậu ta ích kỉ tới mức nào để có thể sẵn sàng làm hại người khác như thế? Tôi đồng ý với Megalodon rằng chỉ có pháp luật mới quyết định cậu ta có tội hay là không có tội và nếu như có ranh giới nào không được phép lấn qua, thì đó là pháp luật. Eth không giết người, tôi mừng cho cậu ta. Nhưng còn Varolai thì sao? Varolai đã làm gì có lỗi để mà phải chịu đựng đau đớn như thế? Trả thù ư? Varolai và tôi mất cả gia đình, nhưng chúng tôi có trả thù không? Chúng tôi có vì hận những kẻ gây ra cái chết cho các con chúng tôi mà xách một bọc đựng đầy hoá chất đi lang thang khắp vũ trụ để đuổi cùng giết tận không? Đừng có giở giọng với tôi rằng đối với chúng tôi thì bọn trẻ không bằng một con mèo nhé, vì tôi sẽ giết các anh đấy.

Shigenis: Các anh nghĩ rằng tôi chưa từng cảm thấy có lỗi ư? Tôi nhớ rõ từng phi vụ mà tôi đã làm, từng cái tên mà tôi đã vĩnh viễn xoá sổ, từng tên tội phạm mà tôi đã bắn gục, và các anh biết sao không? Trí nhớ của tôi hành hạ tôi hàng đêm. Bọn họ quay lại tìm tôi, cười nhạo tôi, tước đoạt đi sự tự do của tôi trong chính cơ thể tôi. Tôi chưa từng một lần ngừng dằn vặt bản thân mình vì đã giết chết họ và chỉ riêng việc ấy thôi cũng đã đủ khiến tôi phát điên. Tôi thấy có lỗi với Eth hay không? Tôi muốn quỳ xuống tạ tội với Eth ngay cả khi còn chưa biết khuôn mặt cậu ta trông ra sao.

Shigenis: Nhưng các anh có hiểu được cảm giác ấy không? Không, làm sao các anh hiểu được, cảm giác mỗi ngày đều phải gào vào hình ảnh phản chiếu của mình trong gương rằng mình không làm gì sai cả vì ngay thời khắc tôi lưỡng lự, chần chừ, thế giới mà tôi từng biết sẽ vỡ tan thành từng mảnh. Tôi phải bóp cò súng, vì đó là việc mà tôi giỏi nhất. Tôi được đào tạo để trở thành người đang đứng trước mặt các anh ngày hôm nay đây và chính anh! Phải, chính anh, Aulophyseter. Anh là người đã đào tạo tôi, đã nói với tôi rằng tôi không có tư cách để sống như một con người. Tôi giết người, và là một trong số những người được trao quyền để giết người. Chính anh, chứ không phải một ai khác đã khiến tôi trở thành Shigenis.

Shigenis: Lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất tôi kháng lại nhiệm vụ, các anh biết sao không? Họ đưa bọn trẻ đi, và gửi lại cho chúng tôi thủ cấp của chúng. Tôi mất bọn trẻ, tôi mất Varolai. Tôi đánh mất tất cả mọi thứ, tôi đánh mất chính bản thân mình, và tôi không cho phép bất cứ ai lấy đi thứ gì của tôi nữa, kể cả Eth. Nhiệm vụ, là nhiệm vụ. Tôi phải ra tay với con mèo ấy, vì đó là nhiệm vụ của tôi. Các anh có hiểu không? Đó là nhiệm vụ của-tôi.

Aul: Nhiệm vụ? Nhiệm vụ gì? Lúc nào?

Shigenis: Không phải chuyện của anh.

Aul: Tôi hỏi anh thằng khốn nào đã giao nhiệm vụ đó cho anh, vào lúc nào và việc của anh là trả lời tôi!

Shigenis: Tôi trả lời anh rằng đấy không phải chuyện của anh!

Coprion: Aulophyseter, hít thở sâu vào.

Varolai: Thôi ngay đi, Shigenis.

Shigenis: Anh xin lỗi, nhưng anh không bình tĩnh được. Cậu ta có thể giết em… Anh không thể mất em thêm một lần nữa được, Varolai.

Varolai: Chỉ là… dừng lại đi. Em xin anh đấy.

Meg: Tôi thành thực xin lỗi. Ý tôi là, sự mất mát của các anh…

Varolai: Không sao đâu, Meg. Không sao đâu.

Ceto: Tôi cũng xin lỗi vì đã xen ngang, nhưng nếu như Eth thực lòng muốn kết liễu hai anh thì bây giờ e rằng đến xác hai anh, người quen còn nhận không ra.

Deino: Ý anh là…?

Rham: Tức là chỗ hoá chất kia…

Meg: Có thể các anh không rõ, nhưng Eth đã mang theo rất nhiều loại chất kịch độc. Tất cả đều được đựng trong bình đặc chế và chưa có dấu hiệu sử dụng. Cậu ta mà muốn giết người, các anh có là đặc công hay điệp vụ thì cũng đều bỏ mạng dưới tay cậu ta thôi.

Coprion: Để tôi nói thêm về vụ này, Eth mà đã muốn các anh chết, chắc chắn sẽ không để các anh chết một cách nhẹ nhàng, cho nên nếu cậu ta chọn chất độc thay vì dao, tôi cũng không quá bất ngờ. Nhưng cậu ta đã dùng tới dao mặc dù biết khả năng cận chiến của mình thấp hơn các anh rất nhiều, nên từ đó có thể duy ra Eth chưa chắc đã muốn hành hạ các anh và nếu muốn các anh chết, cũng là một cái chết khá nhẹ nhàng. Thế nhưng, cậu ta có trong tay rất nhiều chất độc để sử dụng, chỉ cần chọn một trong số đó là được, vậy mà không mang theo đồ bảo hộ để tránh nhiễm độc, lại mang theo dao. Cho nên kết luận, cậu ta vốn dĩ không hề muốn giết hai anh.

Ceto: Tôi cũng muốn bổ sung, đó là cái chết do các chất kịch độc này gây ra không hề nhẹ nhàng. Nạn nhân đều phải chịu đau đớn khủng khiếp về mặt thể xác trước khi tắt thở. Nếu các anh muốn biết rõ hơn, tôi sẽ nhờ phòng thí nghiệm gửi tài liệu tới đây. Dù sao thì mặc dù tôi không trực tiếp làm việc trong phòng thí nghiệm, nhưng cũng có quen biết nhiều người bên đó, trước đây đã từng ngó qua các tài liệu của họ rồi, tôi nghĩ là nếu anh đọc được chúng, anh sẽ thấy biết ơn vì Eth chỉ dùng thuốc làm mất giọng nói với Varolai và thuốc làm tê liệt cơ bắp với anh.

Deino: Theo như các anh giới thiệu lúc đầu thì… Anh là chuyên viên lập trình còn Meg là Tiến sĩ ngành Kĩ thuật hàng không vũ trụ nhỉ?

Rham: Hai anh biết về chất độc trong khi không một ai nghiên cứu hoá sinh cả?

Ceto: Cũng giống như việc Eth là một nhà nhân chủng học và ngôn ngữ học nhưng có thể điều chế thuốc độc thôi.

Varolai: Ồ… Tự dưng tôi muốn biết cảm giác sinh ra là một SHARK thế nào quá.

Coprion: Không ai sinh ra đã là tiến sĩ cả, nhưng tôi sẽ coi đó là một lời khen.

Eth: Và nhà SHARK chúng tôi nghĩ rằng có người nên bắt đầu kể về “nhiệm vụ” của mình được rồi đấy.

Mọi người nhất loạt hướng về phía cánh cửa vừa bật mở. Nhìn thấy người bị thương vừa mới tỉnh lại đang tập tễnh bước ra ngoài, Aul tiến tới đỡ cậu ngồi xuống ghế rồi lẳng lặng án ngữ sau lưng Eth, Meg cũng nhanh chóng đi vào phòng lấy chiếc chăn mỏng ra phủ lên hai chân cậu. Sắc mặt Eth tuy vẫn còn nhợt nhạt, nhưng chí ít cũng không còn giống xác chết nữa cho nên Coprion thở phào một cái, đoạn kéo ghế lại gần người kia, lặng lẽ kiểm tra băng gạc trên trán. Thoáng bắt gặp tia nhìn hằn học của Eth chĩa thẳng về phía Shigenis, Meg đặt tay lên vai cậu rồi bóp mạnh một cái. Rham cùng Deino tuy có chút bằng mặt mà không bằng lòng, nhưng người thì pha nước ấm, người thì lấy gối tựa lưng cho cậu.

Gật đầu với Eth một cái rồi chỉ chỉ vào họng ngụ ý mình vẫn ổn, Varolai gạt nước mắt nhìn sang Shigenis đang đăm chiêu bên cạnh:

“Anh kể đi. Em cũng muốn biết loại người như thế nào mà có thể ra lệnh cho một WHALE đi giết một con mèo.”

Biết được Aul đang ở sau lưng mình, Eth hơi ngả đầu ra phía sau, làm động tác giả xoa xoa cần cổ rồi xoay đầu một vòng, dùng tiếng bụng mà nói chuyện.

“Anh có nước sôi chứ?”

Không hề đánh mắt về phía đám người đang tụ tập xung quanh Shigenis, Aul mỉm cười gõ nhẹ hai tiếng “Coong! Coong!” lên thành ghế. Liếc sang Megalodon đang mỉm cười nhìn mình, Aul điềm tĩnh đáp lại.

“Để tôi hỏi bọn họ xem sao.”

Ở phía đối diện, nhất cử nhất động của Aul và Eth đều lọt vào mắt Shigenis. Khoanh tay trước ngực, ngón tay trỏ bàn tay phải của Shigenis hướng về phía Aul mà vẽ một vòng tròn trong không khí.

.

Before El Demonio Negro, 4 years ago.

Location: Critical Incident Response Group’s spaceship,

Somewhere in The Heterogeneous.

Nearest Destination: Outer Space Linguistics and Literature Division, Earth 96.

(Tiền El Demonio Negro, 4 năm về trước.

Địa điểm: Phi thuyền của Đội Phản ứng các tình huống khẩn cấp,

Đâu đó trong Vùng Dị Thể.

Điểm đến gần nhất: Đơn vị Ngôn ngữ Ngoài hành tinh, Trái Đất 96.)

“Tất cả các đội vào vị trí tác chiến. Hết.”

“Đội Alpha, đã vào vị trí. Báo cáo, hết.”

“Đội Bravo, đã vào vị trí. Báo cáo, hết.”

“Bắn tỉa đã vào vị trí. Báo cáo, hết.”

“Đội giám sát đã nhận được hình ảnh hiện trường. Báo cáo, hết.”

“Mayday! Mayday!”

“Cập nhật tình hình đối tượng. Hết.”

“Đội tiền trạm A1. Hành lang phía Tây trống. Báo cáo, hết.”

“Đội tiền trạm A2. Hành lang phía Đông trống. Báo cáo, hết.”

“Đội tiền trạm A3. Phòng họp trống. Báo cáo, hết.”

“Mayday! Mayday! Chúng tôi cần tiếp viện! Ngay bây giờ!”

“Đội tiền trạm A4. Ba đối tượng trong phòng P14, đã khống chế. Báo cáo, hết.”

“Đội tiền trạm A5. Sáu đối tượng trong phòng P38, đã khống chế. Báo cáo, hết.”

“Mayday! Mayday! Tàu không gian XP-0908 bị khoá vào mục tiêu tên lửa. Chúng tôi có được bắn trả hay không? Mayday! Mayday!”

“Đội giám sát đã nhận được mẫu sinh trắc của A4 và A5. Báo cáo, hết.”

“Mayday! Mayday! Đây là tàu không gian XP-0909! Chúng ta đã mất XP-0908! Chúng tôi có được bắn trả hay không? Mayday! Mayday!”

“Đội thực địa. Đã lấy được gói hàng. Báo cáo, hết.”

“Mayday! Mayday! Shigenis, chúng tôi có được bắn trả hay không?”

 

.

 

“Này, Shigenis! Này này!”

Nghe thấy tiếng gọi bên cạnh, Shigenis giật nảy mình nhìn sang. Thấy khuôn mặt lộ rõ vẻ lo lắng của người kia, anh đưa tay lên vỗ trán, mắt nhắm nghiền lại vì cơn đau nửa đầu cộng thêm cảm giác tê buốt chạy dọc dây thần kinh không để anh được yên ổn lấy một phút. Nhanh chóng chỉnh lại tai nghe, anh nói vào micro.

“Nhiệm vụ hoàn thành. Thu đội. Hết.”

Gỡ tai nghe ra ném lên bàn điều khiển, Shigenis vò đầu bứt tóc. Nắn bóp trán một hồi cho tỉnh táo lại, anh nhập vị trí để chuyển sang chế độ lái tự động rồi ngả người ra sau ghế, lặng lẽ nhìn lên trần nhà. Lại một nhiệm vụ thành công, và đáng nhẽ ra anh nên cảm thấy vui mừng vì điều ấy. À không, thực ra anh vẫn nhẹ nhõm đôi chút vì không có thương vong nào. Nhưng sau tất cả, nỗi lo sợ trước mỗi nhiệm vụ luôn bủa vây, và Shigenis không thể gạt bỏ nỗi kinh hoàng ấy. Nỗi kinh hoàng sau “vụ đó”. Dù có hoàn thành bao nhiêu nhiệm vụ, anh cũng không tài nào bỏ lại quá khứ ấy sang một bên. Kí ức về những người đã bỏ mạng chỉ vì sự ngu xuấn của mình vẫn cứ không ngừng tra tấn anh. Nó không chỉ dội về hàng đêm. Nó quanh quẩn trong đầu anh, tấn công các neuron thần kinh của anh, xen vào giữa các mệnh lệnh của anh, lẫn cả trong hơi thở nặng nề của anh. Nó chiếm lấy anh, cướp đi cuộc sống của anh.

“Ulias, cô có nhớ tên họ không?”

“Họ là ai kia?”

Nghe thấy anh hỏi, Ulias tháo tai nghe, thắc mắc nhìn Shigenis.

“XP-0908 và XP-0909, cô còn nhớ tên thật của họ không?” Vẫn không nhìn cô, Shigenis vừa nói vừa cười nhìn lên trần phi thuyền. Đến cái đinh tán tròn trong mắt anh cũng méo mó dị hình.

“Shigenis…” Ulias thở dài hướng mắt lên màn hình, ánh mắt bất giác tìm về toạ độ mà XP-0908 và XP-0909 bị bắn rơi. “Không phải lỗi của anh, anh biết mà.”

“Choi Hyojung, Kim Mihyun, Yoo Shiah, Hyun Seunghee của XP-0908, Kim Jiho, Bae Yoobin, Choi Yewon, Shin Hyejin của XP-0909, các cô gái thuộc lực lượng phía Đông trong đội Orcinus của chúng ta…” Shigenis mấp máy môi, ánh mắt nhìn xa xăm. Ánh mắt ấy xuyên qua trần phi thuyền, xuyên qua hàng nghìn năm ánh sáng, tìm về với nơi linh hồn của đội WHALE nữ duy nhất của Earth 95 đang trú ngụ. Nơi họ đã hi sinh để trả giá cho lỗi lầm của anh.

“Thôi nào, Shigenis, anh biết là…” Ulias khẽ khàng. Cô biết, dù có nói tới thế nào đi chăng nữa thì cũng không có một sự thay đổi nào trong Shigenis. Bản thân chỉ huy của cô cũng không hề lựa chọn để cảm thấy mỗi ngày mình đều vỡ tan ra thành hàng triệu mảnh tới cả nghìn lần. Shigenis không hề muốn mỗi luồng khí tràn vào phổ đều lập tức biến thành những mảnh vỡ cứa thật sâu vào da thịt, vào từng tế bào cấu nên cơ thể ngày một rệu rã của anh. Ulias đã từng nói với anh, rằng mọi thứ đều có thể vượt qua được, giống như cách không kẻ thù nào mà anh không thể đánh bại. Chỉ cần anh quyết tâm, cô đã từng nói như thế đấy. Những lời dối trá đến mức ngay khi vừa mới dứt lời, cô thấy hai má mình nóng bừng lên và nước mắt cứ thế lăn dài. Ngày hôm ấy, Shigenis khóc cùng cô. Họ cùng khóc, và mặc kệ cho chính mình chết ngạt trong sự dối trá.

Shigenis đã từng nói với cô, rằng đúng là không một kẻ thù nào là không thể vượt qua, nhưng điều ấy chỉ có thể thực hiện được khi các Orcinus ở bên anh. Chính anh đã đặt họ vào tình thế hiểm nghèo, và rồi đánh mất họ. Đó là giây phút mà anh thua, Shigenis đã mỉm cười mà nói như thế. Nụ cười của một người đàn ông gần như không còn gì để mất nữa.

Nhiệm vụ của anh ngày hôm ấy là giải cứu con tin. Một tên điên đã bắt cóc con trai út của một Deinosuchus. Ừ thì, một tên điên, nhưng sẽ chẳng rắc rối đến thế nếu như hắn không phải là một tên điên quản lí kho vũ khí của Earth 95. Không được trọng dụng, không được nhòm ngó, cả đời chưa bao giờ có cơ hội thăng tiến, một kẻ thất bại muốn có được thật nhiều tiền từ một kẻ không muốn nhả ra một cắc nào, ngay cả là để bảo toàn tính mạng của đứa trẻ gọi mình là cha. Mọi áp lực đều đè nặng lên vai Shigenis, khi anh trực tiếp nhận được lệnh từ cấp trên, yêu cầu dẫn dắt đội Orcinus phía Đông tiến hành thương lượng và giải cứu con tin. Công việc thương lượng đã dần đi tới hồi kết, khi là Hyojung – một Livyatan – đã nói chuyện với tên bắt cóc và khiến hắn dần dần từ bỏ ý định của mình. Nhưng rồi tên Deinosuchus kia bất ngờ xuất hiện, với một túi tiền trên tay, trong một chiếc phi thuyền của ALLIGATOR rồi gào lên rằng hắn không thiếu tiền, nhưng thà mất con gái còn hơn là để tiền rơi vào tay một kẻ vô dụng.

Không một sự đả kích nào lớn hơn thế được nữa, với tên bắt cóc tống tiền, với đứa trẻ đang khóc nấc lên thành từng tiếng vì biết rằng tính mạng của mình không giữ được nữa, và với tất cả các WHALE nghĩ rằng mình vừa có thể được ra về sớm hơn mọi ngày. Hắn bắt đầu ngắm tên lửa vào các tàu không gian của Orcinus trong cơn điên loạn. Ngoại trừ phi thuyền chính kịp thời tránh né tên lửa nên chỉ chịu dư chấn, tất cả các WHALE ra thực địa hôm ấy đều mất mạng. Ai cũng biết rằng Shigenis không thể cho khai hoả vì con tin vẫn còn ở trên phi thuyền kia, và nhiệm vụ giải cứu con tin hôm đó đáng nhẽ ra phải được coi là thành công, vì ngay sau đó, người của Shigenis đã đổ bộ lên phi thuyền của tên bắt cóc và khống chế hắn. Nhưng tên bắt cóc đã giết chết con tin bằng một nhát dao ngang động mạch chủ ngay sau khi kích hoạt tên lửa ngắm vào XP-0908.

Dù không nói với nhau lấy một lời, tất cả mọi người đều ngầm hiểu với nhau rằng kể cả khi Shigenis làm khác đi, tức là đồng ý cho XP-0908 khai hoả, con tin vẫn sẽ chết. Nhưng Shigenis, anh lại luôn nghĩ rằng chính vì mình trù trừ nên con tin không cứu được, đến cả các Orcinus cũng không thể bảo vệ. Chỉ huy của cô một mực khẳng định rằng, nếu như ngắm tên lửa vào phía mạn phải của phi thuyền kia, họ vẫn sẽ cứu được đứa bé và chí ít thì sẽ làm hỏng bệ phóng tên lửa ở phía bên phải, và chí ít thì Orcinus sẽ không cần hi sinh một cách vô nghĩa tới như vậy. Các cô gái ấy, họ ngã xuống với ý nghĩ mình đã cứu được đứa bé. Sẽ ra sao đây, khi anh linh họ thổn thức vì cả tuổi xuân đã tắt lịm như tàn lửa sau vụ nổ kinh hoàng, và nhiệm vụ vẫn chưa được hoàn thành.

“Cô biết sao không, tôi không thể bỏ những cái tên ấy ra khỏi đầu. Lần đầu tiên tôi gặp họ, họ mới chỉ là những cô bé vừa mới vượt qua bài sát hạch. Lần thứ hai tôi gặp lại tám cô gái ấy, họ đã là Orcinus, xinh đẹp, trẻ trung, thông minh và tài giỏi hơn bất cứ ai tôi từng biết. Lần thứ ba tôi gặp họ, cũng là lần cuối cùng, là khi tôi lãnh đạo Orcinus và nhóm của tôi hành động, và tôi đã thất bại.”

“Họ tự hào vì là các cô gái của anh cho tới phút cuối cùng, Chỉ huy.” Ulias khảng khái nói. Giọng cô đanh lại, ánh mắt lộ rõ sự kiên định. Thấy anh đã nhìn mình, cô nói nói tiếp. “Chúng tôi tự hào vì là người của anh, thưa Chỉ huy.”

Shigenis nheo mắt nhìn Ulias, đoạn anh cười phá lên, cứ thế ngặt nghẽo một hồi không dừng lại được. Nhìn thấy vẻ hoảng hốt trên khuôn mặt Ulias, anh quệt nước mắt, cố gắng nín cười nhưng vẫn phải nói mãi mới xong một câu.

“Hai cô con gái nhà tôi… cũng muốn trở thành Orcinus để chiến đấu cùng tôi. Tôi bảo chúng… tôi muốn bảo chúng đừng ngu ngốc như thế.”

Hai đứa trẻ nhà Shigenis và Varolai, chúng giống như một biểu tượng. Bọn trẻ là biểu tượng của may mắn, hạnh phúc, niềm kiêu hãnh và cô chưa từng thấy một biểu tượng nào chứa đựng sức mạnh vô song tới như vậy. Nhờ có bọn trẻ, Shigenis và Varolai tới ngày hôm nay vẫn có thể trụ vững sau ngần ấy đau thương cùng mất mát. Kể cả khi bọn trẻ ra đi… Kể cả khi chúng không còn trên cõi đời này nữa, thì trong trái tim hai người cha của chúng, chúng vẫn sống, rạng rỡ và đáng yêu hơn bất cứ ai.

Apokalypsis đã ra lệnh giết hai đứa trẻ vì Chỉ huy Shigenis không hoàn thành nhiệm vụ. Cho nên, kì thực không phải Shigenis bất bại, mà là vì anh không cho phép mình thất bại. Đằng sau chuỗi những chiến tích huy hoàng của các WHALE là máu và nước mắt, là nỗi lo sợ không gì che giấu được mỗi khi nghĩ đến gia đình, về những người vợ, những người chồng và những đứa con. Apokalysis cho rằng, mỗi cá nhân đều cần có một động cơ để trở thành những chiến binh quả cảm nhất, và thế là họ đặt an nguy của người thân các WHALE vào chỗ nguy hiểm. Anh không hoàn thành nhiệm vụ, vậy thì anh phải chịu sự trừng phạt. Một WHALE phải chiến đấu cho tới lúc chết. Không thể về hưu, không thể từ bỏ vị trí, không thể gạt trách nhiệm sang một bên. Ngay cả khi họ kết hôn với một SHARK hay một ALLIGATOR, họ vẫn là một WHALE, lũ trẻ mà họ nuôi nấng vẫn nơm nớp lo sợ một ngày cha mẹ chúng bất lực quỳ xuống mong được chúng tha thứ.

Ulias nghĩ đến con trai mình, bỗng chốc thấy trái tim mình nặng trĩu. Chỉ trước ngày người ta đến bắt bớ bọn trẻ có vài hôm, Varolai còn tới thăm mẹ con cô. Giây phút nhìn Varolai ghì chặt con trai mình trong lòng, hôn lên trán con rồi nhắn nhủ với con rằng phải sống lâu thật lâu để bảo vệ bố mẹ, Ulias đã không cầm được nước mắt. Không gì đau lòng hơn nhìn một người cha biết mình sắp mất con nhưng vẫn cố tỏ ra kiên cường mà mình lại không thể làm được gì để xoa dịu nỗi đau có thể quật ngã cả những chiến binh quả cảm nhất ấy. Cũng không gì đau lòng hơn, nhìn một người lao đầu vào chỗ chết tới cả trăm lần, tự khiến mình bận rộn để quên đi đau thương, tự thách thức mọi giới hạn của bản thân để mong cái chết đến với mình thật nhanh, để về với các con, để không còn mỏi mệt, không còn dằn vặt, không còn khốn khổ nữa.

Những người làm cha, làm mẹ ấy thà từ bỏ mạng sống của mình cốt hoàn thành nhiệm vụ được giao còn hơn nhìn con mình chết tức tưởi như thế.

Sau chuyện đó, Shigenis và Varolai chia tay nhau, đường ai nấy đi. Shigenis tiếp tục chỉ huy đội phản ứng các tình huống khẩn cấp, còn Varolai, hiện tại không ai biết được cậu ấy đang ở đâu. Mọi thông tin về Varolai đều được giữ kín bưng, hành tung ra sao, e rằng nếu cậu ấy không chủ động làm lộ ra để nhử người khác sập bẫy, chẳng một ai nắm được. Chỉ huy của cô không thể nhìn mặt Varolai mà không thấy quặn thắt, cũng không muốn chồng mình sống trong nỗi khó xử thương không được mà hận cũng chẳng xong. Âu cũng là điều tốt, vì nếu là cô, cô cũng không nghĩ tới phương án nào khả quan hơn được nữa. Cảm giác mình là một kẻ tội đồ có thể giết chết một mối quan hệ, và rõ ràng, Shigenis hiểu mình không thể giữ Varolai ở bên lâu hơn được nữa.

Tương tự, cô quen biết Varolai đủ lâu để biết rằng cậu không phải kiểu người sẽ ôm lấy chồng mình mà thủ thỉ rằng anh không làm gì sai cả, chuyện xảy đến với các con chúng ta không phải là lỗi do anh, anh cần phải vượt qua những chướng ngại trong lòng mình, bởi vì chúng ta còn cả cuộc đời trước mắt và chắc hẳn các con cũng muốn thấy bố mẹ chúng hạnh phúc. Không, Varolai sẽ không nói như vậy với Shigenis, vì cậu ấy không nói dối. Cậu ấy không có cớ để trách cứ Shigenis, và cậu ấy đau khổ vì điều đó. Khi quá đau đớn, người ta sẽ luôn tìm một ai đó để trút hết mọi tội lỗi và giận dữ. Nhưng Varolai lại không thể trách mắng Shigenis, không thể căm hận anh, cho nên càng không thể nhìn mặt anh. Rời đi, trước khi yêu hoá thành hận, đấy là lựa chọn của họ.

“Nếu như tôi là anh, tôi cũng không thể làm tốt hơn được nữa đâu, Chỉ huy.” Hướng về phía anh, Ulias mỉm cười chua xót. Nhắm mắt lại, cô lắng tai nghe rồi nói như đang thầm thì với chính mình. “Varolai cũng không nghĩ có ai làm bố tốt hơn anh được nữa đâu, Shigenis.”

“Cảm ơn cô, Đội phó Ulias.”

Shigenis phì cười. Nhấn nút trên bảng điều khiển, anh đeo tai nghe, bắt đầu quan sát trên màn hình định vị. Đưa micro lên ngang miệng, Shigenis nói ngắn gọn.

“Bắt đầu giao hàng. Hết.”

Một chuỗi âm thanh tiếng động nối tiếp nhau vang lên, đầu tiên là tiếng mở cửa, tiếp theo là tiếng tay thuỷ lực kéo tàu không gian vào bên trong phi thuyền, rồi đến tiếng món hàng được lấy ra và đặt xuống sàn, cuối cùng là tiếng tàu không gian rời khỏi phi thuyền, tiếp tục thực hiện nhiệm vụ mới. Mỗi ngày đều đúng một quy trình như vậy, không có gì thay đổi. Shigenis nhận nhiệm vụ từ cấp trên, chia đội thành từng nhóm nhỏ để cùng nhau hoàn thành nó. Nhiệm vụ có thể là giải cứu, cũng có thể đơn giản như hôm nay, lấy một “món hàng” và tiêu huỷ nó. Thông thường, các món hàng này có thể là các loại chất cấm lưu hành, nhưng cũng có thể là một thứ của người chết mà chính phủ không muốn lọt vào tay ai, như cái phương tiện tình báo, tài liệu mật mà một điệp vụ giữ tại nhà riêng. Tất cả các “món hàng” đều phải được tiêu huỷ khẩn cấp trước khi để lọt vào tay người khác, cho nên tất cả đều được giao cho đội Shigenis.

Lần này, đội của anh và Ulias có nhiệm vụ lấy một “món hàng” tại Đơn vị Ngôn ngữ Ngoài hành tinh, nơi mà anh sẽ đặt chân tới nếu như khắp vũ trụ không còn nơi nào để đi nữa. Dù sao thì các WHALE vẫn thấy thân thuộc với các SHARK thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ thông tin hơn.

Đưa một đôi găng tay mới cho Ulias, anh tiến về phía chiếc hộp, cẩn thận bóc niêm phong ra. Nhưng thứ bên trong hộp khiến cả anh lẫn Đội phó Ulias phải sững sờ. Bên trong là một con mèo. Một con mèo vẫn còn sống.

Hít một hơi thật sâu, anh nhấn số khẩn cấp để liên hệ với cấp trên. Họ cần phải xác nhận lại nhiệm vụ, vì từ trước đến giờ, đội của họ chưa từng phụ trách tiêu huỷ sinh vật sống. Sống tới giờ phút này, tất cả đều rõ một sinh mạng đáng quý nhường nào. Một con mèo vừa mới qua đời, họ thậm chí còn muốn được chôn cất nó, vậy thì làm sao mà dám ra tay với một con mèo hẵng còn khoẻ mạnh thế kia? Phía bên kia nghe máy gần như ngay lập tức khiến anh và Ulias nhíu mày nhìn nhau. Cứ như thể họ chỉ chờ anh gọi tới để trả lời vậy.

“Chúng tôi đã nhận được món hàng, là một con mèo giống Siberian. Chúng tôi muốn xác nhận lại mệnh lệnh tiêu huỷ.”

Từ phía bên kia truyền tới âm thanh đùng đục như bị dùng máy biến đổi âm.

“Tôi là Ghost, người giao nhiệm vụ cho các bạn. Tôi xác nhận, mệnh lệnh tiêu huỷ dành cho Đội phó Ulias của Đội Phản ứng tình huống khẩn cấp.”

Đường dây bên kia ngay lập tức ngắt kết nối, tốc độ cũng nhanh không kém, để lại Ulias và Shigenis chưng hửng nhìn nhau. Ngồi phịch xuống sàn, Ulias đưa tay lên che miệng, vẫn còn kinh ngạc trước những gì mình vừa nghe. Rồi đột nhiên, cô đứng phắt lên phăm phăm tiến về phía khoang vũ khí rồi cầm một khẩu súng lên, chĩa thẳng vào đầu con mèo vì bị đánh thuốc mà mê mệt. Shigenis nhìn cả người cô run lên, lẳng lặng quay hướng nhìn sang chỗ khác. Anh không muốn nhìn khoảnh khắc này, có chết cũng không muốn nhìn.

Ulias đã từng giết người. Đúng, cả anh cũng vậy. Nhưng anh biết Ulias không thể ra tay với một con mèo. Thở dài đoạt lấy khẩu súng từ tay Ulias, anh ngắm vào con mèo, cố gắng trấn tĩnh lại để tay không run lên. Trong lòng anh, một nỗi oán hận trào dâng. Ghost biết rõ, anh không còn gì để mất, nhưng Ulias thì có. Bọn họ làm như vậy là để dồn cô ấy vào đường cùng, để cô ấy buộc phải ra tay. Một phát súng, đối với họ có lẽ cũng chỉ là một viên đạn xoay tròn bắn ra từ nòng súng. Nhưng đối với những người thực sự chiến đấu, mỗi ngày đều phải ngắm bắn đến cả trăm lần, anh ta, hoặc cô ta sẽ thấm thía sức nặng của hộp tiếp đạn có khi còn khiến người ta cầm trên tay cũng thấy như đeo chì. Một viên đạn bắn ra, một sinh mạng tàn lụi, những kẻ chỉ ngồi bàn giấy mà chỉ đạo, làm sao hiểu được?

Shigenis không trách Ulias vì cô không thể bóp cò. Người đội phó mà anh quen biết bao năm, mỗi lần bóp cò súng giết người đều là để bảo vệ bản thân và đồng đội trong cơn nguy biến. Mỗi lần chĩa súng vào bất cứ ai, anh biết Ulias đều nghiến răng mà làm cho xong nhiệm vụ. Cô chưa từng một lần làm hại tới một sinh vật sống nào, nhất là khi nó chưa từng phương hại tới mình. Một con mèo thì có thể làm hại ai kia chứ? Nó là… Nó là một con mèo, của một ai đó không thể bảo vệ được nó trong lúc đội của anh và Ulias đến bắt nó đi.

Bặm môi, anh nghĩ đến chủ nhân của con mèo đang nằm yên trong hộp kia, ngực như bị đè nặng, đến cả hơi thở cũng nghẹn lại. Giết bất cứ một sinh vật sống nào cũng đều khó khăn như nhau, bởi một lẽ ngay trước khi bóp cò súng, bóng lưng cô độc của một người lê bước trên hành lang của một phi thuyền chết lại lướt qua trong đầu anh. Một người coi sinh mạng đang được đặt dưới nòng súng của anh là cả vũ trụ, một người từ nay về sau sẽ thống khổ, sẽ đau lòng đến chết đi sống lại. Một người mà kể cả khi đã chết cũng sẽ bật dậy vì oán hận.

Một người giống như anh, ngay cả đến khóc cũng không khóc nổi, còn nụ cười chỉ kéo thành một đường méo xệch như đang mếu. Một người giống như anh và Varolai, chết ngạt trong chính thân thể mình. Một người tàn tạ cố gắng trốn thật sâu vào lớp vỏ bọc dần thối rữa. Một người giống như Ulias, nếu như cô mất đi đứa con trai duy nhất của mình.

Nhìn Ulias đờ đẫn giương mắt nhìn anh rồi lắc đầu nguầy nguậy xin anh buông khẩu súng xuống, Shigenis mỉm cười trong nước mắt. Chủ nhân của con mèo này là ai, anh muốn biết thì cứ tra là ra, nhưng anh không muốn. Bởi vì, một khi đã biết tên người ấy, biết người ấy là ai, anh sẽ không thể lấy cớ Ulias thân cận hơn với mình để dùng tính mạng con mèo mà đổi lấy mạng sống của con trai người đội phó đã cùng mình kinh qua biết bao nhiêu cuộc chiến. Ulias, là người thân của anh. Con trai Ulias, đã hứa với Varolai rằng nó sẽ sống để bảo vệ mẹ nó. Varolai… Phải rồi, Varolai… Anh không muốn Ulias trở thành một Varolai thứ hai, đếm từng ngày chờ đợi trở về với cát bụi. Anh muốn cứu vãn. Anh muốn cứu lấy chính mình, cứu lấy bọn trẻ, cứu lấy Varolai ngày hôm đó chết lặng nhìn bầu trời dần sập xuống đầu gia đình họ. Bọn trẻ, Varolai, anh, và hai mẹ con Ulias… Bọn trẻ…

Yeoreom, Gaeul, các con ơi…

“Đội phó Ulias. Nói với mọi người, là cô đã hoàn thành nhiệm vụ.”

Một tiếng súng chát chúa vang lên. Con mèo không giãy giụa. Nó chỉ nằm yên, rồi cứ nằm yên ở đó. Máu chảy ra từ lỗ đạn trên đầu, loang ra, rồi lại loang ra mãi, kéo dài kết thành bóng lưng độc cô cầu bại của một kẻ lang thang khắp vũ trụ.

.

Location: Farout, ALLIGATOR’s spaceship, Somewhere in The Miscellaneous.

Nearest Destination: Reality Lab, Earth 54.

(Địa điểm: Phi thuyền Farout của ALLIGATOR, Đâu đó trong Vùng Hỗn Tạp.

Điểm đến gần nhất: Phòng thí nghiệm Thực Tại, Trái Đất 54.)

“Hai đứa nhà anh, cách nhau bao nhiêu tuổi thế?”

Ngồi bó gối trên giường, Eth nghiêng đầu tựa lên hai cánh tay đang ôm lấy đầu gối, đưa mắt nhìn Varolai đang ngồi bên giường mình. Sau khi nghe xong câu chuyện của Shigenis, mọi người ai về phòng đã được Rham và Deino sắp xếp để nghỉ ngơi, không nói ra nhưng nhìn vào mắt nhau, họ nhìn thấy cả khuôn mặt phờ phạc của mình cùng sự mỏi mệt của người đối diện. Quá nhiều nỗi đau bị khơi lại, và cơn đau khi cứa dao lên vết thương đã lành miệng lúc nào cũng khiến người ta khổ sở hơn rất nhiều. Nhưng đằng nào cũng phải nói ra, để thông cảm cho nỗi đau của nhau hơn, bản thân mình chịu đau một chút, tính ra cũng không hề gì. Ít nhất, Eth đã tạm thời không dùng ánh mắt thù hằn mà nhìn Shigenis nữa, và Shigenis cuối cùng cũng đã tiếp nhận sự thật rằng Eth vốn không hề muốn giết Varolai, vậy là được rồi.

Ở đời, có thể thấu hiểu tấm lòng nhau, những băn khoăn của nhau, những oan khuất của nhau, thật sự không gì bằng được nữa. Khó khăn. Thực sự rất khó khăn để chấp nhận một người, khi mà mỗi lần nhìn thấy khuôn mặt người đó, lòng ta chỉ nghĩ tới những kí ức tồi tệ mà người đó đã để lại. Thế nhưng, dù có khó khăn cách mấy, đến một lúc nào đó, chúng ta vẫn phải chấp nhận sự tồn tại của nhau và cho nhau một đường sống. Lắng tai nghe nhịp đập rộn ràng trong lồng ngực nhau, chạm tay vào nỗi đau xé lòng của nhau, nhắm mắt lại là thử hình dung mình là người kia, trong cảnh trớ trêu ấy, để rồi hít một hơi thật sâu để nói một câu: ngày hôm nay, tôi tha thứ cho anh.

Tha thứ cho những gì anh đã làm với tôi. Tha thứ cho những gì tôi đã gây ra cho anh. Tha thứ cho những gì tôi đã dày vò tôi. Tha thứ cho những gì anh đã đày đoạ chính mình. Không hề dễ dàng để nói ra những lời này. Chúng ta, xét cho cùng vẫn giỏi chì chiết nhau hơn là hoá giải những hiểu lầm. Con người, có đôi khi thà rằng bấu víu vào chân lí mà mình tin tưởng để không rơi thẳng xuống vực sâu tuyệt vọng khi phải công nhận rằng mình đã nghĩ sai cho một ai đó. Chưa một giống loài nào lại sợ sai và sợ phải nói rằng mình đã sai như con người cả. Nỗi ám ảnh về việc buộc phải nhận sai cứ thế đeo đẳng chúng ta, trở thành một phần da thịt chúng ta như một cái bớt, một vết chàm xanh, khiến chúng ta cúi gằm mặt mà nhìn xuống chân mình rồi tự hỏi vì sao mình lại xứng đáng có được một cơ hội để đứng trên đôi chân ấy. Chúng ta trốn tránh những câu “tôi đã nói rồi mà”, những lời “anh sai mà anh không chịu nhận”, những lẽ “đúng là thứ ngu dốt, nông cạn”. Chúng ta trốn tránh chính mình. Hơn ai hết, thâm tâm ra phán xét đâu ra đấy ai sai, ai đúng. Chúng ta thấy mình không hơn không kém thứ cặn bã, vì chúng ta hiểu mình mới là người sai nhưng hèn nhát không dám nhận.

Tha thứ cho một ai đó, cũng chính là buông tha cho chính mình. Nhận sai trước một ai đó và nhận được sự tha thứ là lúc chúng ta giải phóng bản thân khỏi mọi tội lỗi, mọi áy náy, mọi khó xử, một trăn trở, một sự tự hành xác. Kể từ giây phút ấy, chúng ta hoàn toàn tự do. Eth muốn được tự do.

“Ba tuổi. Yeoreomie là chị, Gaeulie là em.” Nghĩ đến các con, Varolai vô thức bật cười. Anh không nghĩ rằng, rồi cũng có một ngày mình nói về bọn trẻ một cách thoải mái đến như thế này. Cũng có thể vì Eth không còn khiến anh thấy khó chịu nữa, nhưng cũng rất có thể – và chính anh cũng mong muốn điều ấy, là anh đã tha thứ cho bản thân mình. Không phải là anh không thấy mênh mang vô định khi nói đến tên hai cô con gái, mà là nỗi đau không còn khiến Varolai choáng ngợp như trước đây nữa.

“Yeoreom có nghĩa là mùa hè, còn Gaeul là mùa thu. Chị gái tôi và chị gái anh ấy đặt tên cho hai đứa đấy.” Varolai nói bằng giọng hoài niệm, nhưng không nghe ra được một nửa điểm tiếc nuối nào. Trong lòng anh lúc này chỉ có niềm vui thích khi nghĩ về những ngày tháng đẹp đẽ đã qua. Niềm vui ấy kéo khoé miệng anh thành một nụ cười rạng rỡ. Đặt tay lên bàn chân Eth đang xoa xoa vào nhau trên giường, Varolai hơi ngả về phía cậu, nói bằng giọng hào hứng. “Cậu không biết đâu, chúng tôi cũng không ngờ rằng cái tên lại phù hợp với hai đứa đến như vậy.”

Khoát tay một cái trong không trung, đôi mắt Varolai lấp lánh như chứa đựng muôn ngàn ánh sao. Lúc này, trái tim anh tràn ngập hình bóng hai đứa trẻ.

“Thường thì cô chị sẽ điềm đạm hơn, nhỏ nhẹ hơn, còn cô em út thì sẽ cá tính, phá cách, đúng không? Nhưng mà Yeoreomie lúc nào cũng sôi nổi, hoạt bát như mùa hè, còn Gaeulie thì không khác gì một bà cụ non, luôn luôn trầm tư, kín đáo. Cậu xem, hai đứa nó giống như phiên bản thu nhỏ của tôi và anh ấy vậy. Ý tôi là… Trông bề ngoài chúng tôi có phần hơi khốc liệt, tính khí cũng theo kiểu con nhà binh, nhưng thực ra Shigenis lại là kiểu người sống nội tâm. Ban đầu, tôi còn không nghĩ anh ấy có thể mau chóng hoà nhập với mọi người như thế này đâu, thật may quá, cãi nhau một hồi, thế là bỏ qua đoạn ngại ngùng lúc mới làm quen luôn. Chứ bình thường nhé, có khi biết nhau mấy tháng cũng chưa chắc đã nói chuyện quá ba câu với anh ấy đâu.”

Nói đến đây, Varolai tặc lưỡi một cái. Thấy anh như vậy, Eth không nhịn được mà bật cười, vết thương ở bụng lại nhói lên một cái. Cho tay xuống xoa xoa chỗ bị đau, Eth cảm thán trong lòng, thật sự không hiểu vì sao mà cách người này nhắc đến chồng mình không khác mấy kể chuyện về một đứa trẻ to xác, lớn đầu mà dại, lúc nào cũng khiến người ta phải lo lắng.

Vì Varolai đã mở lòng với mình, Eth tự thấy bản thân cũng nên cởi mở hơn một chút. Nghiêng đầu suy nghĩ ra chiều lung lắm, cuối cùng cậu cũng tìm được chuyện gì đó để nói. Cậu đổi tư thế từ ngồi bó gối qua ngồi khoanh chân để tránh chạm vào vết thương rồi mới từ tốn nói chuyện. Ánh mắt chăm chú lắng nghe của Varolai cũng ít nhiều khiến Eth thấy được động viên.

“Tôi… Tôi là con thứ hai. Trên tôi còn có một anh trai nữa, cũng là một Ethereal Snailfish. Khác với tôi, anh ấy hứng thú với công nghệ vi sinh hơn. À, so với anh ấy thì tôi cũng… chắc là điên hơn, tôi nghĩ thế? Kiểu anh nói ấy, tôi có phần nghịch ngợm hơn và… không biết nghe lời? Tôi cũng không biết phải diễn tả thế nào nữa, nhưng mà tên chúng tôi… À mà không…”

“Cậu định nói ra tên mình cho tôi luôn đấy à?” Thấy Eth gãi đầu gãi tai, Varolai phá lên cười sảng khoái. Người này trông như vậy, không ai dám nói là sẽ có ngày cậu ta đi khắp nơi lùng cho bằng được kẻ đã giết con mèo của mình, ai ngờ không nói không rằng cứ lẳng lặng mà cho anh cùng Shigenis một trận lên bờ xuống ruộng. Một người như thế, tự dưng lại trông ngốc nghếch như thế này, quả nhiên là khiến người khác không thể không vui vẻ. Nếu như gặp nhau trong hoàn cảnh khác thì tốt biết mấy, nhưng dù sao có thể trò chuyện thân tình với nhau thế này đã là rất quý rồi. Anh không có nhiều bạn bè, nói thẳng ra là không thể gần gũi quá với ai được vì công việc, nhưng có một anh SHARK ngốc ngốc như thế này cũng hay. Dù cậu ta không đáng yêu vừa đúng kiểu anh thích như là Deino (thật sự đấy, Deino cùng vẻ tẽn tò của cậu ta lúc dí sát vào mặt anh rồi bị giật mình vì anh mở trừng trừng mắt nhìn lại khiến Varolai thấy người này thực sự rất đáng yêu), nhưng Eth sẽ là người cùng anh nói được chuyện trên trời dưới biển.

Giúp Eth kéo chăn phủ lên chân, Varolai hào hứng hỏi chuyện:

“Vậy, công việc cụ thể của cậu ở đơn vị là gì thế? Tên đơn vị của cậu là…”

“Đơn vị Ngôn ngữ Ngoài hành tinh.” Thấy Varolai ngập ngừng, Eth tiếp lời.

“À đúng rồi, Đơn vị Ngôn ngữ Ngoài hành tinh. Xin lỗi cậu nhé, tôi không có ý gì đâu, chỉ là cái tên này hơi khó ghi nhớ thôi. Dù nó khá đặc biệt.” Varolai cười cầu hoà mong cậu thứ lỗi cho mình.

“Không sao đâu, dù sao tôi cũng ghét cái tên ngớ ngẩn ấy.”

Câu nói của Eth cùng cái đảo mắt của cậu khiến Varolai lại phá lên cười. Quả nhiên, Eth rất có cá tính. Kiểu người có quan điểm rõ ràng như thế này, mỗi lúc một hiếm có khó tìm. Thời buổi này, ai cũng luồn cúi để có một chỗ dung thân, không mấy ai dám nói thẳng, nói thật hay nêu ý kiến về người khác. Dám nói rằng mình ghét tên đơn vị vì nó “ngớ ngẩn”, đúng là ăn gan hùm rồi. Nhưng mà anh và tất cả mọi người đều thấy thích một Eth như thế này. Ai cũng dè dặt không dám nói ra thì đúng là chán chết.

Anh không có nhiều cơ hội tiếp xúc với các SHARK, ngay cả Helicoprion là người chung phi thuyền với mình nhưng anh cũng chẳng có mấy cơ hội gặp cậu ta nữa là. Đối với Varolai thì các SHARK chắc hẳn phải trông hơi cù lần một chút, là một đám đầu to não phình vì dành cả đời cho việc học hành, nghiên cứu, không bao giờ thấy bén mảng tới các buổi huấn luyện trừ khi phải tham gia các cuộc tập trận, lúc nào tay cũng đeo găng, ôm khư khư một đống tài liệu đã cũ kĩ tới mức không thể tìm thấy trên hệ thống máy tính, nói chuyện thì lắp bắp, không giỏi giao tiếp xã hội, lắm lúc nhặt lá đá ống bơ. Nhưng từ lúc lên phi thuyền này, được gặp Megalodon, Cetotherium, Helicoprion và bây giờ là Ethereal, anh mới hiểu ra từ trước đến nay mình đã nhìn các SHARK bằng cái nhìn phiến diện ra sao.

Họ không chỉ lỗi lạc trong chuyên môn của mình, mà còn tạo cảm giác dường như không gì họ không biết. Nếu như vũ khí của các WHALE là súng ống, đạn đạo, thì vũ khí của họ chính là trí tuệ cùng tiềm năng phát triển về mọi mặt. Họ trong mắt người khác có thể là phần tử đáng sợ nhất nếu có một ngày nổi loạn đứng lên lật đổ chính quyền, vì sự thông minh của họ đã khiến họ là nỗi sợ của rất nhiều người ngay cả trong thời bình rồi. Nhưng sau khi tiếp xúc với các SHARK đến từ những gia đình lớn nhất trong vũ trụ – thật kì diệu khi mà anh có thể gặp họ ở cùng một chỗ như thế này, điều không mấy khi xảy ra vì ai cũng biết, một núi không thể có tới hai hổ được, các gia đình thường tập trung tại hai cho tới ba phi thuyền và coi đó là cát cứ của mình để dễ dàng quản lí và phô trương thanh thế – anh nghĩ rằng không có ai nguy hiểm cho tới khi chúng ta dán nhãn cho họ như vậy.

Loại bỏ đi định kiến, ai ai cũng đáng yêu và vô hại.

Anh không thể nới lỏng cảnh giác của mình với mọi người. Điều này có được nhờ nhiều năm lặn lội tìm cách che giấu danh tính thật của mình, trà trộn vào giữa đám đông rồi biến mình thành một phần của nó, cho nên ngay cả khi không có nhiệm vụ, Varolai cũng khó mà bỏ được thói quen quan sát tất cả mọi người ngay từ lần đầu diện kiến và ghi nhớ những đặc điểm thuộc về họ. Mỗi khi nhìn vào đám đông, mọi người sẽ bị ấn tượng trước tiên bởi mật độ người trong đó, tiếp theo là cung cách họ ăn mặc, tác phong của họ khi đi trên đường, sự bận rộn hiện rõ trên nét mặt, dáng đi, cách họ nhìn đồng hồ. Nhưng Varolai khi nhìn vào một đám đông, anh chỉ tập trung ghi nhớ các khuôn mặt mà loại bỏ hết những thứ thường xuất hiện trong lời miêu tả về một người vô tình gặp được trên đường. Không phải kiểu tóc, không phải cách trang điểm, không phải trang sức, càng không phải trang phục. Những thứ như vậy hoàn toàn có thể thay đổi bất cứ lúc nào. Tới một thời điểm nào đó, khi cần đến, chỉ có kí ức về những khuôn mặt mới phát huy tác dụng mà thôi. Một ánh mắt, một cái khịt mũi, một cái bặm môi, một cái nghiến răng, một động tác hất hàm, tất cả những đặc điểm ấy không dễ dàng mất đi chỉ trong chốc lát. Khi nhìn vào một đám đông, Varolai nhìn thấy những âm mưu.

“Shigenis, anh ta thế nào rồi?” Nhìn những vết thương được băng bó trên cánh tay Varolai, Eth sực nhớ ra mình chưa hỏi han gì tình hình hai người bọn họ. Nhận ra khuôn mặt người kia có đôi chút chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra, cậu đổi câu hỏi. “Shigenis bị thương có nặng không?”

“Nhẹ hơn cậu, cũng không trúng phải gân cốt gì, vẫn xa ruột lắm.” Varolai nghĩ người kia hẳn là thấy áy náy vì những gì cậu ta đã làm với Shigenis, liền lắc đầu rồi mỉm cười. “Cậu đừng nghĩ nhiều. Bọn tôi đánh đấm suốt ngày, một vài thương tích như vậy thực sự không là gì.”

Thở dài một tiếng, xem ra Eth thực sự không phải kiểu có dã tâm giết người. Mới nộ khí xung thiên đánh người như vậy thôi mà đã cảm thấy phiền não, dũng khí giết người lấy ở đâu ra đây? Phát điên lên thì xả cơn tức vậy thôi, chứ gan làm liều thật sự bé như gan thỏ. Nhưng nói như thế không phải là đang muốn khuyến khích người ta nuôi gan cho lớn rồi cầm súng ra đường xả vào người đi bộ đâu. Ai cũng không có gan hại người như thế này, anh và Shigenis đã thất nghiệp từ lâu rồi.

“Thôi nào, tôi nói thật đấy,” Varolai bỗng dưng nhớ cảm giác mình dỗ hai đứa trẻ con ngày trước. Đây là công việc cần rất nhiều kiên nhẫn, vì không phải đứa nào cũng chịu ngồi yên nghe anh nói cho hết câu, và không phải đứa nào nghe anh nói xong cũng chịu làm theo. Đứa trẻ to xác ngồi trước mặt anh lúc này đây sắp soán ngôi Yeoreomie và Gaeulie trong khoản không biết nghe lời là gì. Ngang ngạnh, ương bướng và cũng có thể coi là lì đòn – trong một số trường hợp, nhưng Shigenis lại một mực khẳng định bọn trẻ học được tính ấy từ anh. Nghĩ tới đây, anh thấy Eth gần gũi với mình đến lạ kì, lời nói ra cũng nhờ thế mà nhẹ nhàng hơn, tình cảm hơn. Đẩy vai Eth một cái, Varolai cười khanh khách. “Anh ấy không bị thương nặng, sẽ sớm bình phục thôi. Yên tâm đi, tôi không ghét cậu, Shigenis cũng sẽ không ghét cậu.”

Nói ra điều này kể cũng hơi kì quặc, nhưng sẽ có một vài thời điểm, rõ ràng là người ta xử sai với mình trước, nhưng sau cùng khi mình ra tay trả đũa họ lại không ngừng thấy có lỗi. Tuy vậy, vẫn cứ nên thấy mừng. Vì không phải ai cũng thấy cắn rứt khi làm đau người khác đâu. Người như vậy mỗi lúc một hiếm, cho nên cần phải ra sức mà bảo vệ.

Lần này, xem như một công đôi việc rồi.

“Tôi đã muốn trả thù, nhưng bây giờ lại thấy mình không thực sự vui vẻ đến thế sau khi làm đau Shigenis.” Ánh mắt Eth mông lung vô định, giọng nói cũng hơi lạc đi. “Thật buồn nôn… Buồn nôn thật đấy, khi chúng ta giết chết kẻ giết người chỉ để chứng minh giết người là sai trái.”

“Kể cho tôi nghe về công việc của cậu đi,” Varolai trèo lên giường, ngồi xếp bằng, mau chóng nói sang chuyện khác. “Tôi có nghe nói đến đơn vị các cậu, nhưng vẫn phải thắc mắc vụ này. Các cậu thật sự nói chuyện với người ngoài hành tinh?”

“Không phải chúng ta hiện tại mới là người ngoài hành tinh à?” Thấy Varolai ngẩn người ra, đến lượt Eth bật cười. “Chúng ta có sống trên hành tinh nào đâu, nên đối với họ thì con người mới thực sự là người ngoài hành tinh.”

“Nghiên cứu về ngôn ngữ ngoài hành tinh chỉ là một phần công việc của chúng tôi thôi. Công việc của chúng tôi, xét về bản chất, là nghiên cứu về tất cả các ngôn ngữ hiện vẫn còn được sử dụng trên các phi thuyền.” Eth nói tiếp. “Trước khi làm việc với ngôn ngữ, tôi là một nhà nhân chủng học. Tôi mới chuyển đến đơn vị này không lâu sau khi vượt qua bài kiểm tra. Ngoài ngôn ngữ, tôi còn nghiên cứu thêm về hệ thống các kí hiệu nữa.”

“Tôi thành thạo năm thứ tiếng này, nhờ công việc cả,” Varolai phẩy tay một cái tỏ ý như vậy vẫn chưa nhằm nhò gì trước ánh mắt không giấu được sự ngạc nhiên của Eth, đoạn tủm tỉm cười, nói bằng giọng kì vọng. “Cậu dùng được bao nhiêu ngôn ngữ thế?”

“Để tôi xem nào…” Eth xoa xoa cằm rồi nói bằng giọng tự hào, “Năm mươi sáu?”

Thấy Eth rõ ràng không hề nói đùa, Varolai giơ tay đập một cái thật mạnh lên đùi người ta, vừa nói vừa giả vờ cáu kỉnh.

“Thế mà khi nãy cứ làm ra vẻ bất ngờ cho tôi vui, hoá ra nãy giờ chỉ có tôi là múa rìu qua mắt thợ. Hừ…”

“Anh hỏi thì tôi nói thôi, chứ ai dám múa cái gì trước mặt anh.” Eth cũng khoái chí cười vang rồi lại đưa tay ôm bụng. Vì thấy Eth nhịn đau, Varolai tự dưng thấy hả hê một chút. Tên này khiến anh đang hí hửng vì mình đã khiến một nhà ngôn ngữ học phải trầm trồ thán phục, ai ngờ đâu là đang muốn chọc quê anh. Khoanh tay trước ngực, anh bày ra khuôn mặt đáng-đời-cậu rồi vui vẻ cười theo.

Quả thực, lâu lắm rồi Varolai mới thấy thoải mái như thế này. Varolai dùng ngón trỏ và ngón cái bàn tay trái mà ôm trọn lấy cổ tay phải, xoay nhẹ nhàng hai ngón tay quanh cổ tay hai cái, đoạn mấp máy môi. Dựa theo khẩu hình miệng, một thông điệp được truyền tới Eth một cách khá rõ ràng và chính xác là điều cậu đang muốn nghe lúc này.

“Để lũ mèo cho chúng tôi. Có nước sôi rồi.”

.

Nhìn vào trong phòng qua cánh cửa khép hờ, Megalodon thong thả nhấp một ngụm nước, khoé miệng phảng phất ý cười. Đừng bên cạnh anh, Rhamphosuchus cũng hướng ánh mắt về phía tấm lưng Varolai đang hướng về phía cửa, lặng lẽ quan sát Eth đang cười đến chảy cả nước mắt khi thử liệt kê các ngôn ngữ mình thành thạo. Cho hai tay vào túi quần, Rham lên tiếng.

“Ai mà nghĩ bọn họ có thể ngồi với nhau cả tiếng đồng hồ thế này chứ?”

Nghĩ tới tia nhìn thù địch của Eth cùng cái nghiến răng kèn kẹt tức tối của Varolai, Meg gật đầu. Uống cho xong cốc nước, anh quay lưng toan rời đi, không quên nói với người bên cạnh.

“Tôi về phòng.”

“Nhưng lát nữa anh lại vào trong đó với Eth mà, giả vờ về phòng làm gì nhỉ?”

Nghe thấy tiếng cười khẩy của người kia, ánh mắt Meg loé lên một tia kì lạ. Thở dài một cái, anh xoay xoay chiếc cốc rỗng không trên tay, vẫn không quay lại nhìn mà cứ đứng nguyên tư thế quay lưng lại với Rham, không cho người kia thấy được nụ cười ngạo nghễ của mình. Không thấy anh nói gì, Rham nhếch mép.

“Sao? Nói đúng rồi nên không cãi lại được?”

“Hình như chuyện tôi qua đêm ở đâu không quá liên quan tới cậu thì phải?” Megalodon cười gằn.

“Đừng giở trò với người trên phi thuyền của chúng tôi.” Rham trừng mắt nhìn tấm lưng người kia khẽ run lên vì cười, không buồn che đậy sự bực dọc trong lời nói của mình. Việc Meg quá quan tâm đến người kia rõ ràng là không bình thường, và không phải chỉ một mình anh thấy lăn tăn về chuyện ấy. Khi nãy, trước lúc theo Eth vào phòng, Varolai có nói nhỏ với anh là phải để mắt tới Megalodon, ngay cả Coprion tỏ ra không quan tâm thế sự cũng đang mở hé cửa phòng để nghe ngóng bên ngoài. Một người nghi hoặc có thể cho là do bản thân tự làm quá lên, nhưng nếu người khác cũng nhìn ra được, chứng tỏ có vấn đề. Hơn nữa, rõ ràng Megalodon không buồn che giấu việc mình đang từng bước tiếp cận Ethereal và dường như cả hai người bọn họ đều ý thức được điều này, cho nên Rham lại càng thêm khó chịu. Anh ghét nhất cái vẻ khệnh khạng ấy, ghét nhất.

Không tiếp chuyện anh nữa, Megalodon thủng thẳng rời đi. Rham rướn người hỏi với theo một câu cuối cùng.

“Này, rốt cuộc thì anh là ai?”

“Tôi ấy à,” Meg quay đầu lại, cười híp mắt nhìn Rham khiến anh vô thức nuốt khan. “Cậu nghĩ tôi là ai thì tôi là kẻ đó.”

.

Phải mất một lúc thì Deino mới nhận ra Aulophyseter ngồi lặng thinh trong bóng tối một mình. Nếu như không nhờ ánh sáng lập loè chớp tắt hắt ra từ khoang lái, có khi Deino đã vô tình đi ngang qua anh mà không hay. Dò dẫm bước tới tìm một chỗ trống để ngồi xuống bên cạnh, cậu nghe thấy tiếng lách cách nho nhỏ.

“Bình thường anh cũng ngồi lắp súng trong bóng tối thế này à?”

Người bên kia dường như không để ý đến cậu khiến Deino thất thố mà ngượng nghịu cúi xuống nheo mắt nhìn bàn tay mình trong bóng tối. Mãi một lúc sau, người kia mới lên tiếng giữa những âm thanh lách cách của kim loại va vào nhau.

“Không phải lúc nào tôi cũng thế này đâu.”

Rồi đột nhiên, người kia nói lớn giọng như thể đang muốn phân bua, chộp lấy cổ tay cậu mà lay lay mấy cái.

“Không phải lúc nào cũng tệ thế này đâu.”

“Vậy tức là hiện tại anh đang không vui?” Deino cười rộ lên. “Chỉ khi không vui mới thế này thôi à?”

“Ừ…”

Một thoáng im lặng. Lát sau, Deino gỡ lấy khẩu súng ra khỏi tay Aul. Trong bóng tối, anh không tài nào đoán được biểu cảm trên mặt cậu. Ánh sáng lập loè hắt ra từ khoang lái không đủ để rọi tới chỗ Deino.

“Tôi lấy lại cái này nhé?” Nói rồi, cậu tặc lưỡi một cái rồi đứng dậy, nhanh tay mở chốt an toàn của khẩu súng. Cậu nói là lấy lại khẩu súng này, kì thực cũng không sai lắm. Lúc trước khi mới cứu tàu của Megalodon, anh đã đưa cho Aulophyseter một khẩu súng của mình để phòng thân – trong trường hợp cần thiết nếu như có kẻ nào đó không muốn trò chuyện một cách lịch sự vẫn còn ở trong tàu. Xoay khẩu súng trên tay một vòng, Deino nhét lại vào túi đeo súng bên hông.

“Tôi đi ngủ đây. Anh cũng nghỉ ngơi đi.”

“Ừ…” Aul nói nhỏ. “Cảm ơn cậu.”

“À mà này,” Trước khi rời đi, Deino quay về hướng Aulophyseter đang ngồi. “Tôi ở khoang lái, nếu có việc gì thì tới đó tìm tôi nhé.”

“Tôi mong là không có việc gì,” Aul nói khẽ, “Tốt hơn hết là đừng có việc gì.”

“Ngủ ngon.”

“Ngủ ngon.”

.

Quả nhiên, một kĩ sư phần mềm mà thiếu máy tính thì không khác gì cá sống trên cây. Mặc dù chưa từng nhìn thấy cá và cây vẫn là một khái niệm xa lạ, nhưng không có nhiều phép so sánh đến từ thế giới bên ngoài hành tinh, cho nên việc vay mượn một vài biểu tượng từ một thế giới đã bốc hơi cả trăm năm là việc được cho phép ở đây. Dõi mắt nhìn Ceto đang cặm cụi bên máy tính, Coprion có phần ngưỡng mộ đôi bàn tay hết khua khoắng liên tục trên màn hình để dịch chuyển các tệp dữ liệu về đúng vị trí của chúng rồi lại chuyển sang gõ lách cách trên bàn phím kiểu cũ của tay kĩ sư phần mềm kia. Hơi bị râu ông nọ cắm cằm bà kia một chút, nhưng vì bàn phím ảo trên màn hình rõ ràng là khó thao tác hơn trong tình huống phải gấp rút viết ra một chương trình hoàn toàn mới trên một chiếc máy tính không phải của mình, nên Ceto mới nảy ra cái ý tưởng quái đản là sử dụng bàn phím rời. Thật may là vẫn sử dụng được, chứ nếu không thì đúng là đành chịu chết.

Nhưng sao anh phải lo lắng nhỉ? Ceto là chuyên gia trong lĩnh vực này, cho nên anh ta biết rõ mình đang làm gì. Nhún vai một cái, Coprion quay trở lại với công việc của mình. Nhờ có Ceto, anh đã nhận được quyền truy cập vào hệ thống tài khoản của Earth 90, do đó không khó để nhờ người của bên đó phân tích các mẫu mà mình thu thập được. Trong các hồ sơ mà họ nhận được sau đó, không có mấy thông tin về Eth để khai thác, ngoại trừ thông tin về việc cậu ta đến từ Đơn vị Ngôn ngữ Ngoài hành tinh của Earth 54, và chuyện con mèo cậu ta từng nuôi đã bị Shigenis thủ tiêu trong một nhiệm vụ được Ghost giao phó. Chính vì thế, Ceto mới phải gấp rút viết ra một chương trình để truy cập vào hệ thống máy tính tại Earth 54, lấy được các tập tài liệu mật có liên quan tới Eth. Một biện pháp phòng hờ thôi, tất nhiên rồi. Cả anh và Ceto đều thấy rằng chẳng có gì là quá đáng khi biết mình đang ở cùng với nhân vật như thế nào. Chắc hẳn cả Deino và Rham cũng rất tò mò muốn tìm hiểu xem mình đã mời ai lên phi thuyền.

Trong thời gian Ceto làm việc, Coprion muốn một lần nữa đọc lại các tài liệu về Eth mà mình thu thập được. Anh không muốn thời gian chờ đợi bị uổng phí, vả lại có vẻ như Ceto đang rất chật vật nên còn khá lâu nữa thì họ mới có được các dữ liệu mình cần. Nếu như cậu ta làm một loáng đã xong, những người xây dựng hệ thống bảo mật máy tính của Earth 54 tốt hơn hết nên tự ném mình ra ngoài không gian đi là vừa.

Eth, một Ethereal Snailfish, thuộc danh sách các SHARK ít ỏi theo học ngành khoa học xã hội của Earth 54. Đặc biệt nổi tiếng trong giới học thuật. Một nhà nhân chủng học, một nhà ngôn ngữ học, thành thạo 56 thứ tiếng.

Chà, số thứ tiếng mà Eth nói được còn lớn hơn số hiệu phi thuyền của anh ta.

Được mời vào Đơn vị Ngôn ngữ Ngoài hành tinh cách đây năm năm, tức là Eth đã công tác tại đây được khoảng một năm cho tới khi người của Shigenis tới bắt con mèo đi. Đây là đoạn mà Coprion thấy khó hiểu hơn cả. Câu hỏi được đặt ra là trong thời gian người của Shigenis đổ bộ lên Earth 54, anh ta đang ở đâu? Vì sao không ở cùng con mèo trong phòng nghiên cứu? Ai đã đánh thuốc mê con mèo, nhét vào trong hộp khiến Đội Phản ứng tình huống khẩn cấp cho rằng đó là món hàng mà họ cần phải tiêu huỷ? Không… không đúng. Shigenis đã liên lạc với Ghost và nói rõ rằng họ đã nhận được món hàng là một con mèo giống Siberian vẫn còn sống. Ghost là người biết rõ thứ được nhét bên trong chiếc hộp đó, nhưng vẫn xác nhận mệnh lệnh tiêu huỷ, vậy thì mục đích là muốn giết chết con mèo ấy. Giết một con mèo… Vì con mèo chết nên Eth mới săn lùng Shigenis và Varolai.

Vậy thì, có khi nào mục đích thật sự của người đó là sắp xếp cuộc gặp gỡ này hay không? Rham và Deino trên đường về Earth 97 thì gặp anh đang tìm cách tẩu thoát khỏi Earth 95, cứu Aulophyseter khỏi tàu không gian bị mắc kẹt, rồi lại cứu bọn Megalodon, Cetotherium cùng Shigenis, Varolai và Eth, liệu có phải đều đã được sắp đặt ngay từ đầu? Nghĩ tới đây, Coprion rùng mình một cái, bao nhiêu da gà da vịt nổi lên cuồn cuộn. Nếu như vậy thì quá hiểm hóc và tinh vi rồi.

Nhưng như thế thì lại không đúng lắm. Làm thế nào mà người đó lại biết được phải tới bốn năm sau, Eth mới lần ra được tung tích của hai người bọn họ? Hơn nữa, làm sao lại chắc chắn rằng thời điểm bốn năm sau đó, Varolai không được giao nhiệm vụ nằm vùng nên sẽ ở lại Earth 95 trong khi Shigenis bị giam giữ tại nhà tù của Livyatan? Theo lời của Varolai, một Ghost – người mặc đồ trắng và đội mũ, theo đúng quy định đối với các Ghost làm việc cho chính phủ Apokalypsis – đã tới tìm anh và giao một nhiệm vụ, đó là cứu chồng cũ của mình ra khỏi Nhà tù số 17 của Livyatan. Theo lời Shigenis, anh nhận được mật báo về việc Varolai trà trộn vào nhà tù để giải cứu mình, sau khi phát hiện người giúp mình trốn thoát không phải Varolai mà là một người khác – chính là Ethereal – thì mới tấn công Eth. Họ vật lộn bên ngoài nhà tù và rất có thể đã bị người của Livyatan bắt lại, nếu như không có Meg và Ceto.

Đến đây, Coprion lại thấy đầu mình đau như búa bổ. Tính đến thời điểm hiện tại, những người nhận mệnh lệnh từ Ghost chỉ có Shigenis và Varolai, vậy thì làm thế nào mà người kia lại đoán trước được rằng Eth sẽ bắt cóc Varolai và thế chỗ anh ta để tóm được Shigenis? Eth làm sao biết được Varolai đang thực hiện nhiệm vụ giải cứu Shigenis để đi đường tắt, từ đó một lưới bắt gọn cả hai người? Và quan trọng hơn cả, làm thế nào mà Meg và Ceto lại tình cờ xuất hiện ở đúng thời điểm đó để cứu ba người họ, và làm thế nào phi thuyền Farout cũng tình-cờ tìm thấy năm người kia? Hàng loạt câu hỏi cứ thế hiện lên trong đầu Coprion như bong bóng xà phóng, hết câu này lại tới câu khác khiến anh hoa mắt chóng mặt.

Trong đầu anh văng vẳng câu nói của Varolai. Loại người như thế nào, lại ra lệnh cho người khác giết chết một con mèo?

Ghost.

Đưa tay lên ôm đầu, Coprion xây xẩm mặt mày như bị giáng một cú thật mạnh. Vỗ vỗ mấy cái vào hai bên má cho tỉnh táo lại, Coprion thần người ra một lúc. Dù luôn nghĩ rằng, Ghost suy cho cùng cũng chỉ là một cái tên mà bất cứ người nhà Ghost nào cũng có thể sử dụng. Rất có thể, Ghost đã ra lệnh cho Shigenis và Ulias không phải cùng một Ghost mà anh biết. Nhưng lòng Coprion vẫn nặng trĩu ưu tư. Ngộ nhỡ… Ngộ nhỡ… Nếu như người đó là Ghost mà anh từng biết, vậy thì anh không biết phải tin tưởng ai nữa. Dán mắt lên màn hình, anh lướt qua hàng loạt những cái tên, những mốc thời gian xuất hiện trong hồ sơ của Eth. Bất chợt, Coprion giật nảy mình. Phóng to một đoạn trong hồ sơ, anh đọc đi đọc lại một lần nữa.

Có một khoảng thời gian kéo dài bảy năm không hề được đề cập tới, trong khi các mốc thời gian các lại chỉ cách nhau khoảng từ một tới hai năm. Bảy năm… Bảy năm… Thời gian dài như vậy, sao lại không có gì được? Theo quy định, không một hồ sơ nào lại được phép để trắng một khoảng thời gian dài tới như vậy, ngay cả hồ sơ của các mật vụ nằm vùng như Varolai, dù không phải ai cũng có quyền truy cập để lấy hồ sơ của anh ta, nhưng mọi thông tin như do thám tại đâu, lấy tên giả là gì đều được ghi rất đầy đủ. Trong đầu Coprion chợt loé lên một suy nghĩ, rằng không biết Eth có từng bị bệnh và phải điều trị hay không. Nếu đúng là như vậy thì khoảng thời gian này bị bỏ trống cũng không có gì là lạ, vì rất có thể những người có trách nhiệm lưu trữ hồ sơ đã cùng nhau lấp liếm vụ này để Eth không bị xử tử. Họ cũng không đề cập tới hội chứng khủng hoạt hoạt động mang tính phản chiếu của Eth. Kể cả khi Eth cố gắng che giấu đến mấy cũng sẽ có lúc vô thức để lộ ra triệu chứng này, nhất là khi phải sinh hoạt chung với nhiều người như thế.

Nếu như không có người hỗ trợ che đậy tình trạng của Eth, chắc chắn anh ta đã bị khép tội tử hình ngay từ khi còn là một đứa bé rồi. Cắn môi, Coprion theo bản năng nghề nghiệp, lên tiếng gọi Ceto đang ngồi ở góc bên kia của căn phòng:

“Ceto, anh tìm hồ sơ theo dõi sức khoẻ của Eth được không? Có một kh…”

“Không cần nữa đâu…”

Nghe thấy giọng nói đầy vẻ hoang mang không biết phải làm sao của Ceto, Coprion vội vàng bước tới. Chống tay xuống bàn để nhìn lên màn hình qua vai Ceto, anh nhận ra toàn bộ hồ sơ tuyệt mật về Eth đã được người này lần ra, nhưng anh không có tâm trạng để mà khen ngợi Ceto. Không biết là do giọng Ceto bị lạc hay do tai anh bị ù, mà giọng người kia nghe quỷ dị như bị đưa vào máy biến âm.

“Eth không chỉ là nhà nhân chủng học hay nhà ngôn ngữ học. Anh ta là nhà nhân chủng học và nhà ngôn ngữ học của quân đội Apokalypsis…”

Nhìn chằm chằm vào màn hình, Ceto thảng thốt.

“Bố của anh ta là Đại tướng Levi, một Livyatan, còn mẹ là Đại tá Black, một Blackfish, chị dâu là Thượng sĩ Feresa, một Feresa Attenuata, anh trai là tiến sĩ công nghệ vi sinh của quân đội Apokalypsis. Hai anh em đều được bà ngoại là dược sĩ Ethereal nuôi dưỡng, cho nên lấy tên là Ethereal Snailfish. Ôi trời ơi…”

Coprion thấy như vừa mới giác ngộ chân lí.

“Anh ta được huấn luyện trong quân đội cho nên có kĩ năng, nhưng vì không thường xuyên ra thực địa…”

“Cho nên thể lực và các kĩ năng tác chiến không bằng Shigenis…” Ceto tiếp lời.

“Nhưng vẫn có vũ trang và vẫn đủ khả năng khống chế Varolai…” Coprion ngây người, nói như cái máy.

Nhanh tay tải xuống tài liệu rồi truy xuất ra khỏi hệ thống trước khi máy chủ phát hiện ra dấu hiệu đột nhập trái phép, Ceto tắt chương trình. Nhìn Coprion đăm chiêu đứng bên cạnh, Ceto nhăn trán.

“Rốt cuộc anh ta có bao nhiêu bí mật vậy?”

Eth rời quân ngũ không phải là vì đào ngũ hay hết thời hạn công tác, mà là vì thất bại trong một nhiệm vụ đàm phán với vai trò phiên dịch viên. Toàn bộ các thành viên của chịu trách nhiệm trong phi vụ đàm phán đó đều bị giáng chức hoặc bị thuyên chuyển công tác và Eth là một trong số đó. Tuy nhiên, sự trừng phạt không hề chỉ dừng lại ở đó. Shigenis không bị cách chức vì không một ai đủ năng lực tiếp quản vị trí ấy, nhưng anh ta vẫn bị xử đúng luật, đó là chịu nỗi đau mất hai cô con gái. Luật của quân đội Apokalypsis giống như luật của WHALE, do đó mặc dù hiện tại được coi như một SHARK do mang họ Ethereal Snailfish, Eth vẫn sẽ phải tuân theo luật quân đội. Tức là, khả năng anh ta đã phải chịu nỗi đau mất đi một ai đó quan trọng với mình là rất cao.

Con mèo… Đúng rồi, con mèo! Nhưng, nếu là như vậy thì…

Không ổn rồi. Aulophyseter.

“Ceto, anh có thể truy cập vào hệ thống của Earth 95 không?”

“Tất nhiên là có,” Ceto gật gù rồi bắt đầu thao tác trên máy tính. “Sao thế?”

“Tìm giúp tôi hồ sơ em gái của Aulophyseter, ra đời vào năm Apokalypsis thứ 82, từng thuộc Đơn vị Tác chiến, được cho là rời Earth 95 vào năm Apokalypsis thứ 110 để phục vụ cho quân đội Apokalypsis. Toàn bộ thông tin về cô ấy.” Coprion nghẹn ngào. “Toàn bộ thông tin anh có thể tìm được về Trung sĩ Aulophyseter.”

Ceto chuyển sang chế độ truy cập ẩn danh, quan sát đồng hồ đếm ngược ở một góc màn hình rồi bắt đầu nhập các dữ liệu mà Coprion vừa cung cấp. May sao, chỉ có duy nhất một trung sĩ nữ thuộc nhà Aulophyseter từng công tác tại Đơn vị Tác chiến của Earth 95. Có điều… Đưa mắt nhìn sang Coprion đang run rẩy đứng cũng không vững bên cạnh, Ceto cũng thấy ái ngại. Đọc một lượt từ đầu đến cuối chỗ hồ sơ mình có thể tìm được, Ceto nhấn nút in hiển thị trên màn hình rồi khởi động lại chương trình, bắt đầu tìm kiếm phần thông tin mà chính phủ cố tình lấp liếm đi, tức là phần thông tin chìm dưới vô số các tầng bảo mật khác nhau và cần nhiều thời gian để đảm bảo cảnh sát không ập vào phòng còng tay giải đi ngay khi vừa đột nhập thành công. Vừa lẩm nhẩm mấy câu trấn an Coprion, Ceto vừa dùng tốc độ gõ phím nhanh nhất của mình để bới cho ra thông tin dù chỉ là ít ỏi nhất của cô gái mình chưa từng có cơ hội gặp gỡ kia. Không rõ vì sao, ngay khi đập vào mắt cái tên “Aulophyseter”, anh thấy mình hít thở không thông, lồng ngực như bị đè nặng. Cảm giác đau đớn và tê dại truyền đến tận đầu ngón tay khiến Ceto lặng người trong giây lát. Lắc đầu một cái, anh nhấn nút in hồ sơ mà không đọc trước rồi tắt chương trình sau khi nghe thấy tiếng máy in đã dừng lại.

Vội vàng chạy tới bên máy in, Coprion mím chặt môi nhìn từng trang dữ liệu hiển thị trên màn hình làm bằng chất dẻo được dùng để thay thế cho giấy trên các phi thuyền, chưa bao giờ căm hận thứ phát minh này đến như thế. Anh có thể vò nát giấy, nhưng không thể vò nát nhựa dẻo được. Vẫn ngồi bên cạnh bàn máy tính, Ceto khẽ lên tiếng, như thể sợ chỉ cầm để âm lượng của mình lên cao hơn một chút thì có thể ngay lập tức làm nứt vỡ một thứ gì đó đã sớm rạn ra trong trái tim người đang nấc lên từng tiếng kia.

“Có chuyện gì thế?”

Coprion gầm lên một tiếng, cảm thấy mặt sàn dưới chân mình cũng đang nứt toác.

“Cô ấy không hề gia nhập quân đội,” Siết chặt bàn tay thành nắm đấm, tiếng gầm gừ của Coprion chuyển thành một tiếng rít xoáy vào màng nhĩ người bên cạnh như một mũi khoan của căm hận, hối hận cùng ước muốn rửa hận. “Ceto, bọn chúng giết em gái Aulophyseter rồi.”

.

Hận.

Một người, rốt cuộc có thể mang trong mình bao nhiêu nỗi hận, và một người có thể hận tới mức nào để nỗi thù hằn cừu hận nuốt chửng tâm can? Bị chế độ đè nén, hận. Gia đình li tán, hận. Người thân chết oan uổng, hận. Sức chịu đựng của con người cũng chỉ có hạn mà thôi. Đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ nhận ra mình hận nhiều hơn mình tưởng, cũng tìm cách rửa hận nhiều hơn mình đã nghĩ. Hận là gì, mà lại khiến người ta quay cuồng, đảo điên đến vậy? Hận là gì, mà lại khiến chúng sinh chém giết nhau không ghê tay, khiến chúng ta đang tâm quay lưng lại trước sống chết của nhau như thế này? Hận là gì, mà lại khiến ta dấy lên hi vọng trong lòng kẻ khác, để rồi cười khẩy một tiếng khi đẩy họ xuống bùn đen, nhấn chìm họ trong cơn nước xoáy bằng chính bàn tay lúc trước vừa mới đưa ra cho người khác nắm lấy?

Hận là gì, mà lại khiến chúng ta đánh mất chính mình dễ dàng tới vậy?

Shigenis và Varolai, nhìn qua thì một người cay nghiệt với cách thức quản lí của Apokalypsis khiến con người đánh mất tất cả những nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, một người cay đắng với quy định con người phải đánh bại đồng loại của mình, chà đạp lên khát khao cùng ước muốn của họ chỉ để có được một cơ hội nhìn thấy người thân của mình lần cuối cùng trước giây phút lâm chung. Cả cuộc đời họ, là những tháng năm nối tiếp năm tháng cầu nguyện cho người kia được toàn mạng. Họ không lựa chọn sinh ra để sống như một điệp viên, cũng không muốn ở cái tuổi người khác lưỡng lự không biết nên chọn hamburger hay gà rán cho bữa tối, mình phải cân nhắc dùng đạn hơi cay hay bom khói thì cắt đuôi đối thủ nhanh hơn trong những tình huống ngặt nghèo. Cả cuộc đời họ, là những ngày trái tim chỉ hướng về một ai đó đang mai danh ẩn tích làm nhiệm vụ mà không phải ai cũng làm được, rồi mong người ta không chết mất xác ngoài đó, mong người ta vẫn có thể trở về, đứng ở cửa mỉm cười nhìn mình, chân tay mặt mũi lấm lem và bê bết, quần áo thì tả tơi, tóc tai cũng rối bù, chỉ có ánh mắt tràn ngập hạnh phúc là mãi mãi không đổi thay. Cả cuộc đời họ, là những phút giây sinh tử, bật cười mỉa mai nghĩ tới chuyện trong mắt những kẻ chỉ biết ra lệnh, mình tới đây cũng chỉ để chết, nhưng rồi lại nhớ ra ở nơi xa xôi, vẫn có những người đợi mình về nhà.

Cuộc đời Shigenis và Varolai, nào có phải chỉ có hận thù và trả thù. Họ đã bảo vệ nhau gần nửa cuộc đời, đã ngắm nhìn hình ảnh phản chiếu của mình nơi đáy mắt nhau suốt bao nhiêu tháng năm dù chẳng mấy khi được ở cạnh nhau, cho tới một ngày người ta lôi những đứa trẻ ra khỏi nhà họ, và khiến một người đàn ông tự biến mình thành tội đồ vì chịu trách nhiệm cho cái chết của hai đứa con, khiến một người đàn ông khác không thể nhìn đối phương mà không nhói đau nghĩ tới khoảnh khắc hai đứa trẻ ngây thơ vô tội ngã vật xuống, đôi mắt vẫn còn nguyên vẹn nỗi kinh hoàng. Mỗi ngày, họ đều nghe văng vẳng bên tai mình tiếng hét thất thanh của Yeoreom và Gaeul. Âm thanh của vọng lại từ cơn ác mộng khủng khiếp nhất, kinh hoàng nhất. Âm thanh của sự sống và cái chết được ngăn cách bởi tấm màn hư ảo của nước mắt dâng đầy. Họ hận, nhưng chỉ hận tới mức muốn báo thù vì Yeoreom và Gaeul.

Ethereal, hay Eth, ngay từ cái tên đã ẩn chứa biết bao đau thương, tủi hờn. Một đứa trẻ không được thừa hưởng cái tên từ cha mình, một đứa trẻ bị từ chối là một phần của gia đình, một đứa trẻ luôn bị cho là kẻ lạc loài vì không trở thành quân nhân, cũng không có một chút yêu thích nào với khoa học tự nhiên như ông bà nó, cha mẹ nó, như anh trai nó. Một đứa trẻ luôn cảm thấy thậm chí chị dâu – một người không được sinh ra và nuôi dưỡng trong nhà mình – có khi còn gần với định nghĩa “thành viên của gia đình” hơn cả mình. Một đứa trẻ vùi đầu vào học, học và học để khẳng định mình không vô dụng, một đứa trẻ tìm mọi cách chen chân vào quân đội để mọi người nhìn nhận mình như đứa con trai út của gia đình Đại tướng Levi và Đại tá Black, để rồi bẽ bàng nhận ra mình chỉ là một sản phẩm thất bại của đột biến di truyền.

Đứa trẻ tên Ethereal ấy, đã bao nhiêu lần đứng trước gương tự gọi mình là Livyatan? Nó đã bao nhiêu lần khóc một mình trong đêm tối, lẩm nhẩm tên mình như một cái máy, và chờ đợi một tiếng đáp lại từ thinh không? Đã bao nhiêu lần, nó nổi xung lên rồi lao vào đánh đấm những đứa trẻ trêu ghẹo nó, rằng nó bị bỏ rơi, rằng không một ai muốn nhận nó làm con hay gần gũi nó, rằng nó bị chính người sinh ra mình ghẻ lạnh, để rồi tự ý thức được bản thân mình không đủ mạnh để đánh bại bất cứ ai bằng tay không và càng hiểu một cách sâu sắc hơn sự khác biệt giữa mình với những người khác trong gia đình – ngọn nguồn cho tất cả những khổ đau mà nó phải gánh chịu? Đứa trẻ ấy, trong những ngày dài ăn uống vô tội vạ, trong những đêm dài ngủ vùi những muốn chẳng bao giờ thức dậy, nó nhận thức được rằng mình đang ăn gấp hai, gấp ba người thường, ngủ những giấc dài gấp bốn, gấp năm kẻ khác để nuôi dưỡng trong mình một con quỷ. Nó cứ ăn mãi không chẳng thể tăng cân, cứ ngủ hoài để rồi vẫn thấy mệt, cho tới một ngày con quỷ bên trong nó hoà vào làm một với cơ thể đứa trẻ. Con quỷ ấy nào có phải là một khối vật chất xơ cứng, hoá thành các tế bào, ăn thật sâu vào trong máu, trong thịt, bám vào thành tuỷ, bấu chặt lấy từng bó dây thần kinh. Để rồi đứa trẻ bắt đầu miệt mài trong hành trình trả thù của nó.

Không tin tưởng bất cứ ai, nó thu mình lại. Chỉ còn con quỷ và nó, nó và con quỷ, không thể tách rời. Đứa trẻ bắt đầu nghiên cứu về cách điều chế các loại thuốc độc. Nó bật khóc vì vui sướng khi lần đầu tiên giết chết một con thỏ mà không cần phải dùng đến dao hay súng, vì ngỡ ngàng trước cảm giác lạ lẫm khi nhận ra mình vẫn là một phần của gia đình, vì sự thoả mãn với ý nghĩ nó có thể giết chết cả gia đình mình. Nó không giỏi dùng súng bằng những người khác, nhưng nó có khả năng khiến cho người ta phát điên phát dại khi nhận ra mình sắp chết chỉ vì vô tình chạm tay vào một mũi kim thò ra từ bên trong chiếc bánh ngọt mà nó mang tới, niềm nở mời gọi họ cùng ăn. Nhưng nó không làm như thế. Nó khinh thường họ, những kẻ khiến người ta sống không bằng chết với ngôn từ độc địa.

Nó đùa giỡn với tính mạng người khác cả nghìn lần trong tâm tưởng, và chỉ nghiêm túc khi đối thoại với ngôn ngữ. Không rõ vì sao, nó tìm thấy trong ngôn ngữ một phần con người mình. Những âm, những vần, những kí tự, nó luôn thấy phảng phất bóng dáng mình trong đó. Hình bóng của một đứa trẻ không muốn mình trở thành một phần của “bọn họ” như chính nó ước ao nhiều năm về trước. Người lớn trong mắt nó dùng ngôn từ để đâm thủng lòng tự tin cùng sự cao cả của người khác, dày vò nhau bằng những câu hỏi không có lời giải, bóp chết nhau bằng những câu trả lời nghe như sét đánh giữa trời quang. Đứa trẻ tên Ethereal ấy, muốn nhìn thấu lòng mình như cách mình nắm bắt từng con chữ, muốn sở hữu quyền lực mà người lớn nắm giữ sau khi hiểu được cách sử dụng chúng, và khát khao có ai đó một ngày kia cũng sẽ hiểu được tâm tư của mình, nỗi cô độc của mình như thế.

Ethereal vốn không còn quá quan tâm tới chuyện trả thù cuộc đời. Anh ta lớn lên, và sống theo cách mình muốn, làm những việc mình đam mê, tận hưởng mọi thứ xung quanh theo đúng cách nó vốn thế. Bởi vì không thể thay đổi quá khứ, anh ta chọn sống thật tốt trong hiện tại để làm chủ tương lai của mình. Hàng loạt các nghiên cứu về ngôn ngữ được hoàn thiện. Vô số các cải tiến trong lĩnh vực dịch thuật đã được đưa ra. Ethereal không còn là đứa trẻ ai muốn bắt nạt là có thể bắt nạt được nữa. Người ta quên khuấy đi đứa trẻ yếu ớt ngồi một mình trong phòng học môn nhân chủng học mà họ từng dè bỉu như thế nào. Bây giờ, cái tên Tiến sĩ Ethereal trở nên phổ biến hơn. Mọi người chuyển sang nể trọng Eth, và bắt đầu cúi chào anh ta mỗi khi vô tình chạm mặt trên đường. Họ nói với anh những lời đẹp đẽ, và mặc dù biết rõ những kẻ ấy đang cay cú vì đố kị, anh ta cũng niềm nở bắt tay với họ như chẳng có chuyện gì xảy ra. Ethereal nhận ra một điều: cách duy nhất để thay đổi vị thế của bản thân, chính là có được thứ hào quang mà những kẻ áp bức mình có mơ cũng không dám mơ tới. Đến một ngày, anh ta thất bại, bị đuổi ra khỏi hàng ngũ, và bọn họ đến bắt đi con mèo của anh ta.

Một người sống một mình và nuôi một con mèo là một người không muốn ồn ào, không ưa sự huyên náo, nhưng lại không muốn thú nhận rằng mình rất cô đơn. Anh ta không cần mỗi lần mở cửa về nhà có thú cưng nhào ra đón, cách mà một chú chó hay làm để thể hiện tình yêu với chủ nhân của mình. Anh ta cần mỗi lần về tới nhà, biết được mình không phải ở một mình, và sự tĩnh lặng thi thoảng xen lẫn tiếng gừ gừ của một con mèo Siberian hoạ chăng chính là thứ mà Ethereal cần đến nhất. Một con mèo có thể lờ anh ta mỗi khi anh ta nổi hứng muốn chơi với nó, nhưng lại nhẹ nhàng chuyển chỗ ngồi từ phía bên trái sang phía bên phải chỉ để xem xem anh ta có quan tâm tới nó hay không và cũng là để nằm ở phía tay thuận của chủ nhân, nếu may mắn sẽ được anh ta vuốt ve, cưng nựng. Một con mèo có thể tỏ ra không quan tâm tới người nuôi dưỡng nó, đỏng đảnh và kiêu kì, nhưng lại cố tình nằm vắt ngang đống giấy tờ đang khiến chủ điên đầu chỉ để được ôm vào lòng, cùng chủ làm việc tới tận khuya.

Nuôi một con mèo, Eth mỗi ngày về nhà đều thấy hạnh phúc. Nó không được đặt tên, nó chỉ là một con mèo thôi. Nhưng đối với anh, nó là một phần của cuộc sống, là người bạn, là người thân, là tất cả mọi thứ. Như một quy luật, ngay khi chúng ta bắt đầu coi một điều gì đó là tất cả đối với mình, cơn ác mộng sẽ ập tới. Đến tận bây giờ, anh ta vẫn cho rằng đó chính là quả báo đối với mình vì đã có những suy nghĩ độc địa suốt những năm tháng ấu thơ. Sự ngược đãi mà Eth dành cho bản thân mình tăng lên tới cấp độ cao nhất, khi mà anh ta không ăn không uống, dành hàng giờ đồng hồ liên tục để nghiên cứu trong văn phòng, và rồi anh ta tìm thấy Shigenis. Hận. Thù. Muốn được báo thù. Anh tiễn sinh vật mà tôi yêu thương hơn cả thành tro bụi, tôi cũng sẽ giúp anh đưa lí do duy nhất khiến anh chưa từ biệt cõi đời đến gần với cửa tử hơn một chút. Con quỷ tưởng đã ngủ yên, nay lại được triệu hồi từ địa ngục. Mang theo chỗ chất độc tự mình điều chế, Eth đi tìm kẻ đã huỷ hoại cuộc sống hạnh phúc mà mình phải đổ cả máu và nước mắt mới có được.

Nhưng rồi cuối cùng, Ethereal vẫn thắng. Anh ta không giết Varolai, cũng không giết Shigenis. Anh ta chọn sự sống, và một lần nữa chọn niềm tin. Nhưng anh ta có hận hay không? Trả lời cho điều ấy, anh ta hỏi lại cuộc đời: vì sao lại không hận? Anh ta có thể tha thứ, nhưng anh ta sẽ không bao giờ quên, mà chừng nào còn nhớ thì chừng đó còn hận. Eth chỉ buộc chặt mối thù ấy lại, từ từ chuyển hoá nó thành thứ xúc cảm khác mà thôi. Giống hệt như cách anh ta đã làm với nỗi hờn đối với gia đình mình, chỉ có điều lần này không phải là vì coi thường nên không muốn bẩn tay, mà là vì đồng cảm nên không muốn hạ thủ.

Aulophyseter, nhìn qua thì chỉ nghĩ rằng anh ta hận là vì mình bị gạt sang một bên, vì phải nhường chỗ cho người khác, một kẻ mà anh ta cho là không xứng đáng có được vị trí mình từng tiếp quản, chuyển sang làm một công việc nhàm tẻ tới độ nhiều lúc anh ta chỉ muốn phá hoại nó, làm hỏng nó rồi quay lưng rời đi không một lần quảnh đầu lại. Nỗi hận của anh ta, nhìn qua thì chưa đủ lớn để chống phá lại chế độ mà anh ta đang buộc phải quy phục, để quay sang căm hờn thời đại mà anh ta đang sống, nếu như anh ta không coi công việc là tất cả những gì mình có. Nhưng đúng là công việc không phải là tất cả những gì anh ta có, nên anh ta sẽ không vì mất việc mà rắp tâm trả thù.

Gia đình, mới là tất cả những gì mà Aulophyseter có.

Aul chính là người trực tiếp huấn luyện em gái mình. Anh ta muốn cô bé trở thành người xuất chúng nhất trong số những người xuất chúng, không những tự bảo vệ được bản thân mà còn không ngần ngại đứng lên bảo vệ người khác. Muốn tự vệ, phải mạnh. Nhưng muốn hộ vệ, phải vừa mạnh, vừa kiên cường, vừa dũng cảm. Cô em gái bé nhỏ của anh không thể khước từ sứ mệnh trở thành một WHALE và dù có thương em tới bao nhiêu, Aul không thay đổi được những gì đã được sắp đặt ngay từ khi cô bé mới chào đời. Chính vì lẽ đó, chính vì có cố gắng cách mấy vẫn phải tuân theo quy tắc của một xã hội từ lâu đã có dấu hiệu của một sự thoái trào nhưng vẫn chưa có người đứng lên lật đổ, Aul quyết tâm dùng sự sắt đá của mình để bảo vệ em gái. Thực tế chứng minh, anh đã đúng. Trung sĩ Aulophyseter trở thành một người mà nam giới kính phục, phụ nữ nể phục. Tuy rằng chưa thực sự nắm giữ vị trí tương xứng với năng lực của bản thân, không một ai có thể phủ nhận tài năng của cô gái trẻ ngoài mặt trận.

Cô gái trẻ tuổi ấy đã từng rất căm ghét anh trai mình. Người gì đâu mà lúc nào cũng nghiêm khắc như vậy, người gì đâu mà với em gái mình cũng không nương tay, đã thế lại còn nắn gân tối ngày như vậy. Nhưng rồi sau đó, khi đã trưởng thành và trực tiếp tham chiến nhiều lần, cô đã nhận ra mình cả đời này nói lời biết ơn anh trai e rằng vẫn chưa đủ. Xét cho cùng, người yêu thương cô nhất không phải người hứa hẹn sẽ bao bọc cô cả đời, mà là người sẵn lòng dạy cho cô biết thế nào là tự lập, thế nào là dù có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa cũng vẫn sẽ sống thật tốt. Gia đình chỉ còn mỗi hai anh em, cô thậm chí còn hứa với anh trai rằng sau này mình nhất định sẽ bảo vệ anh, không để anh bị người khác hiếp đáp. Dù chỉ là một lời nói đùa thôi, vì Aulophyseter không làm khó dễ người khác thì thôi chứ ai dám đụng chạm tới anh, nhưng người làm anh vẫn vì một câu trẻ con ấy mà cảm động. Chính vì không bao giờ quên được một câu “em sẽ bảo vệ anh”, cho nên Aul có lẽ cả đời này sẽ tự chất vấn bản thân vì cớ gì không thể bảo vệ được em gái mình.

Lí do Apokalypsis đưa ra luật dành cho WHALE về việc bắt người thân của tất cả những ai không hoàn thành công việc được giao phải chết, chính là để không một ai dám kháng lệnh và không một ai dám bê trễ khi thi hành nhiệm vụ. Họ đã đúng. Quả thật, không một ai dám chống lại mệnh lệnh và các WHALE kể cả khi biết mình đang làm sai cũng vin vào cớ đó để hợp lí hoá mọi lỗi lầm của mình. Họ đổ lỗi cho chính phủ, họ cho rằng mình có lí do chính đáng để thực hiện những việc làm sai trái, và không có gì là không đúng khi ra tay với kẻ khác trước khi có ai đó ra tay với người thân của mình. Nhưng trong trường hợp bất khả kháng, một WHALE sẽ bị khép tội không hoàn thành nhiệm vụ dù có cố gắng cách mấy. Shigenis hiểu điều này, Aulophyseter cũng hiểu điều này.

Trong một buổi tập, anh đã đồng ý để một học viên của mình thử sức với bài tập khó hơn, và học viên đó đã thiệt mạng. Thực chất, tai nạn thảm khốc xảy ra được nhận định là do thiết bị lâu ngày không được bảo trì, nhưng nếu như anh không để cậu ta thực hiện bài tập ấy thì đã chẳng có chuyện gì xảy ra. Không thể chối cãi gì được điều này, Aul nhận tội rồi vội vã đưa em gái mình tới một phi thuyền khác rồi nói dối rằng cô đã được lệnh triệu tập từ phía quân đội. Dĩ nhiên, lời nói dối dễ dàng bị phát hiện. Chính phủ đã xử bắn Trung sĩ Aulophyseter ngay trước mặt anh trai cô, trước hàng trăm nghìn binh sĩ vừa mới xác nhận rằng họ không hề nhận một nữ trung sĩ nào đến từ Đơn vị Tác chiến của Earth 95. Tất cả mọi chuyện diễn ra trong vỏn vẹn bốn ngày, trở thành bốn ngày kinh hoàng nhất trong cuộc đời anh.

Nỗi căm hận đối với chính bản thân mình, nỗi căm hận đối với chính quyền cùng thứ luật pháp mà nó ban hành, Aul hàng đêm đều lấy súng ra lắp đi lắp lại nhiều lần, tự thôi miên mình vào giấc ngủ, nơi mà anh sẽ được gặp lại em gái mình, ôm chầm lấy cô rồi nói rằng mọi chuyện đã ổn cả rồi. Anh còn rất nhiều điều để nói với cô, nhưng mỗi khi nhìn thấy em gái trong giấc mơ, anh lại chỉ biết khóc. Khóc trong nỗi đau rứt ruột vì đã đẩy em gái vào chỗ chết, khóc vì sự khốn khổ khốn nạn mà họ không thể kháng cự. Một chữ “hận”, có thể nào diễn tả hết những gì mà Aulophyseter đang cảm thấy hay không? Chỉ e là không.

Helicoprion, nhìn qua thì chỉ là một bác sĩ có phần bất cần. Sự bất mãn ấy, ắt hẳn không phải đến từ những nguyên do như thiếu bệnh nhân, hay lương thưởng không đủ để trang trải cuộc sống. Ngược lại, các bác sĩ sống trên các phi thuyền không bao giờ phải lo lắng về những vấn đề như thế. Họ được chính phủ bảo trợ và chu cấp tất cả mọi thứ, từ nơi ăn ở cho tới phương tiện di chuyển. Họ chỉ có một nhiệm vụ duy nhất, đó là theo dõi tình trạng sức khoẻ của mọi người trên phi thuyền. Nói đúng hơn, họ nắm quyền sinh sát trong tay, nói một cách tiêu cực là muốn giết ai thì giết. Chỉ cần một xác nhận từ họ, một người sẽ lập tức bị cho là có bệnh và bị khép vào tội tử hình. Trên các phi thuyền, người ta sợ hãi các bác sĩ còn hơn cả cảnh sát. “Anh ta có bệnh”, và tất cả sẽ kết thúc, tại đó. Giống như các bác sĩ khác, Coprion mỗi ngày đều phải theo dõi tình trạng sức khoẻ của rất nhiều người, và đó là một công việc không quá nặng nhọc, đến khi anh buộc phải kí giấy xác nhận tình trạng sức khoẻ của mẹ mình.

Giấy màu xanh, dành cho những người có sức khoẻ dưới mức trung bình, cần được nghỉ ngơi và bồi bổ. Giấy màu vàng, dành cho những người khoẻ mạnh, đủ khả năng lao động. Giấy màu hồng, dành cho những người có dấu hiệu nhiễm bệnh, cần được cách li, theo dõi thường xuyên cho tới khi các chỉ số quay về mức bình thường. Giấy màu đỏ, dành cho những người nhận mức án tử hình vì đã đến bảy mươi tuổi, hoặc bị thương quá nặng, không còn khả năng cứu chữa, hoặc sức khoẻ quá yếu, không có khả năng phục hồi. Tờ giấy màu đỏ chói mắt có điền tên mẹ cùng chữ kí của mình, Coprion không thể nào quên. Khuôn mặt lạnh như băng của toán lính giải mẹ anh đi, ánh mắt nhạo báng của những kẻ giúp mẹ anh ghi hình cảnh bà nói lời cuối cùng với con trai mình hằn sâu trong kí ức Coprion.

Ai? Là ai đã khiến anh phải đứng trước tình thế này? Ai? Là ai đã khiến anh phải tự tay kí giấy báo tử cho mẹ mình trong khi bà vẫn còn khoẻ mạnh, chỉ vì mẹ anh đã bảy mươi tuổi? Coprion nghĩ tới ngày mình lần lượt phải xác nhận tình trạng sức khoẻ của cha mình, các anh trai mình mà đứt từng khúc ruột. Mẹ anh chẳng làm gì nên tội nhưng lại phải ra đi, trong khi những kẻ duy nhất đáng phải chết lại đang nhởn nhơ ngoài kia, sống trong nhung lụa, chẳng mảy may màng tới thế sự. Những kẻ táng tận lương tâm ấy còn dám phẩy tay ra lệnh cho anh kéo dài mạng sống của một tay lắm tiền nhiều của năm nay đã ngót nghét chín mươi, chỉ vì nếu như ông ta chết, chúng sẽ mất đi chỗ dựa về kinh tế. Một trò hề được tấu lên trước mặt anh dù anh không hề có nhu cầu thưởng thức nó, khi mà gia đình ông cụ xấu số kia không ngần ngại chỉ trả nhiều tiền hơn chỉ để anh nhanh nhanh chóng chóng để lại một chữ kí lên tờ giấy màu đỏ oan nghiệt chứa tên cụ mình, ông mình, cha mình. Họ muốn người thân của mình qua đời để thừa hưởng cơ ngơi cả đời ông cụ chắt bóp mà có được, muốn độc chiếm cái tên của ông cho riêng mình mà không hề để tâm tới chuyện chính ông, chứ không phải ai khác, đã nắm lấy tay anh mà khóc nấc lên, van vỉ anh cho mình được chết để “đỡ làm khổ chúng nó”.

Khổ? Ông thì biết thế nào là khổ? Tại sao ông lại cứ phải lo “chúng nó” khổ trong khi không một ai thèm để mắt tới ông ngoại trừ những người túc trực bên cạnh căng mắt ra mà dõi theo từng nhịp đập của trái tim đã già nua trong lồng ngực ông trên máy điện tâm đồ? Con cháu ông, hoạ chăng cũng chỉ là sướng quá mà hoá điên, ông lại cứ lo chúng sẽ khổ. Nghĩ tới đây, Coprion nghiến răng vì tức nổ đom đóm mắt. Nỗi hận trong lòng anh đối với những kẻ nghĩ rằng có tiền là có tất cả mỗi lúc một dâng cao. Họ hận, anh cũng có nỗi hận của riêng mình. Chừng nào chưa trả xong nỗi hận ấy, chưa được thấy chúng loạn cào cào lạy lục mình để cầu xin được chết, chừng đó anh vẫn chưa cam tâm.

Nỗi hận của Coprion còn bùng lên mỗi khi anh nghĩ tới Ghost.

Ghost Snailfish, thường được biết tới nhiều hơn với cái tên Ghost, là một dòng họ danh tiếng nhiều năm làm việc cho chính phủ không chỉ riêng thời kì hậu Apokalypsis mà kéo dài cho tới tận kỉ nguyên El Demonio Negro. Chính phủ của Livyatan không được công nhận là một nhà nước riêng, cho nên mặc dù họ có luật pháp và thể chế của mình, lịch sử vẫn ghi nhận họ dưới tư cách những kẻ phản loạn. Nhìn chung, Apokalypsis vẫn chiếm phần lớn các phi thuyền, và nó vẫn hoạt động với tất cả sự đồ sộ và lạc hậu của mình. Ghost là một cái tên không chỉ dành riêng cho một cá nhân, mà là dành cho tất cả thành viên nhà Ghost theo cha truyền con nối mà đảm nhiệm vị trí cánh tay đắc lực của chính phủ Apokalypsis trong việc thể hiện quyền lực và phô trương sức mạnh. Theo đúng quy định, các Ghost sẽ mặc trang phục màu trắng và luôn đội mũ. Nhờ phụ trách việc truyền lại nhiệm vụ từ chính phủ tới các cá nhân và các nhóm trong xã hội, họ có thể xuất hiện ở bất cứ đâu, đưa ra lệnh trừng phạt đối với tất cả những ai kháng lệnh hoặc để nhiệm vụ đi chệch ra khỏi hướng đi ban đầu. Mọi người đều gọi họ bằng một cái tên – Ghost – và họ thực sự đã lẩn khuất như những bóng ma trên các phi thuyền lớn nhỏ.

Anh có quen biết với một thành viên của nhà Ghost, cũng chính là Ghost đương nhiệm trên phi thuyền Earth 95. Nói là quen biết thì chưa chính xác, vì anh biết chắc chắn mối quan hệ giữa họ khăng khít hơn mức ấy rất nhiều. Nhưng nếu nói là thân thiết tới mức có thể xen vào cuộc sống của nhau thì lại chưa hẳn, nên anh nghĩ rằng đối với Ghost, họ sẽ có lúc buộc phải coi nhau như người qua đường. Shigenis, Varolai và Aulophyseter đều căm hận Ghost, tới mức anh không dám nói với họ rằng anh biết người kia, nhưng không biết vì lẽ nào, anh luôn có cảm giác người truyền đi những mệnh lệnh ấy lại không phải là người mà anh biết. Đúng là Ghost chỉ có trách nhiệm thuật lại nhiệm vụ cho những người khác, nhưng nếu đúng theo lời kể của Shigenis, thì Ghost đã nói rằng: “Tôi là Ghost, người giao nhiệm vụ cho các bạn.” Ghost sẽ không bao giờ nói như thế.

Chỉ cần nghĩ đến trường hợp Ghost trở thành con người khác xưa, Coprion đã rùng mình. Ai cũng đều phải thay đổi, nhưng nếu như không có Apokalypsis thì Ghost sẽ mãi là Ghost mà anh biết, và sẽ không có chuyện anh phải nghĩ ngợi xem ai đã là sứ giả mang tới nỗi bất hạnh cho những người bạn mới quen và cả Aul thế này.

Bản thân Ghost, cậu cũng ôm một nỗi hận. Ghost tiền nhiệm, cũng chính là cha của cậu, là do đặc phái viên của Apokalypsis cử tới giết chết. Ông ấy sẽ được yên nghỉ một cách nhẹ nhàng hơn, nhưng bọn chúng lại quy kết ông vào tội bán đứng chính phủ vì đã tìm cách giấu diếm tung tích của con trai mình mà liệt ông vào danh sách tội phạm đặc biệt nguy hiểm để có cớ sát hại ông. Ai cũng biết rằng ông giấu mọi người chuyện mình có một đứa con là vì không muốn cậu bé lớn lên trở thành một Ghost – kẻ mà ông căm ghét nhất, kẻ khiến ông chưa một giây một phút nào không thấy ghê tởm con người mà mình đã trở thành – và lí do ông bị sát hại không hề đơn giản như thế. Ông đã bỏ qua mà không đưa ra lệnh trừng phạt với rất nhiều người. Ông để cho những người cha có cơ hội được sống và sửa chữa sai lầm, để cho những người mẹ được bồng bế con mình mà tìm được tháo chạy. Ông bị giết một cách dã man và tàn bạo, chỉ vì ông làm phúc cho những người khác.

Ghost hận Apokalypsis và luôn muốn báo thù cho cha mình, anh có thể khẳng định điều ấy khi nhìn một tia căm tức loé lên rồi nhanh chóng vụt tắt trước khi Ghost thực hiện bài kiểm tra nói dối để tiếp nhận chức vụ của mình. Cậu đã nói với anh rằng mình muốn phá huỷ cỗ máy nghiền thịt người trá hình chính phủ ấy từ bên trong và đã một vài lần tha mạng cho những người khác, nên chuyện Ghost thẳng tay trừng phạt gia đình Aul cùng Shigenis và Varolai khiến anh thấy rất khó tin. Kể từ lúc Ghost thay thế vị trí của cha mình tức là mười năm về trước, anh không còn mấy cơ hội gặp lại cậu nữa. Theo đúng quy định, Ghost chỉ được liên hệ với chính phủ và với những người trực tiếp thi hành mệnh lệnh. Mười năm là một thời gian rất dài và có thể làm thay đổi một con người, Coprion biết rõ điều đó. Chỉ có điều, anh muốn tin tưởng Ghost.

Yêu thì chóng quên, nhưng hận thì khó xoá. Nỗi hận của Ghost lớn đến đâu, bản thân cậu ấy nhận thức rõ hơn ai hết, anh cũng đã nhìn thấy được. Cho nên, anh tin Ghost, tin vào “nỗi hận” của cậu ấy. Nhưng Megalodon, Cetotherium, Rhamphosuchus, Deinosuchus, các anh đang hận điều gì?

Chờ cho tới khi Ceto đã lên giường đi ngủ, Coprion mới bắt tay vào việc. Gõ liên hồi nhập thông tin vào thanh tìm kiếm, anh liếc nhìn đồng hồ đếm ngược, rung chân vì sốt ruột trước tốc độ tải trang hồ sơ của bốn người kia. Vừa kịp nhấn nút in và tắt chương trình, một tiếng động vang lên, nghe rõ mồn một mặc cho âm thanh xoèn xoẹt của máy in hoạt động không ngừng đang lấp đầy căn phòng.

“Cạch!”

Cảm nhận được hơi lạnh của kim loại chạm nhẹ vào phần da sau gáy, Coprion hít một hơi thật sâu rồi giơ hai tay lên để người kia biết mình không hề cầm theo vũ khí. Người đứng sau lưng anh cười khe khẽ châm biếm.

“Cưng à, bé ngoan không đọc trộm hồ sơ của người khác đâu.”

“Cưng cũng đâu có phải bé ngoan đâu, Ceto.” Coprion nhún vai.

“Vậy cơ à?” Ceto nói bằng giọng ngạc nhiên. “Thế thì mày định làm gì tao nào?”

“Bắn vỡ sọ mày, tao nghĩ thế.”

Cửa phòng bật mở. Ceto quay phắt về phía người đang đứng bên ngoài toan nổ súng nhưng người kia nhanh hơn một nhịp. Một phát súng giảm thanh ngắm thẳng vào bàn tay đang cầm súng của Ceto khiến khẩu súng văng ra xa. Nhanh chóng xô ngã Ceto xuống đất rồi bổ nhào đến cướp lấy khẩu súng, Coprion lên đạn, thở hổn hển chĩa súng vào thái dương tên phản trắc đang nằm dưới chân mình.

“Tiếc quá, để lần sau vậy nhé.” Nhét lại khẩu súng vào bao đựng bên hông, Rham nhoẻn miệng cười. “Tao đã nói ngay từ đầu là đừng ai nghĩ tới chuyện giở trò trên phi thuyền của tao rồi mà không chịu nghe.”

Dứt lời, anh mở hộp dụng cụ đặt sát tường rồi lấy ra một cuộn băng dính cách điện, tiến về phía Ceto rồi trói ngoặt hai tay người kia lại phía sau. Để phòng hờ, anh cùng dùng răng xé một đoạn băng dính để quấn chặt hai cổ chân của Ceto lại. Xong xuôi đâu vào đấy, Rham vỗ nhẹ lên vai Coprion vẫn đang run rẩy siết chặt khẩu súng trong tay.

“Đừng bắn nó vội. Tôi nghĩ là nó có nhiều chuyện muốn nói lắm đấy.”

Tiến về phía máy in, Rham cầm chỗ hồ sơ vừa mới in lên. Đọc lướt qua một vài trang, anh giơ lên trước mặt Coprion.

“Anh đã đọc chưa?”

Coprion lắc đầu. Thấy vậy, Rham bình thản.

“Vậy thì tôi giữ chúng nhé.”

Lần này thì không đợi anh trả lời, Rham đã quay lưng rời đi. Chờ cho tới lúc người kia đã đi khuất hẳn chỗ góc cua rẽ sang hành lang khác, Coprion mới đá mạnh vào bụng Ceto đang quằn quại dưới sàn một cái, đoạn ngồi xổm xuống bên cạnh, ghé sát miệng mình vào tai Ceto, nói bằng âm lượng vừa đủ để thiết bị nghe lén trong phòng thu lại được âm thanh.

“Tao đọc rồi, bé hư ạ.” Coprion khúc khích cười. “Và tao biết mày với hai đứa ALLIGATOR là gián điệp của Livyatan rồi, thằng chó đẻ.”

“Cảm ơn nhiều nhé, Cop.” Từ đầu bên kia của hành lang, Varolai nói nhỏ vào micro gắn trên nhẫn cưới, lặng lẽ lắp bộ phận giảm thanh vào súng. Trong lúc chờ Rham đi tới, anh nghiêng đầu như đang lắng nghe gì đó rồi đưa tay lên sát miệng. “Shigenis, Megalodon, bảo vệ Eth.”

Nghe thấy tiếng bước chân ở đầu bên kia bắt đầu chậm lại, Varolai thận trọng. “Deinosuchus đang tìm tới chỗ các anh.”

.

Location: Farout, The Spaceship of Livyatan Empire’s Undercover Polices.

Nearest Destination: Reality Lab, Earth 54.

2 hours ago.

(Địa điểm: Phi thuyền Farout của Cảnh sát chìm thuộc Đế chế Livyatan.

Điểm đến gần nhất: Phòng thí nghiệm Thực tại, Trái Đất 54.

2 giờ trước.)

Megalodon nhắm mắt lại. Đứng một mình trong bóng tối, gạt bỏ hết mọi tạp âm, anh lẩm nhẩm đếm từng nhịp một. Cho tới khi chắc chắn rằng mình đã xác định chính xác phương hướng phát ra tiếng thở của tất cả những người đang có mặt trên phi thuyền, anh mới thở phào nhẹ nhõm rồi lấy chăn gập lại cẩn thận chèn xuống khe cửa để không phát ra tiếng đóng sập lại khi đi ra ngoài, sau đó men theo bức tường, di chuyển về phía phòng Ethereal. Phải lâu lắm rồi anh mới thử lại trò này, đứng yên trong bóng tối và thử phân biệt tiếng hít thở của người khác. Megalodon có thể biết được đặc điểm riêng biệt của từng người trong cách họ hít thở, xác định vị trí của họ và tất nhiên là biết họ có đang tới gần mình hay không. Đây là thói quen mà anh đã luyện tập khi còn nhỏ, đơn giản là vì anh không có tài lẻ nào cả.

Trong suốt thời gian tham gia huấn luyện tại trường ở phi thuyền Earth 90, tất cả các học viên đều phải thể hiện tài lẻ của mình và nó thậm chí còn được coi là một trong các môn tiên quyết phải hoàn thành nếu muốn học lên cao hơn. Đối với những đứa trẻ nhà SHARK trước nay đã quen với việc cắm đầu cắm cổ vào học, mọi thứ có chút khó khăn. Nhưng đối với Megalodon, anh thích vận động hơn là ngồi lì một chỗ, cũng khoái phòng tập luyện và các môn thể thao hơn là đọc sách, cho nên nếu chạy bền hay bắn súng được tính là tài lẻ thì việc học tập chưa chắc đã khó khăn đến thế. Tài lẻ phải đặc biệt, không trùng lặp với những người khác, và chắc chắn việc đu xà kép đã bị loại ra khỏi danh sách các tài lẻ sau sự cố một học viên liều mình để qua môn nhưng lại gãy tay. Và suýt bị tử hình nếu như không kịp thời bình phục, tất nhiên.

Vậy là Megalodon đã luyện tập hàng tháng trời để thành thực tài lẻ này. Đầu tiên chỉ là giỏng tai nghe và loại bỏ các âm thanh không cần thiết để phát hiện ra hơi thở của bố mẹ, dần dần là của bạn bè, của giáo viên và cuối cùng là của bất cứ ai. Chỉ cần cho anh một nhóm người trong một không gian kín, anh có thể khoanh vùng chính xác có bao nhiêu người và họ đang hít thở ra sao. Trên một phi thuyền có một cựu huấn luyện viên, một điệp vụ ngầm, một cơ động và những người khác dù chưa thể hiện toàn bộ năng lực nhưng chắc chắn không phải hạng xoàng xĩnhm Megalodon dành nhiều thời gian hơn trong việc nhận biết hơi thở của họ.

Tiếng thở của Rham và Deino rất đặc biệt. Cả hai đều lấy hơi từ bụng, tức là sử dụng nhiều đến cơ hoành để lấy hơi và nén hơi, vì vậy phải rất tập trung mới nghe được hơi thở. Hơi thở của họ cũng rất đều đặn, gần như không có sự biến đổi, ngay cả khi nãy Rham có đẩy cao âm lượng khi nói chuyện với anh thì Meg cũng không nghe ra sự thay đổi đáng kể trong hơi thở nên không đoán được cậu ta có đang bực mình hay không. Tương tự, lúc này khi anh ở trong phòng và nghe ngóng bên ngoài, Deino đã nói chuyện với Aul, thế nhưng anh không hề nhận thấy có một sự thay đổi nào trong cách Deino lấy hơi, kể cả khi cậu ta bật cười hay khi cố tỏ ra ngạc nhiên vì nhìn thấy Aul ngồi không trong bóng tối. Nhưng điều khiến anh lưu tâm hơn không phải chỉ là cách họ hít thở ra sao, mà là cách họ nén hơi và lấy hơi giống hệt với Cetotherium.

Đối với những người có kinh nghiệm chiến đấu lâu năm, thường xuyên phải ẩn náu để tránh bị phát hiện trong lúc hành động, hơi thở của Shigenis, Varolai và cả Aul rất nhẹ, rất khó nghe ra. Tuy vậy, không phải là không phân biệt được. Hơi thở của Shigenis có phần gấp hơn và mỗi lần thở ra lại nặng hơn Varolai, trong khi Varolai lại lấy hơi dài hơn và thở ra mạnh hơn Aulophyseter. Trong số ba người này, khó nhận biết hơi thở nhất là Aul, cách nén hơi thở có phần khá giống với ba người Rham, Deino và Ceto. Nhưng khả năng điều chỉnh và duy trì hơi thở đều đặn của Aul thì lại kém ba người kia một chút.

Coprion thở hơi khò khè một chút, do thói quen thở bằng miệng chứ không thở ra từ mũi như mọi người. Tiếng động phát ra tương đối lớn, rất dễ nhận biết.

Hơi thở của Eth đối với anh là đặc biệt hơn cả. Cậu là người duy nhất trên phi thuyền biết cách “thở hộp” và sử dụng cách thở này đan xen với cách thở lấy hơi từ bụng như những người khác. Eth hít vào chậm rãi khoảng 4 nhịp, giữ hơi trong 4 nhịp, thở ra từ từ trong 4 nhịp và cuối cùng là ngừng thở trong bốn nhịp trước khi hít vào. Đây là cách hít thở nhờ luyện tập lâu ngày mà có được, dùng để giảm các triệu chứng căng thẳng về thể chất, cải thiện sự tập trung và sự nhanh nhạy của trí não từ đó tăng khả năng tập trung và kiểm soát cảm xúc.

Nhờ việc nhận biết cách hít thở của từng người, Megalodon biết Aul vẫn đang ngồi ở vị trí cũ, Shigenis đang ở trong khoang vũ khí, Coprion và Ceto đang ở cùng nhau trong phòng Coprion còn Varolai và Eth đang ngồi trong phòng Eth giống như lúc nãy, Rham ở trong phòng Varolai để tìm kiếm gì, Deino đang ở trong khoang chứa hàng chứ không phải ở khoang lái như khi nãy đã nói với Aul.

Chà, có hơn một người đang nói dối.

Nhận ra mình chuẩn bị lướt ngang qua Aul, Megalodon đưa tay về phía người kia, lòng bàn tay mở ra chạm vào bàn tay người đang ngồi một mình trong bóng tối rồi nắm chặt lấy “món hàng” mà anh vừa đưa cho mình. Chạm tay vào lớp vỏ nhựa đựng thiết bị nghe trộm và tai nghe hạt đỗ, Megalodon cười hài lòng, hướng về phía căn phòng vẫn mở hé cửa mà bước tới. Phía sau lưng anh phát ra tiếng sột soạt nho nhỏ. Aul đã rời đi.

Đứng trước cửa phòng Eth, anh thò tay vào phía bên trong qua khe cửa khép hờ. Sự thay đổi trên khuôn mặt Eth khiến Varolai nhận ra Megalodon đã tới. Vẫn tiếp tục trò chuyện, Varolai đứng dậy, từ từ đi lùi về phía sau cho tới khi nhận được cái gật đầu của Eth thì vươn một tay ra đón lấy thiết bị nghe lén. Thảy cái hộp cho Eth, Varolai giơ tay phải lên ra dấu “O.K” với Megalodon. Hoàn thành nhiệm vụ, Megalodon quay về phòng, lách người qua khoảng trống được tạo ra nhờ cái chăn chèn dưới chân tường, nhẹ nhàng đóng cửa lại. Nhiệm vụ của Megalodon không có gì phức tạp. Anh cần phải nghe ngóng động tĩnh bên ngoài rồi tìm cách lẻn khỏi phòng mà không ai biết, nhận hộp tai nghe mà Aul đưa cho mình để xác nhận anh đã cài thiết bị nghe trộm thành công, sau đó đưa lại cho Varolai trong khi Aul tự mình chuyển tới cho Shigenis.

Bộ tai nghe cùng thiết bị nghe trộm là những vật dụng thiết yếu của Varolai mang theo trước khi lên đường giải cứu Shigenis, là Aul đã giúp anh giữ chúng lúc băng bó vết thương và thay quần áo để phòng khi cần đến, chỉ có điều không ngờ là phải dùng sớm tới vậy. Đây là kế hoạch mà họ đã ngầm triển khai sau khi khoanh vùng ba đối tượng gián điệp Rham, Deino và Ceto.

Megalodon đã phát hiện ra Ceto đáng ngờ từ trước khi đợt tập huấn bắt đầu. Lí do anh tiến cử cậu ta là tham gia tập huấn chính là để mình có đủ thời gian tìm kiếm tất cả các bằng chứng để củng cố cho suy luận rằng Ceto chính là gián điệp của Livyatan. Để lần ra Ceto thực sự không hề dễ dàng. Cậu ta hành động cẩn mật, kín kẽ, sống tương đối khép kín, ít khi giao thiệp với người ngoài, là kiểu học sinh đi sớm về muộn, tạo ấn tượng là một phần tử mọt sách vô hại. Ceto cũng luôn nói chuyện với mọi người bằng giọng nhẹ nhàng, ôn hoà, thậm chí có nhiều lần còn nói nhỏ tới mức người đối diện tập trung theo dõi thôi cũng khó khăn. Cậu ta là một kĩ thuật viên thiết kế phần mềm, biết cách để xoá các dấu vết của mình sau mỗi lần truy cập mạng để nhận và truyền thông tin mật báo, còn đủ khả năng để tạo bằng chứng giả nhằm vu khống cho người khác để không ai nghi ngờ mình.

Ceto thực sự rất thông minh. Cậu ta hành động luôn có tính toán, đến cả việc đổi địa chỉ IP để truy cập mạng cũng khá linh hoạt. Tuy vậy, việc quá tự tin vào khả năng của bản thân đã khiến cậu ta rơi vào tầm ngắm của Megalodon.

Về cơ bản, không có khái niệm “ngẫu nhiên”, bởi lẽ chẳng một sự tồn tại nào được cho là ngẫu nhiên cả. Tất cả các quy luật đều được ẩn giấu một cách kín kẽ, chỉ là người ta có phát hiện ra chúng hay không mà thôi, bởi vì có đôi khi quy luật đơn giản tới mức không ngờ tới, nhưng cũng có lúc nó lại phức tạp đến độ phải mất rất nhiều thời gian mới có thể nhìn ra, và không phải ai cũng đủ trí lực để giải mã. Khi phải thường xuyên thay đổi mật mã và IP, người ta sẽ có một phản xạ vô cùng tự nhiên, đó là đặt các địa chỉ tương tự nhau, chỉ thay đổi một số, đảo ngược dãy số, chuyển vị trí của hai số kề nhau trong dãy để tránh quên. Tuy nhiên, Ceto là dân chuyên nghiệp, cho nên cậu ta không mắc phải lỗi sơ đẳng này. Ceto đã xây dựng một chương trình quay ngẫu nhiên số, sau đó ghép các số sau mỗi lần chọn ngẫu nhiên như vậy để ghép thành một đoạn IP mới.

Ban đầu, Ceto sử dụng phương pháp đồng dư tuyến tính, tức là thiết kế một phần mềm quay ngẫu nhiên số dựa trên công thức X(n+1)  = [aX(n) + c] mod m, trong đó m (modun)c (hằng cộng thêm / increment) là các số nguyên tố cùng nhau, m là số lớn hơn 0, c là số lớn hơn hoặc bằng 0 nhưng nhỏ hơn m, (a – 1) là số chia hết cho mọi thừa số nguyên tố của m và chia hết cho 4 nếu như m chia hết cho 4, điều kiện a (hằng số nhân / mutiplier) lớn hơn 0 nhưng nhỏ hơn m, giá trị khởi tạo là X(0) cũng phải thoả mãn điều kiện lớn hơn hoặc bằng 0 nhưng nhỏ hơn m. Với phương pháp này, Ceto có thể tìm ra các số ngẫu nhiên trong thời gian ngắn và không tốn quá nhiều bộ nhớ để lưu trữ phần mềm trên máy tính cá nhân của mình do đó dễ dàng lẩn trốn ánh mắt theo dõi của các cộng sự. Nhưng cách này sử dụng về lâu dài cũng không ổn do tính ngẫu nhiên chưa thực sự cao. Do đó, Ceto đã sử dụng một thuật toán mới cho chương trình của mình.

Với thuật toán mới, x(n) = [ax(n – r) + c(n – 1)] mod b, điều kiện n lớn hơn hoặc bằng r, ahằng số nhân (mutiplier), b là modun, c được tính dựa theo công thức c(n) = { [ax(n – r) + c(n – 1)] / b }, chọn các số sao cho (ab – 1) Safe Prime, tức là (ab – 1)(ab/2 – 1) đều là số nguyên tố, do đó chu kì của thuật toán này là (ab/2 – 1), tạo thành một chu kì đặc biệt lớn để chọn ngẫu nhiên số, Ceto đã thành công trong việc qua mắt đội ngũ giám sát an ninh mạng suốt một thời gian dài. Anh chàng chỉ bị lòi đuôi khi bắt đầu tự mình nâng cấp thuật toán để có được một khoảng ngẫu nhiên rộng hơn mà không tính toán đến lưu lượng bộ nhớ cần sử dụng cho chương trình phức tạp ấy. Một điều thường thấy ở những kẻ quá tự tin vào năng lực siêu việt của mình. Căn bệnh chung của các thiên tài, nên không thể trách cứ cậu ta được. Nếu như có được năng lực lập trình đạt tới độ thượng thừa như thế, anh nghĩ mình có khi còn hành động liều lĩnh hơn cậu ta.

Thuật toán mới được Ceto áp dụng cho chương trình của mình để vượt qua các bài kiểm tra về độ ngẫu nhiên của các địa chỉ IP hoà mạng mỗi ngày là Mersenne Twister (chu kì số ngẫu nhiên luôn là một số Mersenne, được viết dưới dạng tổng quát là 2^n – 1 với n lớn hơn hoặc bằng giá trị 0), một thuật toán dược Matsumoto Makoto và Nishimura Takuji phát triển vào năm 1997 Sau Công nguyên, tức là rất lâu trước thời kì Will-O’-The-Wisp, khi con người vẫn còn sinh sống trên Trái Đất. Triển khai bằng đệ quy, sau đó dùng MT19937 để viết chương trình. Tuy nhiên, thuật toán của Ceto đã được hoàn thiện hơn một chút so với nguyên bản, đó là cải thiện về tốc độ truy xuất số ngẫu nhiên. Trước đây, thuật toán này có một chút vấn đề về performance, tức là xuất ra số khá chậm do phải chạy một chương trình đồ sộ. Vào tay Ceto, việc xuất số đã nhanh hơn gấp ba lần, nhưng lại khiến cho một nhược điểm của Mersenne Twister trầm trọng hơn, đó là tốn dung lượng.

Sau khi tra ra được thuật toán mà Ceto đã dùng, hệ thống dễ dàng lần ra được bước đi tiếp theo của cậu ta, đi trước một bước tiến hành đánh cắp thông tin trên đường truyền và phát đi dữ liệu giả mạo. Để lần ra Ceto thì khó khăn như vậy, bởi lẽ cậu ta chủ động trà trộn vào giữa các SHARK khác trên Earth 90, nhưng để phát hiện ra Rham và Deino thì lại không khó khăn tới mức đó. Không phải là họ không giỏi, bởi vì xét riêng về trình độ ẩn thân, Megalodon vẫn đánh giá hai người đó cao hơn Ceto vài bậc. Họ tự để lộ danh tính của mình do họ vẫn không chiến thắng được thói quen mà thôi.

Các ALLIGATOR trên hệ thống phi thuyền, phần lớn chỉ được học các kĩ năng tự vệ và chiến đấu trong một số đợt tập trận diễn ra định kì. Trong các đợt tập trận này, sau khi mọi người thực hiện các công tác di chuyển vị trí sau khi còi báo động hú lên, họ sẽ được đưa vào các tàu không gian để chuẩn bị rời khỏi phi thuyền, về cơ bản là giống hệt như lúc sơ tán khi có chiến tranh thực sự. Tại các tàu không gian này, các SHARK sẽ giải thích cho họ lí thuyết về phương thức sử dụng các thiết bị kĩ thuật được lắp đặt trên các tàu, một vài chú ý nhỏ khi áp dụng các thuyết này vào trường hợp cụ thể, trong khi các WHALE sẽ dạy họ cách lái tàu không gian và cách sơ cứu cho người bị thương trong các trường hợp khẩn cấp. Để giúp các ALLIGATOR không cảm thấy việc học tất cả các kĩ năng đó là nặng nề, và cũng là để đảm bảo sự bảo mật đối với một số quy trình chỉ được lưu hành nội bộ, các SHARK không bao giờ chỉ dẫn cho họ toàn bộ về các phương tiện kĩ thuật. Rất nhiều người không biết về các cửa lật được lắp đặt ẩn trên thành tàu, hay vị trí lắp đặt vũ khí. Tương tự, các WHALE cũng dạy họ cách sơ cứu mà cụ thể là quấn băng cố định khác với cách mà họ thường xuyên thực hiện.

Đây chính là lí do là Megalodon nhận ra “Rham” không phải là một ALLIGATOR mà phải là một WHALE khi nhìn vào băng cố định cổ chân mà anh ta quấn cho Eth. Sự khác biệt vốn không có gì to tát cả. Các SHARK và các WHALE khi băng vết thương cho người khác sẽ quấn dải băng bên trái trước, bên phải sau, còn ALLIGATOR thì ngược lại. “Rham” đã quấn băng cho Eth bằng dải bên trái trước, nên khi thấy anh nhìn cổ chân mình, cậu đã phát hiện ra ngay. Không phải ALLIGATOR mà lại nói dối mình là thương nhân, sửa lại phi thuyền cho giống với của lái buôn, nếu chẳng có gì khuất tất thì đã không phải làm như vậy.

Thành viên của các nhóm luôn có lòng tự tôn rất cao. Họ tự hào về vai trò của mình như một mắt xích tạo nên một dây chuyền khổng lồ để đảm bảo sự hoạt động trơn tru của thế giới. Chưa bao giờ, và chưa ở bất cứ đâu, con người lại hiểu rõ tầm quan trọng của bản thân như hiện tại. Họ sinh ra, trưởng thành, rồi chết đi. Nhưng đến tận lúc chết, họ vẫn có thể rành rọt kể lại họ đã làm được những gì cho cuộc đời, cho thế hệ sau của họ. Anh cũng đã nghĩ tới chuyện họ có phải hay không người phe mình, tức là cũng giống như Varolai, là các đặc vụ nằm vùng. Tuy nhiên, cả hai người họ đã dùng một cụm từ khiến cho những người khác lập tức nhận ra họ là người của đối thủ gài vào.

Shigenis đã rất khôn khéo khi bắt đầu cuộc tranh luận, vì chỉ khi cùng nhau đối thoại mới dễ dàng phát hiện ra sơ hở của Rham và Deino. Kể từ sau khi Livyatan đứng lên khởi nghĩa, mọi người đều có một ác cảm nhất định đối với nhà nước tự xưng này. Kể cả khi những người đã tiếp xúc với “phía bên kia”, đặc biệt là Shigenis đã ở trong nhà tù của địch một thời gian và biết được cuộc sống ở Apokalypsis trên các phi thuyền mới đích thị là sự giam lỏng, nhưng trong giao tiếp thường ngày, mọi người sẽ gọi người của đối phương là “người Livyatan”. Anh muốn một nhà nước, muốn được tự mình cai trị? Vậy thì ai theo anh là thần dân của anh, đừng động chạm tới người của chúng tôi, các anh vuốt mặt nể mũi, chúng tôi cũng cho các anh chút ít quyền tự do.

Cách gọi này không hề có ý hạ thấp những người theo chân Livyatan mà gần giống với việc phân biệt phe ta và phe địch hơn. Chính vì thế, sau khi nghe Varolai nói rằng mình không nghĩ Eth đã giết “người của Livyatan”, cả Rham và Deino đều chột dạ nên không mở miệng nói nhiều như ban đầu nữa. Rõ ràng, họ vẫn không phục luận điểm rằng Eth có quyền tức giận khi con mèo của mình bị giết thương tâm, họ từ chối tranh luận không phải là để dĩ hoà vi quý mà là vì nhận ra mình đã nói hớ ngay từ đầu và bị Shigenis dẫn vào tròng.

Cũng nhờ cuộc hội thoại này, Aul có thể tin tưởng vào phán đoán của mình, Shigenis cũng thông tin được cho Varolai ngay sau đó khi nhắc tới từ “mayday” (một mã từ quốc tế được dùng như một tín hiệu báo nguy trong liên lạc thông tin lời nói qua sóng radio, được lấy từ thuật ngữ tiếng Pháp venez m’aider có nghĩa là “hãy đến giúp tôi”) cùng cái tên Ulias. Varolai và Aul đều biết tên đội phó Đội Phản ứng tình huống khẩn cấp không phải là Ulias, nhưng cả hai đều không lên tiếng. Điều này chứng tỏ, hai người đã nhận được tín hiệu từ Shigenis về hai tên nội gián đang kề cận mình. “Mayday” thì dễ hiểu, nhưng vì sao lại là Ulias?

Ulias là cách sắp xếp theo chiều ngược lại các kí tự của địa danh Sailu, một thành phố và là nơi đặt hội đồng đô thị của quận Parbhani thuộc bang Maharashtra, Ấn Độ, một đất nước nằm tại châu Á của Trái Đất. Mã vùng của thành phố này là 02451, vô tình trùng với mã bưu điện của Massachusetts, tiểu bang đông dân nhất của khu vực New England thuộc vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, một đất nước châu Mỹ trước đây. “Massachusetts” chính là thuật ngữ của các WHALE dùng để chỉ người thuộc phe ta, tức là bao gồm những người ủng hộ Apokalypsis và những người dù không ủng hộ nhưng vẫn không theo Livyatan. Lí do được đưa ra cho sự lựa chọn này chính là vì trên huy hiệu của tiểu bang Massachusetts – theo những tự liệu được lưu giữ lại – có hình ảnh một người thổ dân đang cầm cung tên.

Ngược lại với Ulias là Sailu, từ Sailu dẫn thẳng tới Massachusetts, vẫn ngược lại của thổ dân – người phe ta (Massachusetts) là gì?

Là người phe địch.

.

Aulophyseter nhận ra hai người kia có điểm bất thường sau khi nghe câu “Có người! Có người đang phát tín hiệu cầu cứu!” của Deinosuchus – cho tới khi biết cậu ta là ai thì cứ gọi như vậy cho dễ xác định. Có hai loại tín hiệu cầu cứu trên tàu không gian. Loại thứ nhất là loại tự động, chỉ cần nhấn nút là được, đây là cách phát tín hiệu mà các WHALE chỉ cho ALLIGATOR và chắc chắn ALLIGATOR chỉ biết tới duy nhất phương pháp này. Loại thứ hai là loại bật – tắt thủ công, nhìn qua thì tín hiệu không khác mấy, nhưng vì là tự điều khiển bằng cách tắt đi rồi bật lại liên tục đèn pha, do đó biên độ bật – tắt sẽ không được đều đặn. Thông thường, khi một tàu không gian bị va chạm mạnh và hỏng hóc khoảng 1/3 tàu, hệ thống tín hiệu cầu cứu tự động sẽ được phát ra. Trong Vùng Hỗn Tạp, rất nhiều tàu bị hư hỏng sau các cơn bão thiên thạch bị bỏ lại tại khu vực này và không tàu nào không phát tín hiệu tự động. Do đó, với một ALLIGATOR, họ sẽ không thể biết được người trên tàu đang phát tín hiệu cầu cứu một cách thủ công nên thường đều bỏ qua các tín hiệu này khi đi trong Vùng Hỗn Tạp. Thế nhưng, Deinosuchus lại nói rằng trong tàu đó “có người đang phát tín hiệu cầu cứu”, điều mà không một ALLIGATOR nào đủ khả năng nhận biết được, do đó cậu ta chỉ có thể là một WHALE hoặc SHARK mà thôi.

Sau đó, Aul tóm được đuôi Rham khi mọi người đang hợp sức để sơ cứu các vết thương trên người Eth, Shigenis và Varolai nhờ cách anh ta quấn băng cho Eth. Chỗ này giống với Megalodon, là do quấn dải băng nào trước, dải băng nào sau nên bị lộ. Ngoại trừ băng quấn cổ chân, các vết thương khác đều được Rham quấn theo cách mà WHALE hướng dẫn các ALLIGATOR đó là quấn dải bên phải trước, nhưng đều bị xộc xệch do không thuận tay. Nguyên nhân khiến Rham không thể sửa lại băng quấn cổ chân cho Eth là vì ngay sau khi cậu ta xong việc, Megalodon đã bế Eth vào phòng nghỉ. Thói quen quấn băng của Rham khiến anh ta tự mình làm lộ chân tướng, chắc chắn Shigenis và Varolai chỉ cần liếc mắt là thấy. Vậy thì họ có nhận ra hay không? Tất nhiên là có, chỉ có điều, họ cần sự xác nhận đến từ những người khác nữa. Đây chính là lúc hệ thống kí hiệu của Eth phát huy tác dụng một cách cực kì triệt để.

Không phải ai cũng biết đến Eth, hay nhận ra cậu khi vô tình chạm mặt nhau bên ngoài các phi thuyền, nhưng nếu như nhắc tới chức danh Tiến sĩ Ngôn ngữ Ethereal thì các SHARK thuộc các cấp từ cấp 10 tới cấp 12 và các WHALE thuộc cấp 8 trở lên đều sẽ biết. Để hiểu rõ hơn chỗ này, thì cần phải hiểu một chút về hệ thống phân cấp bậc của Apokalypsis.

Để đảm bảo bộ máy hoạt động một cách trơn tru và nhịp nhàng, chính phủ Apokalypsis đã đưa ra một bảng phân tầng cấp bậc hết sức rõ ràng dành cho SHARK và WHALE, gọi là “Thập nhị hệ thống” (riêng ALLIGATOR thì không chia cấp bậc). Ngay từ khi sinh ra, các SHARK và các WHALE đã được tính là cấp 1. Trong quá trình lớn lên và trưởng thành, bước vào môi trường giáo dục, phải hoàn thành hết chương trình giáo dục phổ cập, họ mới được chuyển sang cấp 2. Đối với những cá nhân có thành tích nổi bật hoặc lập được chiến công hay có phát minh được đăng kí bản quyền, họ sẽ được thăng lên tới cấp 3, cấp 4 và tối đa là cấp 5. Nếu không chứng tỏ được năng lực của mình trong suốt quá trình lao động, việc thăng hạng sẽ diễn ra lâu hơn, cứ 10 năm thì tự động nâng một bậc tới tối đa là cấp 6. Từ cấp 6 trở lên, hai nhóm này có sự phân tầng khác nhau. Cấp bậc khác nhau, đặc thù công việc khác nhau, trình độ chuyên môn khác nhau, mức độ cống hiến khác nhau, mức độ ưu tiên khác nhau và như một lẽ tất yếu, các thông tin họ được cung cấp cũng sẽ không giống nhau.

Thông thường đối với SHARK, từ cấp 6 đến cấp 10 là dành cho bậc Cử nhân Đại học và Thạc sĩ, sự chênh lệch cấp bậc ở những người có học vị ngang hàng nhau xảy ra do có người đóng góp ít hơn, có người cống hiến nhiều hơn cho các phi thuyền cùng sự phát triển của chúng. Đạt tới cấp 10, 11 và 12 là những cá nhân xuất sắc, đạt được nhiều thành tựu trong nghiên cứu, góp phần thay đổi diện mạo của các phi thuyền, cải thiện chất lượng đời sống con người, hoặc làm việc cho bộ máy nhà nước và quân đội.

Xét theo hệ phân chia cấp bậc này, Ceto thuộc cấp 8, Megalodon và Helicoprion thuộc cấp 11, còn các Ghost phục vụ chính phủ cùng với Ethereal ở cấp cao nhất là cấp 12. Việc Ghost được đưa lên cấp cao nhất không phải là sự đặc cách, vì xét về bản chất, Ghost phải đạt tới trình độ ngang với cấp 10 thì mới được tiếp nhận vị trí của mình trong bộ máy chính quyền, việc đưa lên tới cấp 12 chỉ là để củng cố thêm quyền lực của họ mà thôi.

Đối với các WHALE, cấp 6, cấp 7 và cấp 8 phục vụ trong Cục Cảnh sát, đảm bảo việc giữ gìn an ninh trên các phi thuyền. Cấp 9, cấp 10 bao gồm lực lượng Cảnh sát cơ động, đặc chủng, đặc vụ, đặc phái viên, Đội Phản ứng các tình huống khẩn cấp, Đội Giám sát an toàn bay và Đội Giám sát vũ khí huỷ diệt. Cấp 11 bao gồm toàn bộ lực lượng của quân đội Apokalypsis, huấn luyện cho lính đặc chủng và đơn vị quản lí công dân – một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc điều tiết và kiểm soát công dân của Apokalypsis. Cấp 12 là các điệp vụ nằm vùng, những cá nhân thuộc cấp này luôn được bảo mật về thông tin để thuận tiện cho công tác, lí lịch của họ được tìm thấy bằng phương pháp thông thường đều được làm giả rất tinh vi, cũng thường xuyên được cập nhật để đảm bảo tính chân thực. Đây là điểm khác biệt quyết định giữa cấp cao nhất của SHARK với cấp cao nhất của WHALE. Tính bảo mật trong hồ sơ về các WHALE cao hơn của các SHARK rất nhiều.

Xét theo hệ phân chia cấp bậc này, Shigenis thuộc cấp 10, Aulophyseter thuộc cấp 11 và Varolai nghiễm nhiên ở cấp 12.

Đối với các SHARK từ cấp 10 trở lên và các WHALE từ cấp 8 trở lên, chính phủ đã yêu cầu Eth sáng tạo ra một hệ thống ngôn ngữ kí hiệu chuyên biệt để giao tiếp và trao đổi thông tin cho họ. Nói một cách dễ hiểu, thì giữa Megalodon, Aulophyseter, Shigenis, Varolai, Ghost và Ethereal có phương thức liên lạc mà chỉ họ mới biết cách sử dụng. Các tài liệu về dạng mật mã này được gửi trực tiếp tới các SHARK và các WHALE thuộc cấp độ cho phép, không thông qua hệ thống mạng mà được đặt lẫn trong các món hàng cùng nhu yếu phẩm được chuyển phát hàng tuần. Để tạo ra một ngôn ngữ mới thì cần rất nhiều thời gian nghiên cứu, cho nên để có thể dùng được ngay và dễ ghi nhớ hơn, Eth đã quyết định dựa vào các từ ngữ, các cử chỉ hành vi bình thường để mã hoá nó. Cách này vừa khoa học, vừa tiện lợi, lại có thể sử dụng trong giao tiếp thông thường mà không bị nghi ngờ gì.

Trong hệ quy đổi này, “mèo con” được ngầm hiểu là “nội gián” như một phép chơi chữ với từ “pussy cat”. Mèo thì sợ nước, cho nên “nước” chỉ hành động lật tẩy chân tướng của gián điệp. Dựa vào tính chất cấp thiết của vấn đề là có ba tầng hành động, “nước lạnh” là án binh bất động chờ mệnh lệnh, “nước nguội” là chuẩn bị phương án hành động và “nước sôi” là cần lập tức hành động. Cho nên khi nhìn thấy băng gạc ở cổ chân Ethereal, Megalodon mới nói rằng để “hỏi xem họ có nước sôi hay không”, tức là muốn ám chỉ việc mình sẽ đánh động cho ba WHALE kia về việc có nội gián trên phi thuyền.

Sau khi rời khỏi phòng Ethereal, Megalodon đã hỏi Rham rằng có món nào người ốm ăn vào mà không nôn hết “lục phủ ngũ tạng” ra ngoài hay không. Đây là một cách đánh động Aul. Ngũ tạng là năm bộ phận quan trọng nhất trong vùng ngực và bụng của con người, bao gồm tâm, can, tỳ, phế, thận. Lục phủ là sáu bộ phận quan trọng nhất trong vùng bụng, là vị, đảm, tam tiêu, bàng quang, tiểu trường, đại trường. Theo cách mã hoá của Eth, thì “lục phủ ngũ tạng” là để chỉ lần lượt mười một cấp bậc của SHARK và WHALE từ cấp 1 tới cấp 11, vì cấp 12 là cấp cao nhất nên không được tính gộp với các cấp thấp hơn. Trên phi thuyền lúc đó, ngoại trừ Rham và Deino, những người khác đều là “lục phủ ngũ tạng”. “Người ốm” vốn không phải một thuật ngữ, trong trường hợp này ám chỉ trực tiếp Ethereal, người đang bị thương phải nằm trong phòng. Tổng hợp lại, “người ốm nôn lục phủ ngũ tạng ra ngoài”, là ý muốn nói Ethereal đã loại trừ SHARK và WHALE, bên ngoài cũng nên chú ý hơn tới hai người còn lại.

Aul ra hiệu cho Shigenis rằng cả hai đều là nội gián bằng cách gõ hai tiếng lên thành ghế, Shigenis trả lời rằng mình đã hiểu bằng cách vẽ một vòng tròn vào không khí bằng ngón trỏ bàn tay phải. Riêng Coprion, vì cậu ta không được huấn luyện đặc biệt, hơn nữa lại ở rất gần Ceto, do đó để bảo đảm sự an toàn cho cậu ta và cho cả sự thành bại của kế hoạch, mọi người quyết định giấu kín chuyện này với Coprion. Cậu ta không biết vẫn tốt hơn.

Chưa biết mục đích của chúng là gì, nhưng nếu như chúng muốn tấn công, chúng ta không thể nghênh đón mà không có một sự chuẩn bị nào.

“Ở yên đây nhé.” Megalodon thì thầm với Ethereal lúc này đang đứng bên cạnh cánh cửa. Lát nữa nếu như Deino mở cửa bước vào, cậu ta cũng sẽ không nhìn thấy Eth do người kia đã bị cánh cửa che mất. Gật đầu với người kia một cái, Meg nhét một khẩu súng ngắn vào tay cậu. “Đạn đồng, nhưng không tệ. Phòng khi cần đến.”

“Mong là không.” Nhìn về phía cánh cửa đang đóng im ỉm, Eth mỉm cười. “Tôi vẫn thích plasma hơn.”

“Tôi cứ tưởng cậu thích độc dược?” Nghe tới đây, Shigenis không nhịn được mà lên tiếng. Gõ gõ hai tiếng lên báng súng, vẻ ngán ngẩm lộ rõ trên mặt anh. “Thật không ngờ có ngày lại phải dùng tới thứ cổ lỗ sĩ này.”

“Tôi chỉ không thích anh thôi, còn đâu cái gì cũng thích.” Lên đạn khẩu súng, Eth rê nòng súng lên tường, nhắm thẳng vị trí ngang khuỷu tay mà nã hai phát súng. Phía bên ngoài, một tiếng hét vang lên. Megalodon giật nảy người. Eth bắn súng chính xác thời điểm mà anh vừa mới nghe ra tiếng thở của Deino phía bên ngoài. Shigenis cũng ngây ra chưa kịp phản ứng, phải mất vài giây sau mới hoàn hồn. Vội vã mở cửa chạy ra bên ngoài, đập vào mắt Shigenis là tên nội gián đang đứng ôm bàn tay phải đang găm hai viên đạn đồng.

Thấy cậu ta đau đớn cố sống cố chết tìm cách chộp lấy khẩu súng nằm dưới sàn, Shigenis giơ chân đá vèo đi rồi lên đạn khẩu súng chĩa thẳng vào đối phương, ngắm vào đùi mà bắn thêm một phát nữa. Gầm lên như một mãnh thú bị thương, Deino loạng choạng giật lùi về phía sau mấy bước rồi ngã xuống. Từ hành lang phía bên kia phi thuyền truyền tới một tiếng súng. Âm thanh trong tai nghe của Shigenis rè rè mấy tiếng, nhưng anh vẫn có thể nghe thấy giọng Varolai thông báo nhiệm vụ hoàn thành. Vẫn chĩa súng về phía Deino, Shigenis nheo mắt nhìn người đang lườm mình toé lửa, lên đạn thêm một lần nữa tỏ ý mình không ngại bắn phát cuối cùng. Đoạn Shigenis ghé sát vào chiếc nhẫn trên ngón áp út mà nói nhỏ mấy câu, một lúc sau Aul từ một căn phòng mở cửa bước ra ngoài, tay cầm theo dây trói. Nói đúng hơn là một loại thiết bị đặc biệt bằng kim loại, chuyên dùng để “trói” người, chỉ có người biết mật mã mới có thể tháo thiết bị ra.

Nhìn đèn báo trên thiết bị chuyển từ xanh sang đỏ sau khi thiết bị được bật lên, Aulophyseter nhìn người kia cúi gằm mặt vì tức tối mà nhếch mép cười.

Trong phòng lúc này chỉ còn lại Eth và Megalodon. Bật chốt an toàn trên khẩu súng, Ethereal ngắm nghía một hồi thứ mà Shigenis tìm được trong kho vũ khí trên phi thuyền Farout, nói một câu tỉnh như không.

“Cũng không tệ lắm đâu.”

Nói rồi, Eth dùng tay không cầm súng nắm lấy khuỷu tay Megalodon, giọng như đang xoa dịu:

“Xin lỗi nhé, không cho anh cơ hội bảo vệ tôi rồi.”

“Không sao đâu,” Ngó xuống khẩu súng trên tay mình rồi lại nhìn vào mắt Ethereal, Megalodon nhẹ nhàng. “Cậu an toàn, thế là được rồi.”

.

Caution: Leak Information.

Caution: Leak Information.

Caution: Leak Information.

(Cảnh báo: Rò rỉ thông tin.

Cảnh báo: Rò rỉ thông tin.

Cảnh báo: Rò rỉ thông tin.)

“Activate APRICITY Protocal, corfirmed.”

(“Kích hoạt Giao thức APRICITY, xác nhận.”)

APRICITY Protocol: Activated.

(Giao thức APRICITY: Đã kích hoạt.)

“Supply classified information of Project GHOST, cofirmed.”

(“Cung cấp thông tin tuyệt mật của Dự án GHOST, xác nhận.”)

Classified information of Project GHOST: supplied.

(Thông tin tuyệt mật của Dự án GHOST: đã cung cấp.)

Classified information of Project GHOST: opened.

(Thông tin tuyệt mật của Dự án GHOST: đã được mở.)

 

Project GHOST: Classified Information #1.

(Dự án GHOST: Thông tin mật #1.)

Đặc vụ: Livyatan – Jaehyun, Jung.

Cấp bậc: WHALE – Cấp 12.

Mật danh: Rham, Rhamphosuchus.

Địa bàn hoạt động: Earth 97.

Phương tiện di chuyển: Farout, Phi thuyền của ALLIGATOR.

 

Project GHOST: Classified Information #2.

(Dự án GHOST: Thông tin mật #2.)

Đặc vụ: Livyatan – Sicheng, Dong.

Cấp bậc: WHALE – Cấp 12.

Mật danh: Deino, Deinosuchus.

Địa bàn hoạt động: Earth 97.

Phương tiện di chuyển: Farout, Phi thuyền của ALLIGATOR.

Project GHOST: Classified Information #3.

(Dự án GHOST: Thông tin mật #3.)

Đặc vụ: Livyatan – Jungwoo, Kim.

Cấp bậc: WHALE – Cấp 12.

Mật danh: Ceto, Cetotherium.

Địa bàn hoạt động: Earth 90.

Phương tiện di chuyển: Tàu không gian của Đơn vị Kĩ thuật phần mềm, Earth 90.

“Delete Classified Information #1, #2 and #3 of Project GHOST, confirm.”

(“Xoá Thông tin mật #1, #2 và #3 của Dự án GHOST, xác nhận.”)

Classified Information #1,  #2 and #3 of Project GHOST: deleted.

(Thông tin mật #1, #2 và #3 của Dự án GHOST: đã xoá.)

.

Anh sẽ cảm thấy thế nào?

Ý tôi là, anh sẽ cảm thấy thế nào khi nhận ra ngay từ giây phút mình mới chỉ là một bào thai, số phận đã định đoạt cho mình một con đường? Anh sẽ lớn lên như thế, sẽ gặp những người như thế để học những điều như thế, kết duyên với người như thế, chiến đấu với những người như thế. Anh không có một sự lựa chọn nào cả, và cho tới khi ý thức được mình chỉ đang tuân theo sự sắp đặt của người khác, anh đã không còn khả năng thay đổi bất cứ điều gì được nữa. Nếu như anh thậm chí còn chưa từng một lần nghĩ tới tình huống đó, vậy thì tôi xin được long trọng chúc mừng anh, vì ít nhất anh vẫn còn nắm trong tay một chút gì đó định mệnh của chính mình. Anh sẽ được quyền đưa ra quyết định, được quyền tìm một cửa ngách mà lách mình qua đó, để được đặt chân tới một chân trời rộng lớn hơn, gặp gỡ những con người mới mẻ hơn – những người chắc chắn sẽ thay đổi anh, chưa biết là theo hướng tích cực hay tiêu cực, nhưng anh sẽ không còn là “anh” mà người khác cố o ép biến anh trở thành được nữa.

Không thể thay đổi được, có muốn cách mấy cũng không thay đổi được, cách duy nhất có thể tới trong phút quẫn bách chỉ có cái chết, nhưng bao nhiêu người ngã xuống thì được coi là đủ để thay đổi một thứ đã được duy trì gần một thế kỉ? Một người, hai người, xem ra không được rồi. Bởi vì không phải ai muốn chết cũng tìm tới cái chết, nên suy cho cùng, người nói rằng sẽ cùng anh quyên sinh có khi lại là người sống lâu hơn cả cha mẹ anh. Không phải người ta sợ chết, mà là người ta lo lắng rằng, mình mà chết đi rồi thì các bậc sinh thành biết phải làm sao. Chưa nói tới chuyện có báo hiếu hay là không, vì tư tưởng đó, bờ Đông một đằng, bờ Tây một nẻo, xem ra khó mà trùng khớp. Nhưng thời khắc một sinh mạng chấm dứt, sẽ có nhiều hơn một người thấy đau lòng. Chưa làm gì được cho đời, đã khiến người khác phải khổ sở vì mình như thế, thứ vô dụng như vậy chết đi cũng đáng thôi. Muốn chết à, vậy thì đợi một chút, cho tới khi công thành danh toại rồi, chuyện gì cần phải làm cũng đã hoàn thành rồi, muốn chết ra sao thì chết, người ta sẽ khóc nhưng người ta còn thương. Chỉ sợ rằng tới lúc đó, đột nhiên lại không muốn chết nữa thôi, chứ anh khi ấy không thiết sống, tôi sẵn lòng giúp anh một tay để anh được toại nguyện một cách nhanh gọn và ít đau đớn nhất.

Bởi vì không còn cách nào để thay đổi những thứ đã được định sẵn trong một xã hội mà mọi thứ đều được đặt tên và gán cho một trách nhiệm, một nghĩa vụ, cho nên người ta sẽ tìm cách để nởi lỏng sợi dây tròng lên cổ mình ra để dễ thở một chút rồi sống cho thật tốt. Tận hưởng những gì mình đang có, biến nhược điểm thành ưu điểm, đó là cách duy nhất để sinh tồn. Anh cho là tôi đang nói suông? Vậy thì để tôi thử kể cho anh nghe nhé. Anh là một WHALE, tức là ngay từ khi mới sinh ra, anh là một trong số những người có cơ hội để làm việc ngoài thực địa. Anh xông pha khắp nơi, nhận những nhiệm vụ khó nhằn hơn cả, và bảo vệ người khác bao gồm cả những người quan trọng, hoặc đặc biệt quan trọng đối với anh. Anh là những người trực tiếp chiến đấu, giết chóc nhiều nhất có thể để giữ lại nhiều cái mạng nhất có thể. Nhưng anh không được nhanh nhẹn, tháo vát cho lắm, nếu như ra mặt trận thì chẳng khác nào đâm đầu vào chỗ chết cả. Vậy thì phải làm sao đây? Đơn giản thôi. Anh làm gì cũng chậm hơn mọi người một nhịp, do đó anh sẽ có nhiều thời gian để kiểm tra cho tới khi chắc chắn về độ an toàn của vũ khí. Cho anh quản lí quân trang, anh vừa làm được việc, chúng tôi vừa an tâm chiến đấu, thế là xong.

Anh vẫn chưa tin tôi hay sao? Được rồi, bây giờ thử tưởng tượng nhé, anh không giỏi làm việc theo nhóm. Cái tôi của anh quá lớn, với một cá tính như vậy, anh giống như một con ngựa bất kham, chẳng thể hợp tác cùng ai được, người ta cũng dè chừng không muốn làm việc cùng anh. Không may anh tự ý hành động, tuy rằng nhiệm vụ được đảm bảo, nhưng tính mạng mọi người lại bị đặt vào tình thế vô cùng nguy hiểm, không cẩn thận mà sơ sảy, chắc chắn cả đội khó có đường trở về. Thế thì người chỉ huy cần phải nhìn ra đặc điểm này của anh, tiến hành đào tạo anh về công tác phá dỡ bom mìn, tức là những công việc thường chỉ cần một người đảm nhiệm tại thực địa là ổn. Anh thấy đấy, không một ai bị bỏ lại phía sau hay chìm vào quên lãng một khi đã có năng lực. Bởi vì sẽ luôn có cách để các anh tìm được một vị trí phù hợp nhất với không chỉ thế mạnh mà còn các điểm chưa được hoàn thiện của mình.

Tôi đã từng gặp một WHALE không giỏi vận động. Chỉ đơn giản là không chơi nổi một môn thể thao nào đạt tới trình độ xuất sắc, cũng luôn thấy khó khăn mỗi lần diễn tập trên thao trường. Hiện tại anh ta đang làm công việc giám sát bay, không chỉ bảo đảm sự thành công của tất cả các nhiệm vụ diễn ra bên ngoài phi thuyền, mà còn giảm thiểu số vụ tai nạn trong quá trình lưu thông trong vũ trụ, để các ALLIGATOR có thể đi lại giữa các phi thuyền một cách an toàn nhất, các SHARK có thể thoải mái nghiên cứu mà không lo ngay ngáy một lúc nào đó sẽ có một tàu không gian đâm thẳng vào phòng mình vì một sự cố hạ cánh nhầm đường bay, và tất nhiên, các WHALE không thể làm việc một cách ổn thoả nếu thiếu đi những nhân vật như thế.

Tại sao các nhân viên của phòng quản lí công dân vẫn được coi là các WHALE cấp cao mặc dù họ chủ yếu chỉ làm việc với các dữ liệu? Vì họ, bằng cách này hay cách khác, chính là những người đang ra sức bảo vệ chúng ta. Trong một thế giới mà mọi thứ đều được số hoá, chính các dữ liệu đó có thể quay ngược trở lại và đánh bại chúng ta. Nhờ có họ, mỗi ngày chúng ta đều được sống trong vùng an toàn. Anh cho đó là một công việc nhàn hạ? Vậy thì hãy thử hỏi Aulophyseter xem, một ngày anh ấy phải xử lí bao nhiêu vụ tấn công an ninh mạng? Hàng trăm vụ trong một ngày, thưa anh. Lí do duy nhất khiến Aul phàn nàn về công việc này chính là anh ấy không được đào tạo một cách bài bản về nghiệp vụ, và anh ấy muốn quay lại với công tác huấn luyện lính đặc chủng.

Không một ai hoàn hảo cả, cho nên chúng ta mới cần phải tương trợ lẫn nhau. Một người sinh ra là một WHALE nhưng lại không có tư chất trở thành một điệp vụ nằm vùng, nhưng ai nói với anh rằng WHALE chỉ có các nhân viên tình báo? Chúng ta có nhiều hơn thế, và có thể làm nhiều hơn thế.

Có rất nhiều lúc, chúng ta tự ti với những khả năng của mình. Đó là bởi vì chúng ta chỉ nhìn vào những gì bản thân chưa làm được, trong khi cách để tiến lên phía trước phải là phát hiện ra thế mạnh lớn nhất của mình để ra sức bồi dưỡng nó và không để điểm yếu trở thành gánh nặng đối với người khác. Anh có thể nói với tôi rằng, rất nhiều người có đam mê làm công việc nghiên cứu nhưng lại sinh ra trong một nhà WHALE, vậy thì phải làm sao đây? Vậy thì tôi hỏi lại anh nhé, một đứa trẻ rất muốn được vẽ, nhưng nhà lại không có tiền mua giấy và màu thì nó làm thế nào? Liệu đứa bé ấy có chấp nhận chỉ đứng đó và ganh tị với những đứa trẻ khác hay không? Ồ không, trẻ con rất cứng đầu. Nó sẽ tìm mọi cách để vẽ. Không nhất thiết phải dùng tới giấy và màu, nó có thể vẽ lên khăn tay, lên giấy ăn, lên bất cứ bề mặt nào có thể vẽ, thậm chí là vẽ lên giày, lên vải áo bằng mọi thứ nó có thể tìm được, như than chì, như phẩm màu và các loại màu bột dùng trong nguỵ trang khi chiến đấu. Nó có bỏ cuộc không? Không. Anh vẫn có thể tiếp cận những tài liệu mà mình muốn đọc, thậm chí còn được khuyến khích để làm điều đó. Miễn là anh vẫn hoàn thành tốt nhiệm vụ mình được giao, anh có thể học bao nhiêu tuỳ ý.

Thời đại mà chúng ta đang sống, xét cho cùng, không tồi tệ như nhiều người vẫn nghĩ. Tôi đã học được rất nhiều điều từ những người mà mình nể phục. Tôi được rèn giũa để trở thành một người có ích, một người có thể làm được nhiều điều tốt đẹp cho cộng đồng của mình. Tôi cũng được làm nhiều việc mà mình thích nữa. Ở chỗ chúng tôi, không có văn chương, thơ phú, không có nhạc hoạ, không có điện ảnh, không có rất nhiều thú vui mà đáng nhẽ phải phát triển một cách rực rỡ. Chúng tôi ở lại quá lâu giai đoạn hậu cách mạng vì những người nắm quyền ngại thay đổi. Một sự trở mình ngay thời điểm này là điều cần được thực hiện, nhưng không phải là phá bỏ hoàn toàn gốc rễ của nó để dựng lên một đế chế mới. Một khi anh chỉ muốn san bằng mọi thứ cho phẳng căng để mình lên nắm quyền, vậy thì mục đích của anh cũng chỉ là quyền lực cùng vị trí đứng đầu chuỗi thức ăn thôi.

Anh nghĩ rằng thế giới mà các anh đang sống tốt đẹp hơn thế giới của chúng tôi, nhân đạo, nhân văn và nhân bản hơn thế giới của chúng tôi. Tôi đồng ý. Tôi đã sống trong nhà tù của các anh và phải thú thực có nhiều lúc tôi không hiểu đâu mới thực sự là nhà tù, Apokalypsis nơi tôi coi là nhà, hay ở đế chế của Livyatan. Nhưng đâu là nhân đạo, đâu là nhân văn, đâu là nhân bản, khi các anh giết chóc đồng bào chúng tôi để giành lấy ngôi vị độc tôn? Bỏ qua thiểu số để giành về lợi ích cho đa số? Ồ, vậy thì lại không được nhân đạo cho lắm rồi.

Dù nói ra điều này thì anh sẽ không tin, vì… Chà, anh có biết điểm tệ nhất của con người là gì không? Chính là chúng ta chỉ muốn nghe những điều mà chúng ta tin là nó đúng đắn ngay từ đầu mà thôi. Cho nên, anh sẽ thấy ngờ vực khi tôi nói rằng tôi căm ghét chế độ độc tài của Apokalypsis cùng luật pháp hà khắc của nó, và anh sẽ cho tôi là kẻ đạo đức giả vì tôi đã chịu bức bối trong tình cảnh này quá lâu, nhưng không đứng lên đấu tranh. Anh biết không? Tôi không thể đồng ý với anh hơn được nữa. Tôi muốn có một cuộc đảo chính, nhưng tôi không đủ sức chĩa súng vào những người đồng cam cộng khổ cùng mình. Bởi vì tôi thấy mình không đủ năng lực, chưa đủ quyết đoán, cho nên tôi không làm được và cũng không đi theo các anh được. Hi sinh những người mình yêu thương cho một điều cao đẹp hơn, cho một tương lai không ai bị đè nén nữa, xin lỗi anh, tôi không có dũng khí ấy.

Hai cô con gái của tôi, Yeoreom và Gaeul, đều ra đi khi mái tóc còn xanh. Các con còn quá nhỏ để hiểu rằng, hai người cha của các con đã làm tất cả những gì mà họ có thể làm. Mỗi khi tôi dấy lên ý định trả thù cho Yeoreom và Gaeul, tôi lại nghĩ thế này. Sẽ có con gái và con trai của một ông bố, một bà mẹ nào đó vì tôi mà không có cơ hội tạm biệt người thân, sẽ có một ai đó chịu đựng quá nhiều như cách tôi và Varolai đã phải tìm cách vượt qua. Tôi làm không được, và cũng không muốn làm nữa, bởi vì tôi không muốn giết một ai nữa.

Rốt cuộc thì, ai là người đã giết các con tôi? Apokalypsis? Chính phủ? Ghost? Những người chỉ làm theo mệnh lệnh nếu như không muốn bị trừng phạt theo cách tàn độc nhất? Hay là tôi và Varolai, người mà tôi thương yêu tới mức sẵn lòng đỡ thay một phát đạn? Tôi làm sao có thể trả thù được đây, khi mà trong thâm tâm tôi luôn cho rằng mình mới là người khiến Yeoreomie và Gaeulie không thể trở về nhà cùng chúng tôi được nữa? Tôi có nên tự kết liễu chính mình hay không, bởi vì tôi còn phải gánh trên vai mình sinh mạng của Hyojung, của Hyejin, của Mihyun, của Shiah, của Seunghee, của Jiho, của Yoobin, của Yewon nữa? Tôi vẫn phải sống để bảo vệ Varolai ngay cả khi em ấy nói rằng em ấy chẳng cần ai cả. Tôi vẫn phải sống để dẫn dắt đội của tôi, để sát cánh bên người của tôi. Tôi vẫn phải sống để tự trừng phạt bản thân mình, vì tôi không thể được giải thoát dễ dàng như thế được.

Luật. Không có luật pháp, chúng ta sẽ sống ra sao kia chứ? Nếu như bất cứ ai cũng có thể tự tung tự tác, muốn làm gì thì làm, muốn trả thù ai thì trả thù, muốn giết hại ai thì giết hại, xã hội sẽ ra sao? Anh đã từng thử tự hình dung sự hỗn mang ấy hay chỉ chối phăng tương lai với một sự huỷ diệt gần như là chắc chắn nếu như chúng ta thiếu luật pháp để tin vào những điều anh muốn tin và đang thuyết phục chúng tôi phải tin vào nó? Nếu như ai cũng có quyền chém giết những kẻ đã xâm phạm lợi ích hay đạp đổ hạnh phúc của mình, xã hội này sẽ không khác mấy một đống rác. Mà một khi đã là rác, cần phải xử lí chúng, tái chế chúng, mất bao nhiêu thời gian cũng phải làm. Cho nên, dù có mất bao nhiêu thời gian, tôi và những người khác cũng sẽ đứng về phía luật pháp, và bảo vệ nó khỏi những kẻ phá hoại. Mà muốn làm được điều ấy, chúng tôi phải chấp nhận luật pháp. Luật đề ra mà không được thực thi, vậy thì người ta sẽ không sợ nó nữa, có bao nhiêu điều luật cũng chỉ vô ích cả thôi.

.

“Sao rồi?” Thấy Shigenis bước vào khoang lái, Megalodon lên tiếng, mắt vẫn tập trung nhìn vào bảng điều khiển. Bởi vì Deino muốn đưa họ tới Earth 54 thì mục đích cũng không được tốt đẹp gì, cho nên hiện tại mọi người đã thống nhất với nhau rằng họ sẽ đi về Earth 60 để thay bộ cung cấp nhiên liệu rồi đi thẳng tới Earth 90. Đành rằng nếu như họ tới Earth 54 thì có thể khai thác nhiều thông tin hơn là ngồi đây chất vấn ba tên nội gián thế này, nhưng hiện tại họ không có đủ nguồn lực cả về nhân lực và vũ lực, và có tới bốn người đang không ở trong trạng thái tốt nhất để chiến đấu.

Shigenis ngán ngẩm ngồi xuống bên cạnh, lắc đầu. Megalodon liền bật cười.

“Tôi cũng nghĩ thế đấy. Họ sẵn sàng hi sinh để bảo vệ danh tính của nhau nên cũng không có gì lạ lắm. Nhưng mà,” Nghe thấy sự ngập ngừng trong giọng nói của Megalodon, Shigenis hiếu kì nhìn sang tỏ ý mình đang tập trung lắng nghe. Phải một lát sau, Meg mới nói tiếp. “Anh vẫn ổn chứ?”

“Sao anh lại hỏi thế?” Lần này tới lượt Shigenis cười phá lên.

“Ý tôi là, giữa anh và Varolai.” Vì tâm tình người kia đang dễ chịu, Megalodon cũng thấy thoải mái hơn. “Chắc cũng lâu rồi hai anh chưa hợp tác với nhau.”

“À, thật ra thì tôi chưa từng yểm trợ cho Varolai bao giờ đâu.” Đeo tai nghe vào, Shigenis thở dài. Không cần nhìn sang, anh cũng biết Megalodon đang ngỡ ngàng nhìn mình. “Varolai cũng có đội hỗ trợ của mình chứ.”

“Vậy à?” Megalodon vẫn mắt tròn mắt dẹt nhìn người kia. “Tại hai anh ăn ý quá, nên tôi cứ nghĩ là trước đây chắc hẳn phải nhiều lần làm việc cùng nhau rồi.”

Thấy Shigenis không trả lời mình, Meg quay lại với công việc. Sau khi xác định lại chính xác một lần nữa các toạ độ cùng thời gian bay, anh bật chế độ lái tự động rồi tháo tai nghe ra. Gần như cùng một nhịp, Shigenis cũng đặt tai nghe xuống bàn điều khiển. Cả hai ngồi yên lặng cạnh nhau một lúc, đưa mắt ngắm nhìn khung cảnh bên ngoài. Mỗi người đuổi bắt theo một dòng tâm tưởng của riêng mình, cũng sợ rằng nếu mình lên tiếng sẽ không may khiến mạch cảm xúc của đối phương đứt đoạn. Thật khiến người ta cảm thấy nực cười, khi đứng trước vũ trụ vô tận, vô thuỷ, vô chung như thế này, cảm giác choáng ngợp có chút nào vợi bớt đi sau khi con người đã có vô số trang thiết bị hiện đại để tạm gọi là đủ để xoay sở bên ngoài một hành tinh tới cả trăm năm. Càng tối tân, càng ra đời nhiều phát minh hơn, con người càng bẽ bàng nhận ra mình đang bất lực trước tự nhiên, vì có nâng cấp bao nhiêu cũng không thấy đủ. Cũng giống như việc cố gắng tỏ ra vui vẻ mặc cho trái tim trĩu nặng vậy, càng rạng rỡ bao nhiêu, trong lòng mây đen càng giăng kín lối về bấy nhiêu. Bên ngoài càng bóng bẩy, chải chuốt cầu kì, bên trong càng thê thảm. Bên ngoài càng cứng rắn, kiên cường, bên trong càng mềm yếu. Không phải trước nay đều như vậy hay sao? Chúng ta luôn làm đủ mọi cách để che đậy một điều gì đó mà mình mong không ai nhìn thấy, cho tới một ngày mọi thứ vỡ lở thì lại lấy cái cớ “tôi cũng chỉ là con người thôi” để mà bạo biện.

Ai mà chẳng biết anh là con người, quan trọng anh là con người thế nào kia.

Nghĩ lại, Megalodon là người thế nào nhỉ?

Bần thần nhìn người đàn ông đang ngả người vào ghế mà ngắm nhìn vũ trụ mở ra trước mắt với khuôn mặt bình thản đến lạ lùng, Shigenis thoáng chột dạ. Anh vừa mới nhận ra từ lúc lên tàu tới giờ, người duy nhất mà anh không biết được một chút thông tin gì ngoài cái tên và quê quán là Megalodon. Anh ta cũng ít khi nào ở riêng một mình, mà ở cùng người khác thì Shigenis lại không tiện tới gần mà bắt chuyện vì làm như vậy sẽ xen ngang vào cuộc trò chuyện của Meg với người khác, rất vô duyên. Không hiểu có phải Megalodon cố tình chủ động bắt chuyện với mọi người và cũng tự mình kết thúc cuộc hội thoại hay không, nhưng thú thực, anh rất muốn biết để có được một Megalodon bây giờ, anh ta đã phải trải qua những gì.

Những người trên phi thuyền hiện tại, kể cả ba tên nội gián đều có những câu chuyện riêng, cho nên anh nghĩ người kia cũng không thể là ngoại lệ được. Ngược lại, người càng tỏ ra mình ổn mới là nhân vật có vô số điều để mà bàn luận. Hơn nữa, cách Megalodon đứng về phía Ethereal trong gần như tất cả mọi chuyện khiến anh có phần cảnh giác người này hơn. Không phải là anh chưa từng nghe nói tới tình yêu sét đánh, vì yêu từ cái nhìn đầu tiên cũng không phải chuyện hiếm gặp, anh đã từng chứng kiến điều ấy, cũng biết ít nhiều khi nghe những câu chuyện mà các thành viên trẻ tuổi trong đội mà mình làm chỉ huy kể lại. Nhưng nếu Megalodon thực sự thấy có cảm tình với Eth, xem ra họ lại vướng vào một thời điểm không mấy thích hợp rồi.

Bởi vì kể cả khi họ đang ở rất xa tiền tuyến, con người đang trong một cuộc chiến ngoài vũ trụ. Sẽ có rất nhiều thương vong, đây là điều chắc chắn. Anh và Varolai đã cùng nhau trải qua nhiều chuyện còn kinh thiên động địa hơn thế này mà nghĩ tới chiến tranh, tới cảnh chia phôi còn thoáng rùng mình, phải nhắc nhở nhau nếu như có thể cùng nhau chết thì tốt quá rồi, nhưng nếu như chỉ vừa mới gặp gỡ rồi yêu thương nhau mà phải đứng giữa một cuộc chiến thì quả thực vũ trụ cũng đã quá tàn nhẫn với con người rồi.

Còn nếu như Megalodon có ý đồ gì với Eth… Anh thật sự chưa nghĩ ra được đâu sẽ là một động cơ thích hợp cho hành động này. Đối với ba người kia, họ đã lờ mờ đoán ra được sự nghi ngờ của những người khác về thân phận thật sự của mình, cộng thêm việc có quá nhiều người trên tàu thì việc bại lộ chỉ là chuyện không sớm thì muộn thôi, cho nên kể cả khi hôm qua Coprion không tìm đọc hồ sơ của họ thì Ceto cũng vẫn sẽ giết cậu ta. Tương tự, Rham sẽ ra tay với anh và Varolai trong khi Deino thì xử lí Aul, Megalodon và Eth. Việc cả bọn có thể tóm gọn một mẻ trước khi tàu cập bến Earth 54 là vì mọi người đã đi trước một bước để giăng lưới mà thôi. Động cơ hành động của bọn chúng rất rõ ràng, là vì muốn bảo vệ vỏ bọc của mình, tiếp tục len lỏi vào giữa các ALLIGATOR và các SHARK khác nhằm phục vụ cho Livyatan. Nhưng động cơ của Meg là gì, bởi vì chưa biết gì về anh ta, nên anh có đoán cũng chẳng dám đoán bừa.

Nghe Coprion bảo rằng, cậu ấy mới chỉ kịp xem qua hồ sơ của Rham, Deino và Ceto thôi, còn hồ sơ của Meg thì chưa kịp động tới đã bị Rham cầm đi rồi. Lát nữa phải hỏi Varolai xem sao. Varolai đang phụ trách thẩm vấn Rham trong phòng, tới giờ vẫn chưa thấy ra ngoài. Có hai tình huống trong phòng thẩm vấn khiến cho quá trình lấy lời khai dai dẳng tới gần nửa ngày, một là không có gì để nói nên hai bên đấu trí với nhau xem bên nào bỏ cuộc trước, hai là dùng đủ mọi biện pháp tâm lí, ép người kia phải tuôn ra tất cả những gì mình biết. Varolai mà bước vào phòng thẩm vấn thì thường là loại thứ hai. Thật sự, ai có thể thua chứ Varolai thì không.

À không, anh vừa nhận ra còn một người nữa thuộc loại không thể thua.

Aulophyseter.

Vừa nghĩ tới cái tên này, Shigenis so hai vai mà rùng mình một cái. Thấy vậy, Megalodon tưởng anh thấy lạnh, bèn đứng dậy điều chỉnh nhiệt độ trong khoang lái. Gật đầu tỏ ý cảm ơn, không để cho người kia nhận ra mình đang vì nghĩ tới cảnh Aul trong phòng thẩm vấn mà lạnh đến run người, Shigenis hạ thấp ghế ngồi xuống, nói như đang đùa:

“Anh với Eth đến đâu rồi?”

Người kia im lặng không nói gì. Shigenis xoay xoay chiếc nhẫn trên ngón áp út, đưa mắt nhìn Megalodon vẫn đang đứng sừng sững một góc khoang lái.

“Tôi hỏi thật đấy. Tôi thấy anh có vẻ thích cậu ta.”

“Ai lại có thể không thích cậu ấy chứ?” Megalodon kéo ghế ngồi xuống. Thấy Shigenis nhịn cười nhìn mình thì luống cuống đế thêm một câu. “Ý tôi là, cậu ấy đẹp và thông minh, không phải sao? Ai lại ghét một người vừa có tài vừa có sắc?”

“Tôi này,” Shigenis giơ tay, vẫn mỉm cười tỏ ý mình đã biết tỏng hết mọi chuyện rồi. Thường thì những người tỏ ra như vậy sẽ chẳng biết gì cả. “Nhưng tôi ghét cái loại dối lòng hơn.”

“Dối lòng ấy à?” Megalodon có vẻ tư lự.

“Chứ còn sao nữa. Tôi thấy chỉ có anh, cùng lắm là thêm Varolai và Coprion là thích cậu ta thôi.” Shigenis phẩy tay. “Không phải cứ đẹp với giỏi là khắc có người thích nhé. Ai đụng tới Varolai là tôi ghét hết.”

“Nhưng mà anh ấy, Megalodon, khiến tôi thấy hơi lạ một chút.” Bởi vì Meg vẫn không nói gì, Shigenis quyết định hỏi thẳng. Vòng vo cả một ngày mà không thu được gì, chỉ tổ tốn thời gian. “Anh đối xử tốt với Eth như vậy, có lí do nào đặc biệt không?”

“Từ bao giờ phải cần lí do để đối xử tốt với người khác vậy?” Có vẻ không nhịn được nữa, Meg nhíu mày hỏi ngược lại.

“Nếu như anh sống ở Earth 95, mọi người sẽ kết luận anh muốn lên giường với cậu ta.” Shigenis tỉnh bơ.

“Vậy thì cứ coi như tôi muốn cho Ethereal biết, không phải ai đối tốt với cậu cũng đều là vì muốn trục lợi từ cậu ấy.”

“Tức là anh không muốn lên giường với cậu ta?” Như chỉ chờ có thế, Shigenis hỏi vặn lại một câu làm người kia ngây ra như phỗng. Hắng giọng một tiếng, anh thấy mình trêu chọc Megalodon đủ rồi bèn xua xua tay. “Tôi đùa đấy, đừng nghĩ nhiều. Anh cứ thử hỏi cậu ta xem thế nào, nếu cả hai đều thấy thoải mái thì tiến tới với nhau thôi. Nhớ là anh luôn có sự ủng hộ của tôi nhé.”

Chắc là vì đã có gia đình rồi, cho nên Shigenis đối với những chủ đề thế này không có một chút bài xích nào cả, ngược lại còn rất tự tin đưa ra lời khuyên cho người khác. Dù sao thì, trong mắt một WHALE như anh, các SHARK kiểu gì thì kiểu vẫn cứ hơi cù lần trong mấy vụ như này. Mà người ta đã ngây ngô như vậy, thật sự không thể đứng ngoài nhìn được. Nhìn khuôn mặt tẽn tò của Megalodon, anh tặc lưỡi một cái. Người như thế này, chắc chẳng có ý đồ gì xấu đâu nhỉ. Kể ra thì cũng đâu phải ai nhìn bên ngoài một đằng, nội tâm một nẻo đâu. Trên đời này chỉ có một Aulophyseter nhìn như con gấu bông nhưng sẵn lòng xiên người khác một nhát đau hơn hoạn và một Varolai lúc nào cũng nói cười tươi như hoa nhưng len lén tháo chốt lựu đạn rồi ném vào hội trường toàn các quan chức cấp cao của địch mà thôi.

“Mà tôi nghĩ là Ethereal cũng thích anh đấy.” Chỉnh lại chiếc nhẫn đeo trên ngón tay mình, Shigenis nói một cách thân tình.

“Anh thấy thế thật à?” Megalodon luống cuống, hai mắt cũng sáng ngời lên, bất giác mỉm cười mà không biết.

“Thì đấy, cậu ta cũng nói rồi còn gì?” Shigenis mở cửa khoang lái, quay lại nói một câu cuối cùng với Megalodon trước khi rời đi. “Ngoài tôi ra thì ai mà cậu ta chẳng thích.”

Bỏ lại Megalodon ngồi một mình trong khoang lái, Shigenis hướng về phía căn phòng đang được sử dụng làm phòng thẩm vấn Ceto, vừa thầm nghĩ không hiểu cậu ta bị Aul làm cho sợ đến cấp độ mấy rồi, vừa nói nhỏ vào chiếc nhẫn trên ngón áp út bàn tay trái.

“Em nghe được hết rồi đúng không?”

“Vâng, em nghe được rồi.” Trong tai nghe truyền tới giọng của Varolai. “Anh quay về chỗ Deino đi, đừng để cậu ta ở một mình.”

“Ừ, anh biết rồi.”

Ngắt kết nối tai nghe, Varolai nhìn Rham rồi gật đầu một cái, lắp giảm thanh vào súng rồi ngắm thẳng vào ngực trái mà bóp cò. Đợi cho tới khi Rham tắt thở hoàn toàn, Varolai kéo lê một chân trên sàn mà tiến tới gần cánh cửa rồi ngồi phịch xuống. Ngửa cổ nhìn lên ngọn đèn trên trần, một giọt nước mắt cứ thế lăn dài trên má anh. Nấc lên một tiếng nghẹn ngào, Varolai thì thầm vào thiết bị gắn trên kim gài cúc cổ tay áo mà mình vừa lấy trên người Rham.

“Varolai. Trên Farout vẫn còn người phe ta. Báo cáo, hết.”

Vừa dứt lời, Varolai nghe thấy tiếng lạch cạch vang lên phía bên kia cánh cửa. Chưa kịp giơ súng phòng vệ, hai tiếng nổ liên tiếp nhau vang lên, cùng với đó là hai phát đạn găm thẳng vào mạn sườn bên trái của Varolai. Cánh cửa bị đạp cho bật tung cả bản lề khiến cả người Varolai đang dựa lưng vào cửa bị đẩy văng ra xa. Đứng bên ngoài cánh cửa là Aul đang cầm súng, phía sau lưng anh là Shigenis. Ánh mắt chết chóc của Aul như nhìn xuyên qua Varolai khiến sống lưng anh lạnh toát, ruột gan như bị xới tung lên, rối bời, quặn thắt.

“Bài học đầu tiên trong tác chiến của Apokalypsis: tránh xa các cánh cửa,” Giọng Aul đều đều vang lên nhưng không rõ vì sao mà từng lời lại như những mũi kim đâm thẳng vào tim Varolai. “Livyatan đã làm hư người của tôi mất rồi.”

Ném khẩu súng xuống sàn, hai tay Aulophyseter buông thõng, thế nhưng đầu lại ngẩng cao như muốn ngăn không cho nước mắt chảy ra. Khuôn mặt anh lúc này không chỉ còn sự chua xót, đau đớn, mà còn có cả sự ghét bỏ và khinh bỉ tới tận cùng. Phía sau lưng anh, Shigenis đã rời đi. Một tiếng động lớn vang lên. Đoán chắc Shigenis vừa đấm lên tường như anh vẫn làm mỗi khi bất lực, Varolai bật cười một tiếng, ánh mắt vô hồn nhìn máu tươi rỉ ra từ vết thương bên sườn, không hiểu vì sao cổ họng cứ nghẹn ứ lại, còn nước mắt thì cứ giàn giụa hai bên má.

.

“Activate APRICITY Protocal, corfirmed.”

(“Kích hoạt Giao thức APRICITY, xác nhận.”)

APRICITY Protocol: Activated.

(Giao thức APRICITY: Đã kích hoạt.)

“Supply classified information of Project GHOST, cofirmed.”

(“Cung cấp thông tin tuyệt mật của Dự án GHOST, xác nhận.”)

Classified information of Project GHOST: supplied.

(Thông tin tuyệt mật của Dự án GHOST: đã cung cấp.)

Classified information of Project GHOST: opened.

(Thông tin tuyệt mật của Dự án GHOST: đã được mở.)

 

Project GHOST: Classified Information #4.

(Dự án GHOST: Thông tin mật #4.)

Đặc vụ: Livyatan – Yuta, Nakamoto.

Cấp bậc: WHALE – Cấp 12.

Mật danh: Varolai, Zygophyseter Varolai.

Địa bàn hoạt động: Earth 95.

Phương tiện di chuyển: Tàu không gian dành cho công dân.

“Delete Classified Information #4 of Project GHOST, confirm.”

(“Xoá Thông tin mật #4 của Dự án GHOST, xác nhận.”)

Classified Information #4 of Project GHOST: deleted.

(Thông tin mật #4 của Dự án GHOST: đã xoá.)

.

Location: Farout, The Spaceship of Livyatan Empire’s Undercover Polices.

Nearest Destination: Earth 60.

(Địa điểm: Phi thuyền Farout của Cảnh sát chìm thuộc Đế chế Livyatan.

Điểm đến gần nhất: Trái Đất 60.)

“Tôi thay băng cho anh rồi đấy. Vài ngay tới đừng cử động mạnh quá.” Nghĩ tới việc bệnh nhân của mình vừa mới hôm qua, ừ thì vừa mới hôm qua đây thôi chứ chẳng xa xôi hẻo lánh gì, còn cầm súng bắn suýt thì hỏng bàn tay phải của một tên nội gián khiến cho đội trưởng Đội Phản ứng các tình huống khẩn cấp tự dưng chẳng có việc gì để làm, Coprion chép chép miệng nhắc một câu cho có lệ rồi thôi. Gì chứ mấy tay lính chuyên môn chạy đông chạy tây bất chấp cảnh báo của bác sĩ không phải anh mới gặp lần đầu. Dù Ethereal không hẳn là lính tráng gì, nhưng cả nhà anh ta làm trong quân ngũ, bản thân anh ta cũng được môi trường quân đội rèn giũa, cho nên máu xông pha trong người cứ phải gọi là cuồn cuộn.

Bực mình, Coprion ấn mạnh vào vết thương trên bắp tay của Ethereal một cái khiến người kia giãy lên như đỉa phải vôi. Nghe tiếng xuýt xoa của tay bệnh nhân cứng đầu cứng cổ, Coprion lườm một cái.

“Biết đau rồi cơ đấy.”

“Nhưng nếu tôi không ra tay, anh ta có thể nổ súng ngay lúc đó đấy.” Eth vẫn cãi ngang. “Có thể bắn được thì vẫn cứ nên bắn ngay.”

“Rồi rồi biết rồi.” Coprion gục gặc đầu. Thấy vậy, Eth có vẻ hơi không vui, cho nên Coprion bèn lảng sang chủ đề khác. “Mà làm thế nào anh xác định được vị trí tay của Deino?”

“Luyện tập.” Nhận ra mình vừa nói ra một câu khiến người khác sốc tận óc, Eth nói thêm. “Trong quân đội, chúng tôi được học cách xác định vị trí ngắm bắn vào các bộ phận khác nhau. Tôi áng chừng theo chiều cao của Deino và tư thế di chuyển của cậu ta khi ấy để bắn thôi, cũng không có gì đặc sắc lắm.”

Bảo làm sao mà người ta cứ rỉ tai nhau về sự huyền thoại của quân đội Apokalypsis, rồi còn kháo nhau rằng nếu như gặp bất cứ quân nhân nào, việc đầu tiên không phải là giơ tay lên chào, mà phải hỏi xem anh ta có thể bắn trúng bao nhiêu phát trong bóng tối bằng tay không thuận. Xem ra lời đồn đại về sự khủng bố của đội quân này không phải là không có cơ sở. Phải luyện tập với cường độ cao tới mức nào mới hình thành được phản xạ ước tính chiều cao của người đứng cách mình một bức tường để mà bách phát bách trúng như thế? Quả nhiên, chỉ có những người phi thường mới coi những việc không bình thường chỉ là tầm thường.

“Tức là ngay từ đầu, anh chỉ muốn bắn vào tay Deino thôi?”

“Phải,” Eth gật đầu như gà mổ thóc. “Tôi chỉ muốn bắn vào tay cầm súng của cậu ta thôi. Không cầm được súng nữa, cậu ta đâu có nguy hại gì nữa, đúng không?”

Vẫn rất nguy hiểm, thưa anh. Deino mà phải nghe thấy câu này sẽ khóc mất.

“May mà cậu chỉ bắn vào tay thôi đấy, nếu không anh đây giết cậu.”

Đúng lúc này, cửa phòng bật mở. Coprion há hốc mồm vì sửng sốt khi nhìn thấy chủ nhân của câu nói ban nãy đang tiến vào phòng, còn Eth bên cạnh cũng chẳng khá hơn, trong giây lát thấy mắt mình muốn rơi ra khỏi tròng. Thấy hai người kia nhìn mình không chớp mắt, Aul lắc đầu tỏ vẻ không thèm chấp rồi đỡ Deino xuống giường. Vẫn chưa hết sững sờ, Coprion ôm Eth ngồi sát lại gần mình để dành chỗ cho Deino ngả lưng, đoạn giương mắt nhìn Aul. Trước sự nôn nóng chỉ muốn sấn sổ nhảy chồm tới chỗ mình mà hỏi cho ra nhẽ của Coprion và Eth, người kia thả một câu như sấm nổ vang trời:

“Thôi nhìn cái gì nữa, người phe ta đấy.”

Chán chường nhìn hai tên kia trong chốc lát hoá ngốc cứ hết nhìn mình rồi lại nhìn Deino đang phát sốt trên giường, Aul vỗ mạnh hai tay vào nhau tạo thành một âm thanh chát chúa làm cả đôi giật nảy cả người. Đắc ý nhìn thành quả của mình, Aul gật đầu với Coprion và Eth:

“Lát nữa tôi kể cho nghe, bây giờ không có thời gian.” Nói rồi, anh nhăn nhó mặt mày như vừa nghĩ tới chuyện gì khủng khiếp lắm. Mà đúng là khủng khiếp thật. Cứ thử hình dung anh sẽ phải nói với Shigenis, người đang lẩm bẩm một mình như một thằng dở người bên cạnh thằng chồng đang sắp chết vì nhịn cười của nó, rằng anh không cố ý bắn chồng nó đâu, da gà da vịt các thể loại đã nổi lên khắp người Aulophyseter. “Tôi sắp phải giải thích cho một tay đã từng được huấn luyện chuyên nghiệp nghe lí do tôi phải bắn hai phát vào mạn sườn chồng nó và chắc chắn nó sẽ không thèm hiểu lấy một từ. Ai có cao kiến gì không?”

“Anh từng tham gia đàm phán đúng không?” Coprion liếc nhìn Eth.

“Nhưng vụ đó tôi thất bại.” Eth trừng mắt nhìn lại.

“Nhưng anh thất bại có đúng một vụ.” Coprion cũng không phải dạng vừa, lập tức phản pháo.

“Nhưng tôi thất bại vụ đó.” Eth không chịu thua.

“Thôi, để tôi tự nói.” Aul xen vào giữa cuộc hội thoại xem chừng không có hồi kết kia. Nói rồi, anh quay lưng toan rời đi, trước khi đi không quên để lại một câu. “Deino là người phe ta. Đừng nhìn chằm chằm người ta như thế.”

.

Helicoprion đang kiểm tra tình trạng các vết thương của Ethereal, còn Aulophyseter đứng canh bên ngoài cửa phòng Deino, phòng khi cậu ta tỉnh dậy. Hai viên đạn trên vai do Shigenis bắn cùng hai viên đạn ở bàn tay phải từ súng của Ethereal đều đã được gắp ra từ ngày hôm qua, tuy vậy dù thế nào vẫn là vết thương do đạn bắn, cần nhiều thời gian để hồi phục. Khả năng sử dụng tay phải của cậu ta ít nhiều sẽ bị cản trở, nhưng dù sao thì có thể giữ được cái mạng khi ở giữa những người hoàn toàn có khả năng bắn thẳng vào cổ họng mình thay vì nhắm vào các vị trí không mấy nguy hiểm, tính ra cậu ta cũng có số hưởng rồi. Từ hôm qua tới giờ, Shigenis lúc nào cũng túc trực bên giường Varolai. Vết thương của người kia đã được tiến hành điều trị ngay lúc đó, nhưng vì tình trạng sức khoẻ vốn đã sa sút nhiều, nên hiện tại anh ta đang ngủ một giấc dài trong phòng. Mọi người tuy có chút lo ngại về việc cắt cử Shigenis ở cùng một chỗ với Varolai, bởi lẽ mối quan hệ giữa hai người bọn họ tính ra là thân tình nhất nếu đem so với tất cả những người đang có mặt trên phi thuyền. Nhưng Aulophyseter bảo rằng Shigenis biết rõ mình nên làm gì, cho nên sau cùng không ai có ý kiến gì nữa.

Rham đã chết, mọi người trên thuyền nếu không có nhiệm vụ riêng thì đều đang dưỡng thương, chỉ còn lại một mình Megalodon ngồi lại với Ceto. Nói là ngồi lại, bởi vì về cơ bản anh chỉ ngồi đối diện cậu ta chứ không buồn giao tiếp. Không nhìn, không nghe, không nói, không quan tâm. Là sự khinh rẻ hay là sự bàng quan, nếu như chỉ quan sát từ bên ngoài, nhất thời không thể đoán ra được. Cầm lên một trong những tập hồ sơ đặt trên bàn, anh nhận ra đây chính là chỗ tài liệu mà Coprion đã tìm được trước khi bị Ceto dí súng vào đầu. Bình thản lật giở từng trang một, Megalodon vừa đọc vừa gật gù ra vẻ giác ngộ lắm. Ở phía đối diện, Ceto nhìn Meg chằm chằm bằng ánh mắt gay gắt như muốn thiêu sống anh ngay tại chỗ. Một người căm thù nhân vật mà không ai ghét nổi, vậy thì người đó có rất nhiều chuyện để nói.

“Làm thế nào mày lần ra tao?” Ceto hằn học.

Mặc kệ người kia tỏ rõ thái độ khó chịu với mình, Megalodon vẫn dán mắt vào mấy trang hồ sơ, hoàn toàn không có hứng thú muốn tiếp chuyện. Rồi như nhìn thấy một thông tin gì đó lí thú, anh bĩu môi rồi gật đầu mấy cái liền, đoạn chống cằm đọc thật lớn nội dung trong tài liệu, vừa đọc vừa liếc mắt về phía Ceto vẻ vô cùng đắc ý.

“Livyatan cấp 12, mật danh dùng trong hoạt động là Cetotherium, nằm vùng tại Đơn vị Kĩ thuật phần mềm của Earth 90. Con trai Tổng Tư lệnh Liv của Quân đội Livyatan và Đại tá Del, một Delphinapterus Leucas của Quân đội Livyatan. Ồ, cậu có một chị gái cơ à? Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng?”

“Đừng động chị tao!” Ceto không giữ được bình tĩnh mà hét lớn, cả người giãy giụa muốn vùng dậy nhưng bị dây trói giữ lại.

“Chậc chậc, đừng kích động thế chứ.” Giọng Megalodon tỏ vẻ quan tâm, nhưng thần thái lại là vẻ thờ ơ không buồn đậy đượm. “Tôi chỉ muốn gửi cho cô ấy một món quà thôi ấy mà.”

“Để chị ấy yên, khốn kiếp!”

“Nặng lời quá rồi đấy, dù gì chúng ta cũng từng khá thân thiết mà nhỉ?” Megalodon săm soi móng tay mình rồi đưa lên sát miệng mà thổi thổi mấy cái rồi nói bằng giọng giận lẫy như thể mình đang vô cùng tủi thân. Vẻ kệch cỡm và giả tạo này khác hẳn với điệu bộ ngây ngốc của một SHARK mà Megalodon luôn cố tỏ ra, nhưng dường như đây mới thực sự là Megalodon. Một Megalodon thực sự, với tất cả những mưu mô, tính toán cùng sự nhạy bén thâm căn cố đế của một con thú săn mồi. Một con thú săn mồi có khứu giác hoàn hảo, nhận ra được một giọt máu trong một triệu giọt nước biển. Một con thú săn mồi có thính giác nhạy bén, nghe thấy tiếng con mồi từ khoảng cách ngàn dặm. Nó chắc chắn sẽ không buông tha. Nó chắc chắn sẽ không khoan nhượng. Và đừng bao giờ hi vọng có thể nói đạo lí với nó, vì nó sẽ không buồn để lọt tai lấy một từ. Càng không nên tỏ ra mình không hề run sợ trước nó, vì giống loài ấy có thể đánh hơi được cả nỗi sợ.

Cách duy nhất để đối phó với một con cá mập, chính là không tìm cách bơi ra ra khỏi nó. Đối mặt với nó. Trực diện.

“Phải, chúng ta đã từng thân thiết… Nhỉ?” Mắt Ceto vằn tơ máu. “Với những gì tao biết về mày, tao đang không biết mày định làm gì để bảo vệ cậu ta đấy.”

“Chuyện đó thì không tới lượt mày phải lo đâu.” Nhắc tới Ethereal, Megalodon lập tức thay đổi ngữ điệu. Điệu bộ cợt nhả nhường chỗ cho sự nghiêm nghị. “Không một ai dám động tới cậu ta khi tao vẫn còn ở đây cả. Mày thấy đấy, tao luôn có cách để xử đẹp cả đám bậu xậu chúng mày.”

“Ồ không, tao không mấy quan ngại điều đó.”

Nói tới đây, Ceto cười the thé. Điệu cười man dại đến chói tai cùng đôi mắt dại ra trên khuôn mặt đối phương khiến Megalodon sững sờ. Đầu Ceto cứ ngất ngư hết ngả ra phía sau lại gục xuống, tiếng cười vang vọng cả căn phòng từ từ nhỏ dần, chuyển thành tiếng khùng khục trong cổ họng. Cười đến chảy cả nước mắt, Ceto chòng chọc nhìn Megalodon rồi nheo mắt lại như đang nhìn gì đó phía sau lưng người đối diện rồi lại cười phá lên khoái trá.

“Ý tao là, mày định làm gì để bảo vệ nó khỏi chính bản thân mày cơ.”

Đúng lúc này, đèn tín hiệu trên thiết bị đang trói nghiến Ceto chuyển sang màu xanh. Giật tung thứ máy móc giờ đã trở nên vô dụng kia ném xuống sàn, Ceto nhảy bổ về phía Megalodon mà quật ngã đối phương đang không kịp trở tay xuống đất.

Trên loa, một giọng nói sang sảng vang vọng khắp phi thuyền Farout.

“Nhiệm vụ bảo vệ món hàng và truy bắt nội gián kết thúc. Hết.”

Ngồi trong phòng Ethereal, Coprion câm nín.

Giọng nói vừa rồi là của Ghost.

.

Một quả táo nhưng lại có tới năm người. Không có dao, nên chia thế nào? Có người sẽ đem giấu đi, lén ăn một mình. Người khác thì nói nhỏ cho thân cận của mình được biết rồi cả hai ăn chung với nhau, mặc kệ ba người còn lại. Nhưng có người thì nhìn xa trông rộng hơn một chút, đem quả táo ấy tặng cho một bác chủ sạp hoa quả, nói rằng đây là quả ngon nhất trong vườn nhà mình, biết là không bằng táo của bác, nhưng chắc chắn không phải hạng xoàng xĩnh, cắn một miếng xong chỉ muốn nhổ đi. Hàng táo tất nhiên là vui vẻ ăn thử, sau đó kể cả thấy ngon hay không ngon cũng đều nói rằng táo của mình chất lượng cao hơn. Lúc này, chỉ cần khôn ngoan mà nói một câu rằng, vậy thì nhờ bác gói một vài trái táo trong gian hàng của mình, loại mà bác đã cam đoan là trăm phần trăm ngon ngọt hơn để mình lấy về ăn thử, chia cho mọi người cùng ăn nữa, thấy hương vị không tồi thì quay lại mua nhiều hơn. Có cơ hội quảng cáo hàng của mình, chẳng ai lại bỏ qua cả. Thế là không những năm người mỗi người một quả táo, không phải tranh giành ai, lại còn khiến cho một người khác thấy vui vẻ.

Đây chính là nghệ thuật hành động một mũi tên trúng hai đích, vừa không làm mếch lòng ai, ngược lại còn tạo được ấn tượng tốt cho người cộng tác cùng mình, vừa đạt được mục đích đề ra ban đầu. Ghost đã sử dụng một cách cực kì hiệu quả chiến thuật này, để vừa bảo vệ được “món hàng” của mình theo yêu cầu của chính phủ – tức Tiến sĩ Ethereal, vừa thuận tiện bắt gọn tên nội gián bấy lâu nay khiến mình nhức nhối, ăn không ngon, ngủ không yên – Megalodon.

Để thực hiện kế hoạch này, Ghost cần tới sự hỗ trợ của rất nhiều người, cũng cần thời gian để giăng bẫy rất lâu. Những người tham gia kế hoạch đều chỉ biết một phần của nó, tức là họ chỉ cần làm xong nhiệm vụ của mình, không cần quan tâm tới nhiệm vụ của những người khác. Họ cũng không biết có tất cả bao nhiêu người cùng tham gia, đây là nguyên tắc đầu tiên khi tham gia vào Project GHOST.

Đầu tiên, Ghost triệu tập Zygophyseter Varolai của Earth 95 và Cetotherium của Earth 90 tới gặp mình, giao cho hai người này một trọng trách mà sự thành bại của họ mang tính quyết định toàn bộ chiến dịch, đó là lừa những người khác để tất cả nghĩ rằng bọn họ là do Livyatan cài vào. Nói thế này cho dễ hình dung, cả hai người vẫn là những công dân của Apokalypsis. Tuy nhiên, họ phải thực hiện các hành động lộ liễu vừa đủ nhưng cũng phải kín đáo vừa đủ để trong mắt Apokalypsis, họ là gián điệp do Livyatan cử tới.

Đối với Varolai, do bản thân vốn là một điệp vụ tình báo, anh dùng hai lớp vỏ bọc, một là gián điệp của Apokalypsis, một là gián điệp của Livyatan. Đối với Cetotherium, vì là một SHARK, cậu thiết kế một phần mềm, sau đó tìm cách gửi dữ liệu đi từ điểm truy cập mạng của mình. Người ngoài nếu phát hiện ra sẽ nghĩ rằng Ceto đang gửi các dữ liệu mình tình được cho kẻ thù, nhưng thực chất toàn bộ thông tin đều được chuyển về máy tính của Ghost tại văn phòng.

Hồ sơ mà Ghost đã xoá đi sau khi danh tính “nội gián” của họ lộ ra là hồ sơ giả. Theo Giao thức APICITY, hồ sơ giả này sẽ đều bị xoá sau khi một người hoàn thành phần nhiệm vụ của mình. Trong số các hồ sơ được tìm kiếm, chỉ có hồ sơ của Ethereal và Aulophyseter là thật, còn lại đều là giả.

Mỗi người đều có một nhiệm vụ riêng và đều được Ghost tính toán hết sức kĩ càng, do đó mặc dù hoàn toàn không biết gì về nhiệm vụ của người khác, họ cũng vô tình phối hợp với nhau để hoàn thành kế hoạch. Kế hoạch do Ghost đưa ra được chia thành ba phần, tạo thành một bộ “Kế trong kế, mưu trong mưu” cực kì lớp lang.

Phần thứ nhất: Nhiệm vụ của Varolai là cứu Shigenis khỏi Nhà tù số 17 của Livyatan. Ghost nói cho Ethereal – chủ nhân của con mèo mà Ghost từng đưa ra lệnh trừng phạt bằng cách mượn tay Đội Phản ứng tình huống khẩn cấp – biết địa điểm của Shigenis, giao nhiệm vụ cho Ethereal đưa Shigenis ra khỏi nhà tù. Đến đây, mọi thứ diễn ra thuận theo tự nhiên. Ghost biết chắc chắn Shigenis sẽ không để yên cho Ethereal đưa mình đi, cũng hiểu rõ Ethereal sẽ nhân cơ hội này để đánh Shigenis một trận cho hả dạ nhằm trả thù cho con mèo của mình. Họ đánh nhau ra sao không quan trọng, quan trọng là tàu không gian của Ceto tới đúng lúc.

Nhiệm vụ của Ceto là đưa phải đảm bảo khi Ethereal, Shigenis và Varolai lên tàu của mình thì Megalodon đã có mặt trên tàu, sau đó dụ cho quân của Livyatan bám theo sát mình rồi lái tới gần phi thuyền Farout. Nhiệm vụ của Rham và Deino là tới gần Earth 95, để Helicoprion và Aulophyseter lên Farout, sau đó đưa toàn bộ người đi cùng Ceto lên phi thuyền của mình. Phần thứ nhất hoàn thành với việc tất cả những người tham gia kế hoạch đều tập trung tại cùng một địa điểm.

Phần thứ hai: Diễn một màn kịch vây bắt nội gián. Màn kịch này hoàn toàn do các thành viên đã phát hiện ra sự tồn tại của nhau trên phi thuyền tuỳ cơ ứng biến. Điều kiện duy nhất mà họ phải tuân theo, đó là chắc chắn Megalodon cũng tham gia kế hoạch của mình mà không nghi ngờ gì. Sử dụng thiết bị nghe lén mang theo bên mình, Varolai và Aul thực hiện nhiệm vụ bắt “nội gián” Rham, Deino và Ceto. Shigenis, Coprion và Ethereal hoàn toàn không được thông tin về phần thứ hai này, do đó họ thật sự nghĩ rằng Rham, Deino và Ceto thật sự là nội gián. Đây cũng chính là lí do Ethereal và Shigenis đều nổ súng bắn Deino còn Coprion thì tìm kiếm thông tin về Ceto bằng phần mềm chuyên biệt. Về phần Megalodon, tất nhiên hắn không biết về điều này.

Ở cuối phần thứ hai, Varolai bắn Rham – tất nhiên lúc này đã mặc áo chống đạn – dàn cảnh mình và người kia đã vật lộn, mình nổ súng để tự vệ chính đáng. Aul bảo Shigenis đi theo mình, để cho Shigenis xác nhận Varolai là “nội gián”, sau đó bắn Varolai trước mặt Shigenis. Ở bước này, không thể thông tin cho Shigenis biết được, do họ muốn cho Megalodon đang theo dõi tất cả mọi người bằng máy ghi hình trong khoang lái nhìn thấy cảm xúc thật sự của Shigenis khi nghĩ rằng chồng mình đã phản bội Apokalypsis. Phần thứ hai hoàn thành, Megalodon tin Rham đã bị bắn chết, Deino, Ceto và Varolai là điệp vụ nằm vùng của Livyatan.

Phần thứ ba: Hạ màn. Phần này, mọi thứ đều theo sắp xếp của Aulophyseter. Đây cũng chính là nhiệm vụ mà anh đã nhắc tới với Rham khi mới lên phi thuyền Farout, nhiệm vụ mà anh phải giấu Coprion cho bằng được. Để thực hiện trót lọt kế hoạch của mình, Aul yêu cầu Shigenis trông nom Varolai đang bị thương, Coprion kiểm tra các vết thương cho Ethereal, nói với mọi người rằng mình sẽ phụ trách Deino, sau đó bảo Megalodon tiến hành hỏi cung Ceto. Đưa Deino tới phòng Ethereal để cậu được bảo vệ, phòng hờ trường hợp Megalodon đánh bại Ceto và chạy thoát khỏi phòng hoặc cướp được súng chạy ra ngoài thì Deino ở ngay phòng bên cạnh sẽ gặp nguy hiểm. Khi thấy đã tới lúc hành động, Ceto sẽ nhìn vào máy ghi hình siêu nhỏ gắn ở trên bức tường sau lưng Megalodon. Aul mở mã thiết bị trói Ceto để cậu ta khống chế Megalodon, rồi mở cửa lật để tàu không gian của Ghost hạ cánh trong phi thuyền. Nhiệm vụ kết thúc.

Tất cả các thành viên tham gia Dự án GHOST đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình. Theo Giao thức APRICITY, hồ sơ giả của họ bị xoá khỏi hệ thống. Farout quay trở về Earth 60 theo đúng lộ trình được đặt ra trước đó để nạp nhiên liệu, sau đó tới Earth 90 để giao nộp Megalodon. Theo đúng luật, nội gián ở phi thuyền nào, phi thuyền đó xử lí. Nhiệm vụ hỗ trợ của Ghost kết thúc.

Về “món hàng” là Tiến sĩ Ethereal, thì Ghost có nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho Eth trong quá trình đưa cậu tới Earth 95 để làm công tác dịch thuật, chỉnh lí sách giáo khoa được lưu hành trên mạng nội bộ. Lí do phải mời Ethereal từ một phi thuyền xa xôi tới đây, chính là vì không còn ai xuất sắc hơn cậu trong mảng này nữa. Chính phủ đã cất công tới vậy, nếu người không an toàn tới Earth 95, Ghost chắc chắn không được yên thân.

Chỗ này cần phải làm rõ, đó chính là mục đích của Megalodon khi lái tàu rời Earth 90 hoàn toàn không phải chỉ là để xử lí Cetotherium theo mệnh lệnh, mà còn là để sau khi giết Ceto, sẽ tự mình tới Earth 54 để bắt cóc Ethereal, đem về cho Livyatan. Cả hai bên đều muốn tranh giành nguồn nhân lực để củng cố sức mạnh của mình, đây là điều vô cùng dễ hiểu. Đây cũng là lí do mà Megalodon luôn muốn tiếp cận Ethereal, không cần biết có phải là do có cảm tình hay không, nhưng trước hết là để hoàn thành nhiệm vụ.

Ghost dự đoán trước được đường đi nước bước của phía Livyatan, lập nên một kế hoạch công phu, từ đầu chí cuối luôn đi trước phía bên kia một bước, thậm chí còn dẫn dụ được Megalodon phối hợp cùng mình thực hiện một phần kế hoạch, quả thực cao tay.

.

“Tôi vẫn không hiểu vì sao anh lại sẵn lòng nã súng vào Varolai như thế.” Mặt Shigenis hằm hằm, hai mắt quắc lên nhìn về phía Aulophyseter.

“Và tôi không hiểu tại sao mọi người lại có thể giấu giếm tôi từ đầu chí cuối như thế? Mục đích của tôi khi lên đây là gì?” Coprion khoanh tay trước ngực, hất hàm tỏ vẻ bất mãn.

“Thôi nào thôi nào, không phải chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ rồi hay sao?” Thấy tình hình có vẻ căng thẳng, Ghost liền tìm cách xoa dịu.

“Cả em nữa, Ghost. Em cho rằng anh vô dụng tới mức không thể tự bảo vệ mình nên mới không chịu nói với anh lấy một câu?” Quay phắt sang Ghost, cơn giận âm ỉ trong lòng Coprion thoáng chốc bùng lên.

“Ơ kìa, nếu không có anh thì cả đám bọn họ ra sao đây?” Ghost tròn mắt nhìn đối phương rồi trỏ tay về phía Deino tàn tạ nằm một góc. “Nhìn xem, có anh ở đây trông đã không khác lắm cái giẻ lau rồi, thiếu anh thì chắc chắn anh ấy đã mất mạng, bây giờ có khi đã đi theo ông bà rồi.”

“Và vẫn không một ai chịu trả lời câu hỏi của tôi?” Shigenis nói gần như hét lên.

“Thôi đi, Shigenis…” Day day thái dương vì nhức đầu, Varolai lên tiếng.

“Tôi chỉ làm nhiệm vụ của mình thôi.” Cuối cùng, Aul đành phải mở miệng.

“Nhưng đâu có nghĩa là anh phải bắn Varolai như thế?” Người kia nổi đoá.

“Đau đầu quá…” Không một ai để ý tới tiếng Deino rên hừ hừ trên giường.

Mặc kệ đám người kia chí choé với nhau, Ethereal lẻn ra khỏi phòng. Tiến thẳng về phía phòng giam Megalodon, nheo nheo mắt định vị người kia trong bóng tối, Eth tiến tới gần rồi gắn thiết bị vô hiệu hoá dây trói. Chỉ trong tích tắc, Megalodon đã được giải thoát. Ra hiệu cho người kia giữ im lặng đi theo mình, Ethereal rời khỏi phòng, tiến về phòng Coprion và Ceto. Đây là phòng duy nhất có đặt máy tính. Theo sát sau lưng Ethereal, Megalodon bước đi trong sự nghi hoặc. Mình định bắt cóc người này mà không thành, vậy mà giờ đây cậu ta lại cởi trói cho mình? Tuy thấy bất an trong lòng, nhưng nghĩ tới chuyện đám người ngoài kia có thể ập vào bất cứ lúc nào, Megalodon quyết định đi theo Ethereal.

Ném cho Megalodon cái áo khoác treo lên móc cho anh khoác tạm, Eth gật đầu ra hiệu anh cứ mặc vào rồi khởi động máy tính lên và chuyển màn hình sang chế độ lập trình, vừa thao tác vừa liên tục nhìn đồng hồ đếm ngược hiển thị ở góc phải màn hình. Megalodon chết lặng nhìn người kia.

Cử động linh hoạt như thế này không thể là của một người mắc hội chứng khủng hoảng hoạt động phản chiếu được.

Ngay sau khi Eth nhấn nút kết thúc thuật toán, màn hình vụt sáng.

“Livyatan.” Giọng Ethereal lạnh tanh, không cảm xúc. Dí sát mắt vào màn hình, cậu chớp mắt một cái. Megalodon biết động tác này có nghĩa là gì, chỉ là anh không thể tin nổi những gì đang diễn ra trước mắt mình. Ethereal đang sử dụng sinh trắc của Livyatan để truy cập vào mạng nội bộ. Hướng mắt lên màn hình, hàng loạt những cái tên, những khuôn mặt lướt qua trước mắt anh. Cả người Megalodon lạnh toát. Thọc hai tay vào túi áo khoác, các ngón tay anh chạm vào một vật gì đó bằng kim loại. Đúng hơn, là một con dao gấp. Đây là thói quen của Helicoprion. Cậu ta luôn để dao gấp trong túi áo khoác.

Aulophyseter – Taeil, Moon.

Megalodon – Youngho, Suh.

Brygmophyseter Shigenis – Taeyong, Lee.

Zygophyseter Varolai – Yuta, Nakamoto.

Ethereal Snailfish – Doyoung, Kim.

Rhamphosuchus – Jaehyun, Jung.

Deinosuchus – Sicheng, Dong.

Cetotherium – Jungwoo, Kim.

Helicoprion – Minhyung, Lee.

Ghost Shark – Donghyuck, Lee.

“Chà, ta ghét cái tên này.” Xoa xoa hai tay vào nhau, Ethereal bắt đầu nhập lệnh xoá. Gần như ngay lập tức, toàn bộ dữ liệu đều bị xoá sạch không còn một chút dấu vết. Xong việc, người kia mỉm cười liếc nhìn Megalodon rồi tiếp tục nhập thêm một dòng mệnh lệnh nữa.

Megalodon đã hiểu ra mọi chuyện. Anh hiểu mệnh lệnh đó là gì. Đó là mệnh lệnh tấn công toàn lực vào tất cả các phí thuyền Apokalypsis dành cho Quân đội Livyatan. Giật lùi về phía sau, trong phút chốc anh cảm thấy ghê sợ người đang đứng trước màn hình máy tính. Ánh sáng xanh hắt ra từ màn hình rọi lên từng đường nét trên khuôn mặt người kia, khiến cho sự lạnh lẽo tang tóc làm người ta phải dựng tóc gáy. Người này, không bị bệnh gì cả, cũng không phải là Tiến sĩ Ethereal của Earth 54, người này là…

“Megalodon, con trai của Đế chế Livyatan,” Tiến về phía anh, người kia áp sát Megalodon vào tường, săm soi khuôn mặt anh. Nhìn từ phía này, khuôn mặt thơ ngây kia không khác gì một chiếc mặt nạ da người của con quỷ đến từ địa ngục. Thì ra từ trước tới nay, Đế vương của Livyatan chưa từng một lần rời Apokalypsis. Đó là lí do không một ai từng nhìn thấy Livyatan. Đó là lí do mà Livyatan có thể là bất-cứ-ai. Đó là lí do giải thích tất cả mọi chuyện.“Ta là Livyatan, con có còn muốn lên giường với ta không?”

“Chúng giết con mèo của ngài.” Megalodon cay đắng bật cười.

“Phải, chúng giết con mèo của ta.” Livyatan vòng tay ôm lấy Megalodon, dụi đầu vào ngực anh. “Chúng đã giết con mèo của ta.”

“Nó có tên không, thưa ngài?”

“Sao?” Ngỡ ngàng trước câu hỏi kia, Livyatan ngẩng đầu lên nhíu mày nhìn anh.

“Con mèo của ngài, tên nó là gì?”

“Ta chưa từng đặt tên cho nó…” Livyatan ngây ra như người mất hồn. “Kể cả khi nó đã chết, ta vẫn chưa từng đặt tên cho nó…”

“Ngài hãy thử nghĩ tới một cái tên xem sao?”

“J…Johnny?”

“Vậy thì… Doyoung, từ nay Megalodon này sẽ là Johnny của ngài.”

“Johnny ơi, Johnny à…” Đưa một tay lên vuốt má Megalodon, người kia nói bằng giọng mơ màng. “Chỉ có người chết mới được gọi bằng tên thật thôi. Và đừng gọi ta là Doyoung. Ta ghét cái tên ấy.”

Tên mà bố mẹ đặt cho ta. Ta ghét cái tên ấy. Ta căm hận cái tên ấy.

Livyatan mỉm cười, rồi nụ cười dần biến thành một cái nhếch mép chế nhạo. Nhanh tay túm lấy bàn tay vã mồ hôi vì nắm chặt chuôi dao của Megalodon, Liyatan xoay mũi dao đang nhắm vào bụng mình về phía Megalodon rồi dùng cả người mình đẩy một cái thật mạnh. Lưỡi dao cắm sâu tới tận xương. Megalodon trân trối nhìn người vừa đâm mình một nhát, nỗi đau đớn cùng tiếc nuối ngập tràn trong đôi mắt của một kẻ biết rằng mình sắp chết. Đôi mắt của một kẻ biết rằng mọi thứ đã quá muộn.

Livyatan không hề muốn xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, và Megalodon phục dịch Livyatan vì lí tưởng cao đẹp ấy. Nhưng Livyatan chỉ muốn giết hết tất cả những kẻ chống đối mình và thoả thích thể hiện quyền lực trên những phi thuyền mà mình đã cướp được từ Apokalypsis. Nhưng Livyatan, nhìn từ xa là một ngôi sao sáng lấp lánh, còn khi nhìn gần, chỉ là một thứ rác vũ trụ côi cút, đơn độc và thảm hại mà thôi. Megalodon thở hắt một tiếng, cả cuộc đời như một thước phim tua chậm hiện lên trước mắt. Từ khi bắt đầu gia nhập binh đoàn của Livyatan, rồi nằm vùng ở Earth 90, phát hiện ra chứng cứ giả mà Ceto để lại rồi đâm đầu vào những cái bẫy được sắp đặt một cách khôn khéo và tài tình, rồi gặp Ethereal. Phải rồi, Ethereal…

Giây phút anh bối rối khi Shigenis nhắc tới Ethereal, không phải là diễn. Nhiệm vụ mà anh được giao phó là bắt cóc Ethereal chứ không phải ám sát. Anh đã nghĩ tới chuyện thuyết phục Ethereal tự đi theo mình. Anh đã nghĩ tới chuyện tìm mọi cách để Ethereal ở lại. Anh đã nghĩ… Chà… Anh đã nghĩ tới chuyện, khiến Ethereal yêu mình. Anh không hề biết rằng, Ethereal chính là Livyatan và đây là nhiệm vụ đưa Đế vương về với ngai vàng của mình. Anh cũng không hề hay biết, Livyatan vốn dĩ không hề muốn làm gì cho thế giới mà anh đang sống để biến nó trở thành một nơi đáng sống hơn.

Một Livyatan như thế, Megalodon không phục. Một Megalodon không phục, thì Livyatan giết. Giết. Giết. Giết. Giết. Giết. Giết hết tất cả những kẻ chống đối ta. Giết hết tất cả những kẻ bỏ rơi ta. Bố. Mẹ. Anh Trai. Giết hết. Giết hết tất cả đã bóp nghẹt trái tim ta, giết chết tâm hồn ta. Giết. Giết hết.

Ngồi xuống bên cạnh xác Megalodon, Livyatan đặt lên đôi môi vẫn còn ấm kia một nụ hôn như một phần thưởng cho sự trung thành, rồi rút con dao đang cắm ở bụng kia mà găm thẳng lên ngực trái của cái xác như sự trừng phạt cho tội phản nghịch. Không lâu nữa, đội quân của y sẽ cho nổ tung toàn bộ chỗ này. Nghĩ tới đây, Livyatan nhấc xác Megalodon dậy, choàng một tay người kia qua vai mình, kéo lê thân thể mềm oặt đã không còn sức sống đi về phía bãi đỗ của phi thuyền, nơi tàu của Ghost đang đậu. Y phải nhanh chóng rời khỏi đây, nhưng y không muốn bỏ lại Megalodon.

Bên tai y, văng vẳng giọng nói của Megalodon.

“Vậy thì cứ coi như tôi muốn cho Ethereal biết, không phải ai đối tốt với cậu cũng đều là vì muốn trục lợi từ cậu ấy.”

Megalodon khi ấy đang nói tới Ethereal. Trong mắt cậu ta, chỉ có Ethereal thôi. Trong lòng cậu ta, cũng chỉ duy nhất một mình Ethereal tồn tại. Vì cớ gì, mà Megalodon lại đối xử với Ethereal như thể cậu còn là nhân loại cuối cùng ngoài vũ trụ như thế? Vì cớ gì, mà Megalodon…

Hay là Johnny nhỉ?

“Thật buồn nôn… Buồn nôn thật đấy, khi chúng ta giết chết kẻ giết người chỉ để chứng minh giết người là sai trái.”

Ừ, Kim Doyoung à, buồn nôn thật đấy. Mày không xứng đáng. Mày không xứng đáng với Johnny, một chút cũng không xứng.

Đặt Johnny ngồi vào trong tàu, Doyoung gục đầu lên vai người kia, thở dốc vì thấm mệt. Vẫn còn năm phút nữa, nhưng phải mau chóng rời khỏi đây.

Ở một góc phi thuyền, tiếng nạt nộ nhau xen vẫn tiếng cười nói vẫn vang vọng.

 

 

Posted in my johnny, night night (II)

[Oneshot | #JohnDo] 虚荣心 (chuyện phù hoa)

vlcsnap-2018-04-17-22h20m18s429

Author: Trịnh Ánh

Pairing: Từ Anh Hạo x Kim Đông Anh (JohnDo / NCT Johnny x Doyoung)

Rating: K+

Summary: ‘rượu.’

虚荣心 (chuyện phù hoa)

Thức ăn không thể dùng bừa, sẽ đau bụng. Lời đầu môi cũng không thể muốn nói gì thì nói, sẽ đau lòng. Nước mắt không thể tuỳ ý mà rơi, người ngoài sẽ khinh thường, mượn cớ đó mà chà đạp. Nụ cười cũng không thể cứ như vậy mà dành cho người khác, gieo rắc vấn vương, tơ tưởng, thật chẳng khác nào lấy dao mà găm một nhát vào tim, nếu không phải tâm can người, thì cũng là tâm phế mình. Cả hai đều sống không yên mà chết cũng không nổi, thực tình chẳng ra làm sao. Vì một người chẳng đoái hoài gì tới mình mà ủ rũ, phiền muộn, vốn đã không ưa nhìn, nay lại càng thêm khó coi.

Cho nên, mỗi khi ngồi cùng Từ Anh Hạo, người kia chẳng ăn uống gì mấy, có nhiều bận còn không buồn động đũa, mà nào có phải là vì ngán ngẩm sơn hào hải vị đâu, đổi sang những món thôn dã dân quê cũng cáo lỗi rằng mình ăn không vừa miệng hoặc đang thấy khó ở mà bỏ qua. Người kia mỗi tối đều ngồi đó, ban đầu không chịu nói năng gì, chỉ ậm ừ mấy tiếng hoặc được hỏi thì trả lời cho có lệ, về sau cũng đãi bôi được mấy câu, đại ý khen ngợi Từ Anh Hạo, thế nhưng vẫn khiến người ta nuốt miếng nước chẳng thể trôi. Nói ít như vậy, rồi tới cả nụ cười cũng tiết kiệm, cực chẳng đã người ta mới than phiền một vài câu, hay khích lệ động viên để nói nhiều hơn một chút, vậy mà người kia lại cúi đầu xin lỗi.

Rất nhiều người thấy thế liền chán nản, về sau người gọi đích danh người kia cũng thưa thớt dần rồi không còn nữa. Chỉ khi nào trong tiệm không còn ai, mới có người hỏi xem Kim Đông Anh liệu đã có khách nào hay chưa, nếu chưa có thì đành phải chọn, đã vậy còn rất cay nghiệt, chờ người ta tới trước mặt mới thả hai chữ “dùng tạm” nghe mà đớn lòng, còn nếu có rồi thì cũng ngoa ngoắt không kém, đứng đó mượn cớ tán gẫu với bà chủ mà ngọt nhạt rằng, cậu ta chiều khách thêm một chút thì tiệm bà đã làm ăn khấm khá hơn nhiều rồi. Tức mình, nhưng bà chủ vẫn cứ phải ngậm bồ hòn làm ngọt, nói đỡ cho Đông Anh mấy câu rồi đuổi khéo khách đi.

Nói rằng bà giữ Đông Anh ở lại là vì lòng thương thì cũng không hẳn. Thương thì có đấy, nhưng tiệm của bà là chỗ kinh doanh, không phải là quỹ tình thương. Nếu như không có lời có lãi gì, bà chẳng dại mà giữ lại một đứa làm mất khách của mình như thế. Lí do bà không đuổi Đông Anh đi, cũng không gượng ép cậu một chuyện gì, là vì Đông Anh vẫn có khách. Có một người, trước đây thì một tuần tới một lần nhưng gần đây đêm nào cũng tới, lại tới vào lúc rất khuya. Hôm nào cũng vậy, lần nào cũng thế, người đó chỉ muốn gặp Đông Anh.

Người đàn ông kì lạ đó, chính là Từ Anh Hạo. Lấy làm lạ, bà chủ cho là Đông Anh đã nghĩ thoáng hơn một chút, bèn gặng hỏi xem sao thì cậu nói rằng mình vẫn tiếp khách như vậy chứ chẳng làm gì khác cả. Nghĩ là do cậu không muốn nói cho mình nghe vì sợ bị bà ép đi nhiều khách hơn, bà chủ một hôm nọ quay sang đon đả hỏi vị khách tên Hạo thì chưng hửng vì nhận được câu trả lời không mấy khác biệt lời mà Đông Anh nói với bà.

Hai người bọn họ, cả đêm chẳng làm gì cả. Thật sự, không làm gì cả.

Nhưng nghĩ đi thì cũng phải nghĩ lại, nói là cả đêm không hề làm gì thì cũng không được đúng cho lắm. Họ vẫn ngồi với nhau, vẫn chuyện trò vài câu, Đông Anh vẫn giúp Từ Anh Hạo tắm rửa rồi lên giường. Nói rằng Từ Anh Hạo không hề chạm vào Đông Anh cũng là sai, vì người của bà ngon ngọt như thế, nếu có thằng đàn ông nào dám bảo rằng gã không dám chạm vào một cọng tóc của Đông Anh thì chỉ có thể là do bản tính tên đó nhát như cáy mà thôi. Theo lời Đông Anh kể lại, người đó chỉ ôm Đông Anh rồi đi ngủ, sáng hôm sau thì rời đi từ rất sớm, khi cậu ta tỉnh giấc thì người đã không còn nằm bên cạnh nữa rồi.

Người đàn ông đó, suốt mùa đông năm ấy, mỗi đêm đều tới đây. Anh ta mặc một chiếc áo măng tô dài tới ngang bắp chân, lúc nào cũng dựng cổ áo lên thật cao, cổ đeo khăn dạ, quấn lên che kín nửa dưới khuôn mặt lại thêm thói quen so hai vai lên khiến nhiều người nghĩ đầu anh ta chắc phải dính liền vào với thân, đầu đội mũ phớt nhưng luôn kéo sụp xuống. Anh ta đeo găng tay da, bốt cao cổ, miệng không ngậm tẩu thuốc, không có cái vẻ nhà giàu mới nổi của những tay thương lái vừa phất lên đã đốt tiền vào chốn chơi bời, cả đêm vui thú ở phố đèn đỏ. Ngược lại, mỗi bước đi của anh ta đều khiến người nhìn vào có cảm giác người đàn ông cao lớn này đang muốn thu mình lại bằng cách bước đi thật vội vã trên phố, nép sát vào các bờ tường và tay vịn cầu thang. Từ Anh Hạo luôn trốn chạy một thế lực nào đó, hoặc cũng có thể là vội vã tìm cách cắt đuôi chính cái bóng của mình, và dường như đấy là lí do khiến anh ta tìm tới Đông Anh.

Ở đây, bên cạnh Kim Đông Anh, Từ Anh Hạo cảm thấy an toàn.

“Em đã từng tới Quý Châu chưa?”

Từ Anh Hạo ngắm nhìn thứ chất lỏng sóng sánh bên trong chén rồi nhấp một ngụm, trong giọng nói còn lẩn khuất ý cười.

“Em chưa.”

Rót thêm rượu vào chén cho đối phương, Đông Anh nhẹ nhàng tiếp chuyện.

“Vậy còn Tứ Xuyên, em đã từng tới Tứ Xuyên lần nào chưa?”

“Chưa, thưa ông.” Đón lấy chén rượu mà Từ Anh Hạo đưa cho mình, Đông Anh uống cạn một hơi rồi trả lời.

“Thế Sơn Tây thì sao?” Người kia xem ra vẫn chưa chịu bỏ cuộc.

“Ông có vẻ đi rất nhiều, thưa ông. Nhưng em thì chưa từng rời khỏi đây cho nên chưa từng tới những chỗ đó bao giờ.” Đông Anh vẫn vừa nói vừa cười, trong giọng nói không có lấy một nửa điểm cáu kỉnh, thế nhưng lại vừa vặn dùng hai câu mà chặn người kia lại, không cho đối phương hỏi mình thêm câu nào nữa.

Thật vậy, Đông Anh chưa từng rời khỏi thành phố này một lần nào. Sinh ra ở đây, lớn lên ở đây, có lẽ tới tận lúc chết cũng sẽ nằm xuống nơi đất này. Nghĩ lại, trong lòng không khỏi nhói lên một chút. Ngẫm lại, chuyện cả đời gắn bó với một thành đô là điều chẳng lạ lẫm gì. Có những người, thậm chí còn chưa từng đi đâu quá con phố nhà mình nữa kia. Chỉ có điều, ở lại với một nơi chốn nào đó, đáng nhẽ ra nên là vì lưu luyến không muốn rời, vì quấn quít chẳng nỡ bỏ xứ mà đi mới phải. Đằng này, lại là muốn đi mà không thể đi. Dằn lòng không được nghĩ ngợi thêm nữa, Đông Anh lại mỉm cười rót thêm rượu vào chiếc chén đã sớm cạn của Từ Anh Hạo. Vị khách hôm nay có vẻ mệt mỏi, nên cậu định chỉ nốt chén này rồi thôi.

Không rõ vì sao, hôm nay Đông Anh lại muốn dông dài một chút. Trước nay, cậu vốn không có hứng thú tâm tình gì với ai vì thú thực nhìn quanh chẳng một ai hiểu mình. Người ta tới đây, đều là vì sắc dục mà tìm tới. Đôi mắt đã phủ sương, tia nhìn đã nhuốm tà niệm, vậy thì còn có thể cùng nhau mà nói chuyện gì nữa đây? Chi bằng cứ nhanh nhanh chóng chóng làm cho xong chuyện rồi thôi, đỡ phí phạm thời gian. Nhưng người này thì khác. Người này tới đây, đơn thuần chỉ muốn uống rượu rồi trò chuyện đôi ba câu sau đó lên giường ngủ một mạch tới sáng mà thôi. Người ta có ý muốn tâm sự, lại biết cách nói chuyện khiến mình không nhàm tai, nếu như cứ im lặng mãi thì thật không phải phép.

Thế nhưng có nhiều lúc, Đông Anh tự hỏi không biết có phải người này thích bầu không khí tĩnh lặng khi ở một chỗ với mình hay không. Nếu thật là như vậy, thế thì mình nói nhiều, người ta sẽ không thích mình nữa. Đắn đo một hồi, cuối cùng lại quyết định giữ mọi âu lo trong lòng, không chịu nói ra. Cứ như thế này có khi lại tốt. Người ta không yêu mình như mình mong ước, nhưng cũng sẽ chẳng thể ghét bỏ mình hơn được.

Yêu. Một chữ này, sao lại có thể xa xỉ đến thế?

Đông Anh, tự biết thân biết phận một chút, đừng để đến lúc người ta khinh thường, chỉ thẳng mặt mà gọi mình là loại mạt hạng đĩ điếm. Kể cả khi trong mắt người ta, ngay lúc này đây mình đã không giá trị bằng vò rượu kia, thì cũng vẫn nên giữ tự trọng. Yêu đương gì kia chứ, ngay từ đầu khi mới vào đây đã xác định rất rõ ràng, mình từ đầu đến chân không còn cùng một đẳng cấp với người ta nữa. Là một thứ mua vui cho thiên hạ, thì không xứng đáng có được chữ “tình” trong thiên hạ. Người ta chơi bời đến chán thì thôi, ném mình qua một bên lúc nào mà chẳng được, mình cũng chỉ cần tiền của người ta, thế thì hà tất phải tự làm khó nhau, ràng buộc nhau bằng một tiếng “yêu” như thế? Bắt người ta phải có tình có nghĩa với mình, vậy là trèo cao rồi, tất ngã sẽ đau, mà đau như vậy nếu đã biết mình chịu không thấu, ngay từ đầu chẳng nên ôm mộng làm gì. Ngoài kia hoa thơm cỏ ngọt, còn biết bao sự lựa chọn khác, không lí gì người ta lại nhìn tới một cánh hoa rơi bên vệ đường, bị người khác giẫm lên. Tự nhắc nhở bản thân như vậy, tự dưng sẽ không dám nghĩ tới chuyện yêu đương gì nữa cả.

Bởi vì không yêu, cho nên không ngại ngần chuyện người ta có ghét mình hay không. Nhưng Đông Anh lại cứ đứng ngồi không yên mỗi lần hình dung trong đầu những lời mà Từ Anh Hạo sẽ nói về mình với người khác. Thật ra, đã tới chốn này rồi, không mấy ai lại đem đi khoe khắp nơi mình đã gặp người này, hay mình thấy người kia ra sao cả. Giấu còn không xong, lại còn tính kể cho ai nghe để rồi lạy ông tôi ở bụi này? Thế mà Đông Anh lại cứ ngẩn ngơ mà nghĩ, liệu Từ Anh Hạo sẽ nghĩ gì về mình. Cậu không dám hỏi, vì sợ rằng mình sẽ phải nghe những lời không muốn nghe, nhưng chính vì cứ phải trăn trở mãi không thôi như vậy, Đông Anh thấy lòng mình như nặng trĩu ưu tư.

Vẻ thất thần của cậu lọt vào mắt Từ Anh Hạo. Gỡ từng ngón tay đang siết chặt thành nắm đấm của Đông Anh, Từ Anh Hạo ủ ấm những ngón tay thon gầy ấy trong hai bàn tay mình rồi khẽ hôn lên đó. Thấy vậy, Đông Anh giật mình toan rụt tay lại nhưng bị người kia giữ lấy. Nuốt khan một cái, cậu đứng dậy tỏ ý muốn kéo ghế lại ngồi gần anh hơn. Từ Anh Hạo nhanh chóng hiểu ra, bèn tự mình chuyển chỗ ngồi tới sát bên Đông Anh. Vòng tay ôm lấy người bên cạnh vào lòng, Từ Anh Hạo nhẹ nhàng tựa cằm lên vai Đông Anh, khẽ ngân nga một khúc tự tình rồi bật cười. Xoa nắn bàn tay cậu một hồi cho ấm lên, Từ Anh Hạo hôn nhẹ lên chiếc cổ trắng ngần, tận hưởng da thịt mềm mại của đối phương. Đây cũng là lần đầu tiên cả hai tiếp xúc gần gũi tới thế này. Đông Anh đột nhiên thấy ngượng ngùng mà run rẩy, hai má cũng ửng hồng. Nương theo người kia, cậu hơi ngả người ra sau một chút. Không thấy Từ Anh Hạo tỏ ý khó chịu, Đông Anh thở phào nhẹ nhõm.

Về phần mình, Từ Anh Hạo đang thư thái để mùi hương trên cơ thể Đông Anh chờn vờn quanh mình. Anh si mê Đông Anh tới mức nhiều lúc thấy mình như bị thứ nước hoa trên người cậu dẫn lối vào một mê cung không có đường ra. Mỗi khi cùng Đông Anh chuyện trò, anh như bị hút vào đôi mắt trong vắt như làn nước lúc nào cũng như đang nhìn thấu người đối diện. Khí chất của một mĩ nhân u hoài ẩn hiện nơi khoé miệng Đông Anh cũng khiến Từ Anh Hạo không thể rời mắt khỏi cậu. Cậu đang suy nghĩ điều gì, đang rầu rĩ vì điều chi? Anh những muốn từng chút đến gần hơn với Đông Anh, để hiểu người hàng đêm nằm trong vòng tay mình rốt cuộc vì điều gì mà có những lúc dù ở ngay trước mắt nhưng lại xa vời vợi như đang bay giữa lưng trời như thế. Còn những lúc kề cận Đông Anh, vuốt ve làn da mềm mại cùng cơ thể săn chắc bên dưới lớp vải mỏng tưởng nhìn xuyên qua được, để hơi thở người kia mơn man, mơn man nơi cổ mình, anh chỉ mơ khoảnh khắc hương thơm trên thân thể cậu hoà quyện vào mùi hương trên người mình. Chỉ khi ấy, Đông Anh mới có thể theo chân anh đi tới bất cứ đâu.

Anh muốn cậu nhìn ngắm thế giới rộng lớn ngoài kia, đi tới những miền đất của tự do và hạnh phúc. Anh muốn nắm tay Đông Anh mà dạo bước trên đường, chỉ cho cậu thấy khoảng trời nhuộm sắc tà dương khiến anh phải tâm đắc tới độ muốn cùng cậu đợi cho tới hoàng hôn bằng được thì thôi. Anh muốn ngồi trước hiên nhà, để Đông Anh tựa lên vai mình, và khi đó anh sẽ kể cho cậu nghe câu chuyện về những vì sao cùng cách mà chúng được đặt tên. Có rất nhiều chuyện anh muốn làm cùng Đông Anh. Sự thông minh, sự dịu dàng và tinh tế của Đông Anh chữa lành tâm hồn Từ Anh Hạo, và anh không biết mình còn cần gì hơn thế nữa. Đưa Đông Anh rời khỏi đây… Ôi chao ôi!… Giá mà anh có thể đưa Đông Anh rời khỏi đây.

“Ở những nơi ấy, có gì vui không ạ?”

Thấy Đông Anh lên tiếng hỏi mình, Từ Anh Hạo có chút thất kinh. Nhưng rồi anh bật cười, nơi đáy mắt ánh lên một tia hoan hỉ.

“Có chứ, nhiều thứ vui lắm. Nhưng vì ta mê rượu, cho nên đi tới đâu cũng chỉ nhớ tới rượu thôi.” Thấy Đông Anh có vẻ nghi hoặc, Từ Anh Hạo vui vẻ nói tiếp. “Tất nhiên không phải lúc nào cũng say, ta chỉ say lúc ở bên em thôi.”

Một câu này, tư vị thật khó mà hình dung. Không biết nên thấy vui hay nên buồn, Đông Anh nửa đùa nửa thật:

“Này ý là say rượu hay là say em đây?”

“Em chứ,” Không ngờ, Từ Anh Hạo dường như chẳng cần tới một giây lưỡng lự, lập tức đưa ra câu trả lời. Một tay với lấy bình rượu trên bàn giơ lên cho Đông Anh cùng xem, anh trào phúng. “Thứ rượu này mà say được mới là lạ.”

“Thực ra, em và rượu, ta đều thương. Nhưng ta thương em thì nhiều hơn một chút.” Từ Anh Hạo miết tay lên ngón đeo nhẫn của Đông Anh, không rõ vì cớ gì bỗng chốc thấy lòng nặng như đeo chì. Nhắm mắt lại, anh thủ thỉ. “Ở Tứ Xuyên, nơi mà ta nhắc tới với em khi nãy, có một loại rượu tên Ngũ Lương Dịch, được chưng cất từ năm loại ngũ cốc là cao lương đỏ, gạo, nếp, lúa mì và ngô. Rượu này là loại hảo hạng đấy, được ủ trong bình đất sét tới mười năm rồi mới lấy ra uống, mà uống là phải nhâm nhi, phải để vị ngọt đậm nhưng thuần khiết ấy đọng lại thật lâu nơi đầu lưỡi mới được. Ba chén tràn hứng khởi, một giọt cũng lưu hương. Người Tứ Xuyên ca tụng loại rượu đặc sản của họ như thế ấy. Lần nào uống một chén Ngũ Lương Dịch, ta cũng đều nhớ tới em.”

“Rượu quý như vậy, sao lại khiến ông nhớ tới em được?” Đông Anh chua chát, khoé miệng nhếch lên thành một nụ cười giả dối đến khó tin. Chỉ tiếc rằng, Từ Anh Hạo không thể nhìn thấy, không biết được cậu đang tự chế nhạo chính mình.

“Vì ta tự hào về em.” Từ Anh Hạo thu lại ý cười, nói bằng giọng nghiêm túc. Xoay người Đông Anh lại để cậu nhìn thẳng vào mắt mình, thấy sự hoang mang trên khuôn mặt người kia, anh thấy mình có phần sấn sổ, khiến người ta sợ hãi, bèn dịu giọng. Giọng nói có phần mềm mỏng hơn, nhưng sự cẩn trọng toát lên trong từ câu chữ thì tuyệt nhiên không suy giảm. “Ta tự hào về em, về dung mạo em, về trí tuệ của em, về sự khéo léo, sự duyên dáng của em, về con người em. Giống như người Tứ Xuyên một lòng ngợi ca Ngũ Lương Dịch, ta cũng muốn nói cho cả thế gian biết rằng, ta luôn coi trọng em, luôn trân trọng Kim Đông Anh.”

“Vậy kia à?” Đông Anh u uất nhìn Từ Anh Hạo. “Em đối với ông, quan trọng tới vậy kia à? Vậy thì, ông có dám đưa em tới Tứ Xuyên cùng ông không?”

Thấy vẻ thẫn thờ trên khuôn mặt Từ Anh Hạo, Đông Anh lặng lẽ cúi đầu, hai vai run lên bần bật. Chuyện đáng ra không nên nói, cuối cùng lại vẫn không nhịn được mà thốt lên thành lời. Đã không cho phép mình viển vông, ấy thế mà lại vẫn nhen nhóm hi vọng vào một thứ không có thật. Giờ thì hay rồi, trong mắt người ta, mình mỗi lúc một đáng khinh. Đưa tay quệt nước mắt vì tủi nhục, Đông Anh hít một hơi thật sâu rồi ngẩng đầu nhìn người vẫn đang ôm ghì lấy mình, cười rạng rỡ nhưng nét u sầu trong đôi mắt đã ầng ậng nước thì không cách nào xua tan.

“Muộn rồi, chúng ta cũng nên đi nghỉ đi thôi.”

Cựa mình định rời khỏi vòng tay Từ Anh Hạo, nào ngờ người kia siết chặt vòng tay, không cho cậu động đậy nữa. Từ phía trên đầu Đông Anh, cậu nghe thấy Từ Anh Hạo gằn lên từng tiếng.

“Ai nói với em, rằng ta không thể đưa em đi?”

Đông Anh chết lặng. Người đàn ông kia cứ thế ôm chặt lấy cậu không chịu buông, miệng cứ lảm nhảm liên tục trong nỗi tuyệt vọng đến tận cùng. Ngồi yên trong lòng Từ Anh Hạo, cậu nhận ra người kia đang run lên từng chập.

“Ta có tiền. Ta có rất nhiều tiền. Ta nhất định sẽ đưa em ra khỏi đây. Phải rồi… Phải rồi… Chúng ta sẽ cùng nhau tới Tứ Xuyên, được không? Ta sẽ cho em nếm thử Ngũ Lương Dịch, sẽ cho em thấy những lời ta nói cùng em, một chữ cũng không dối trá. Chúng ta sẽ sống cùng nhau, được không em? Đông Anh ơi… Ta thương em quá…”

“Em biết rồi, em cũng thương ông.” Đông Anh vội vàng che miệng lại, ngăn một tiếng nấc nghẹn. “Không sao cả đâu, em thương ông mà. Em mệt lắm, ông cũng mệt rồi, chúng ta… Chúng ta đi ngủ, được không?”

Ngũ Lương Dịch có thể chờ anh tới mười năm, nhưng em chờ không được.

Phù hoa. Rốt cuộc, cũng chỉ là chuyện phù hoa.

 

Posted in my johnny, night night (II)

[Oneshot | #JohnDo] how to be a good good man for your husband – expert only

DsVxLP-UUAAq1Wf

Author: Trịnh Ánh

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Rating: PG

Summary: ‘expert only.’

how to be a good good man for your husband – expert only

expert (n.): a person with a high level of knowledge or skill relating to a particular subject or activity.

1.

“Anh ơi, bên kia có gì mà ồn ào thế ạ?”

“À cũng không có gì đâu. Có một đôi vợ chồng đang ở gian bên đó, chị vợ thử mấy chiếc váy nhưng ông chồng cứ bảo là trông không hợp nên họ đang cãi nhau ấy mà.”

“Thế ạ…”

“Ừ. Em chọn được đồ chưa? Có thấy ưng ý không?”

“Chọn thì cũng chọn được rồi ạ, nhưng mà…”

“Sao em?”

“Em nghĩ chắc là thôi anh ạ. Giá hơi chát, đồ của em không cần đắt thế này.”

“Nhưng em có thấy thích không? Mặc có thoải mái không?”

“Thích thì có thích, đồ cũng vừa ạ. Nhưng…”

“Thế thì nhưng nhị gì nữa, mua thôi.”

“Đắt lắm ạ.”

“Cái cà vạt hôm trước em mua cho anh cũng có rẻ đâu? Anh trả, không phải tiếc.”

2.

“Anh không về ăn cơm đâu nên em ăn thì dọn dẹp rồi nghỉ ngơi sớm nhé.”

“Anh đi tới mấy giờ thì về ạ?”

“Ăn tối cùng đối tác xong thì anh xin phép về sớm luôn nên chắc khoảng mười giờ thì về đấy. Anh sẽ uống ít thôi, nhưng mà khoảng tầm giờ đó thì em gọi giúp anh tắc xi tới Nhà hàng X được không? Không cần trả tiền trước đâu. À suýt thì quên, em nhớ bật bình nước nóng cho anh nhé.”

“Vâng em biết rồi ạ. Mà sao anh không đi tăng hai với mọi người cho vui?”

“Để em ở nhà một mình thì vui thế nào được? Tối nay em nấu gì thế?”

“Có thịt kho dừa, đậu phụ sốt cà chua, canh cải nấu thịt băm với một ít giò thủ bà mới gửi dưới quê lên đấy, nhưng anh không về thì thôi em lại cất giò đi vậy. Tiếc quá, tối nay anh lại không ăn cơm ở nhà.”

“Anh xin lỗi, công việc dạo này bận quá.”

“Em biết mà, nên em có trách gì anh đâu. À hay là thế này đi, mỗi món em phần anh một ít rồi để vào tủ lạnh để mai hâm nóng lại rồi ăn sau nhé?”

“Ừ anh thấy như thế được đấy. Thôi em ăn đi nhé. Hơn mười giờ một tí anh về.”

“Đi cẩn thận nhé. Yêu anh.”

“Nhớ khoá cửa đấy. Thương em.”

3.

“Mình nằm một chỗ thế này từ mấy giờ rồi ấy nhỉ?”

“Chắc là… sáu giờ tối?”

“Tiện thể nhìn hộ đồng hồ xem bây giờ mấy giờ rồi hộ anh với.”

“Mười rưỡi rồi ạ.”

“Tức là mình nằm không thế này được ba tiếng rưỡi rồi?”

“Vâng ạ. Anh đói không?”

“Em muốn ăn gì không?”

“Bánh mì ạ.”

“Thế uống gì không nào?”

“Trong tủ bếp có sô-cô-la bột đấy, anh hoà với nước nóng là được.”

“Ừ, để anh xuống lấy.”

“Em cảm ơn nhé.”

“Cảm ơn suông vậy mà coi được à?”

“Thế lại đây em hôn một cái nào.”

“…”

“Đấy, có thế chứ. Nằm yên đợi anh.”

4.

“Đố em biết khoảng cách từ đâu đến đâu là xa nhất?”

“Từ Auckland đến Doha?”

“…”

“Sao nào? Từ Auckland của New Zealand tới Doha của Qatar mất 17 tiếng 40 phút đi máy bay nhé.”

“Em chẳng lãng mạn gì cả.”

“Thế nên em mới cần một người lãng mạn như anh để cân bằng.”

“Chỉ được cái khéo mồm thôi.”

“Ơ kìa, em nói đúng chứ có nói sai đâu nào?”

“Cho nên một người vụng về như anh mới cần một người dẻo miệng như em.”

“Anh mà vụng thì ai khéo nữa đây?”

“Em chứ ai. Ngày trước em cưa đổ được anh còn gì.”

5.

“Anh gọi anh Taeil là gì?”

“Ơ kìa sao lại hỏi thế? Gọi là anh chứ gọi là gì nữa.”

“Thế anh gọi anh Sehun là gì?”

“Thì anh gọi Sehun là bạn…”

“Nhưng mà anh Taeil với anh Sehun bằng tuổi nhau đấy…”

“Anh cũng vừa ngộ ra xong…”

“Sao lại như thế nhỉ?…”

“Cơ mà may quá, em không phải nghĩ tới chuyện gọi Sehun là bạn hay là anh.”

“Ơ hay nhỉ em đang hỏi vụ anh xưng hô với các anh ấy thế nào cơ mà?”

“Dù em có nói chuyện gì thì cuối cùng anh cũng chỉ nghĩ tới em thôi.”

“Thế này mà dám tự bảo mình là không khéo ăn khéo nói?”

“Anh không hề nói như thế nhé, anh chỉ bảo anh vụng hơn em thôi.”

6.

“Dép trong nhà đâu hết rồi anh nhỉ? Đi chân không thế này lạnh quá đi mất.”

“Em để ở đâu thì nó vẫn ở đấy thôi, có ai đụng tới đâu.”

“Vấn đề là em không nhớ thì em mới hỏi anh chứ.”

“Em mà cũng có lúc không nhớ cái gì ấy hả?”

“Anh thì em còn nhớ chứ cái gì mà chẳng quên được.”

“Anh thấy hơi cảm động đấy nhé.”

“Hơi hơi thôi ấy hả?”

“Lúc cảm động nhất là lúc em nhận lời cầu hôn của anh rồi. Từ sau lần đó, anh nâng cao tiêu chuẩn cảm động của mình lên một chút rồi.”

“…”

“Sao nào?”

“Thôi, đi tìm dép đi trong nhà hộ em với.”

“Tuân lệnh.”

7.

“Kim Dongyoung.”

“Ơ vâng ạ? Sao thế anh? Nhìn mặt anh nghiêm trọng thế?”

“Anh có chuyện muốn nói với em.”

“Anh cứ nói đi, em đang nghe này.”

“Một chuyện rất quan trọng, em đã chuẩn bị tinh thần đi?”

“Quan trọng cấp độ bao nhiêu?”

“Cao nhất, cao cực kì luôn.”

“Hừm, được rồi, xong rồi đấy. Anh nói đi.”

“Anhcóbụngmỡrồiemcócònyêuanhnữakhông?”

“Từ từ cái gì cơ, anh nói nhanh quá em nghe không được.”

“Anh có bụng mỡ rồi em có còn yêu anh nữa không?”

“…”

“Đấy, em sốc tới mức không ngậm lại miệng kia kìa…”

“…”

“Kim Dongyoung chán anh rồi…”

“…”

“Trời ơi Kim Dongyoung không yêu tôi thì tôi còn thiết gì nữa…”

“Em yêu, em yêu mà.”

“Em nói thế để xoa dịu anh thôi chứ gì? Anh biết thừa…”

“Không tin thì thôi vậy.”

“Thôi, anh tạm tin em.”

“Ơ, tưởng anh bảo em nói gì anh cũng tin cơ mà?”

“Chiều em quá, em sẽ hư.”

“Thế bây giờ em có hư không?”

“Có nhé. Phạt em vào ăn nốt bát yến mạch kia đi rồi chúng mình đi ngủ xong sáng mai dậy sớm đi làm. Muộn lắm rồi đấy.”

8.

“Em mà vẽ đẹp hơn một tí thì tốt nhỉ?”

“Sao tự dưng em lại nghĩ thế?”

“Vì anh chụp ảnh đẹp này, mỗi lần thấy rung động trước cảnh tượng nào thì đều có thể giơ máy lên để lưu giữ lại. Em cũng thử chụp ảnh rồi, nhưng nhiều lần lên ảnh không giống với mình tưởng tượng nên định vẽ lại, vậy mà em vẽ tệ quá.”

“Không quan trọng là đẹp hay xấu đâu, quan trọng là cảm xúc của em mỗi lần nhìn lại những bức ảnh hay những bức tranh ấy kia. Giống như chúng ta xem phim vậy. Không mấy khi chúng ta nhớ toàn bộ các tình tiết của một bộ phim mình từng xem, nhưng chúng ta ghi nhớ cảm xúc mình có được khi theo dõi bộ phim ấy đến phút cuối cùng. Em cứ chụp ảnh, cứ vẽ, ghi lại tất cả những gì khiến mình rung động, vậy là được rồi.”

“Có bao giờ anh cảm thấy như thế không ạ? Ý em là, cảm giác bất lực vì không tài nào lưu giữ lại một khoảnh khắc đẹp như vậy, để rồi thấy tiếc nuối khi giây phút đó vụt qua trước mắt mình ấy?”

“Có chứ, nhiều lần rồi. Khi anh ngắm nhìn bầu trời đêm qua cửa sổ máy bay, khi anh ngắm cầu vồng, khi anh dậy sớm để chờ mặt trời mọc… Hiếm khi nào mà cảnh đẹp được truyền tải trọn vẹn lắm, cho nên anh mới cố gắng dùng đôi mắt mình như một ống kính, để chụp lại thật nhanh và ghi nhớ khung cảnh đó đấy thôi. Đừng từ bỏ, nhé. Em cứ thử hết sức mình là được rồi.”

“Chà… Dù sao thì, em vẫn tiếc khi không thể tự mình vẽ chân dung của anh.”

“Vậy à…”

“Tiếc lắm ấy ạ.”

“Tất cả những cảnh khiến anh rung động đều được chụp lại qua mắt anh rồi. Ví dụ như ngay lúc này đây, em là những gì đẹp đẽ nhất mà anh nhìn thấy, thành ra anh ghi nhớ từng chi tiết thuộc về em, em cũng thử làm theo cách đó xem sao.”

9.

“Lâu lắm rồi chúng mình không đi đâu xa để chơi mấy ngày anh nhỉ? Hay là sắp tới được nghỉ lễ, mình ra nước ngoài một chuyến được không?”

“Ra nước ngoài ấy hả? Nhưng quanh năm em bay suốt rồi, anh còn tưởng em định mấy tuần nghỉ ở nhà thì tranh thủ ngủ bù cơ.”

“Ngủ thì lúc nào mà chẳng ngủ được, quan trọng là mình chẳng mấy khi có thời gian đi đâu với nhau kia kìa. Nhé? Đi nhé?”

“Ừ, em đã xem qua địa điểm chưa? Nếu chưa thì mình bàn luôn bây giờ.”

“Em định về nhà này.”

“Nhà…?”

“Về Chicago ấy.”

“…”

“Anh ơi?”

“Cảm ơn em.”

“Ơ kìa, có gì đâu mà…”

“Anh vẫn muốn cảm ơn em, vì đã coi nhà anh là nhà em.”

10.

“Anh đang viết sách nhỉ?”

“Ừ đúng rồi đấy, viết sách về cách trở thành một người chồng tốt.”

“Chậc, nhưng mà người ta đọc xong cũng không làm theo nổi đâu.”

“Thì anh cũng có viết cho người ta đọc đâu, anh viết cho con chúng mình. Bọn trẻ cần biết rằng chúng có một ông bố tuyệt vời thế nào.”

“Anh có vẻ tự tin quá nhỉ?”

“Tất nhiên là tự tin rồi. Vì anh có một người chồng tốt thế này cơ mà.”

“Này, Suh Youngho.”

“Anh đây.”

“Yêu anh.”

“Ừ, Dongyoung này.”

“Vâng?”

“Thương em.”

Posted in my johnny, night night (II)

[Oneshot | #JohnDo] singing the blues

DvHrGy1UcAA0aIi

Author: Trịnh Ánh

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Rating: K+

Summary: ‘xin ngài…’

singing the blues

Đã lâu lắm rồi.

Đã lâu lắm rồi mới được ôm Doyoung vào lòng như thế này. Xinh đẹp vô ngần của anh, thanh thuần của anh, tinh khiết của anh, dịu dàng của anh, mật ngọt của anh, đến cả hơi ấm toả ra từ da thịt căng mịn cũng khiến anh bồi hồi. Em nằm đó, gối đầu lên cánh tay anh mà thiu thiu ngủ, chốc chỗc lại nhíu mày, mí mắt rung động vì một giấc chiêm bao, hai cánh môi khẽ hé mở như đang đợi chờ một chiếc hôn sâu. Một chiếc hôn nồng nàn và tình tứ và dây dưa và mộng mị, một chiếc hôn mà anh muốn đắm chìm trong nó, dành cả phần đời còn lại để tận hưởng nó. Ngay bây giờ, tâm hồn anh đang rạo rực vì một điều gì chưa thể đặt tên. Đã lâu lắm rồi, đã lâu lắm rồi, và ngay lúc này đây, anh muốn hôn Doyoung.

Nhẹ nhàng một tay đỡ sau gáy em, một tay luồn vào trong vạt áo mỏng tang mà miết lên vòng eo mảnh khảnh, Youngho cúi xuống đặt lên trán Doyoung một nụ hôn. Thật tinh tế, thật êm ái, thật khẽ khàng, chỉ vừa vặn như một cơn gió thoảng khẽ chạm vào cành hồng trong một sớm đông về và lặng lẽ chẳng kém gì một cánh chim chao nghiêng trên bầu trời tháng giá, để hơi đìu hiu nhuộm màu cánh trắng cùng làn cô quạnh náu mình nơi mắt trong. Trong lòng anh, trời đất cũng đang cựa mình sang đông. Mới đầu đông, vậy mà trời đã rét ngọt. Như sợ buốt giá lây lan tới tâm can người trong lòng, Youngho vội hôn lên chóp mũi, lên gò má, lên cần cổ rồi rúc thật sâu nơi hõm vai Doyoung, những muốn lưu lại trong kí ức mình một chút hương, một chút tình hay một chút gì của người thương mà anh không muốn rời xa dù chỉ trong chốc lát.

Đặt Doyoung nằm lại xuống giường, Youngho âu yếm khuôn mặt em trong hai bàn tay mình. Tạo vật yêu kiều này lại khiến anh si mê hơn một chút. Thật diệu kì, khi cùng là một người ấy, nhưng người ấy của ngày hôm nay ta lại thấy yêu hơn người ấy của ngày hôm qua. Yêu lắm, thương lắm, anh thương em đến vô cùng, em ơi. Một luồng run rẩy chạy dọc sống lưng làm Youngho thoáng rùng mình. Không biết có phải vì dạo này mắt đã kém đi rồi hay không mà cứ nhìn Doyoung, anh lại thấy cảnh vật trước mắt mình nhoè nhoẹt đi, mờ ảo đi như nhìn qua làn sương buổi sớm. Chỉ sợ mình một ngày kia sẽ quên đi dáng hình này, anh ôm ghì lấy Doyoung trong vòng tay mình, bàn tay to bản cố gắng vuốt ve em thật từ tốn, thật cẩn mật. Anh chỉ sợ em đau.

Anh chỉ sợ duy nhất một điều, là nhìn thấy giọt nước mắt đau đớn của Doyoung. Youngho, chỉ đơn giản là không chịu đựng nổi. Ngay giây phút Doyoung quay mặt nhìn đi hướng khác để anh không phát hiện ra mình đang khóc, Youngho đã thấy mặt đất như vụn bở dưới chân. Cuống cuồng trong cơn mê man, anh lại siết lấy Doyoung như muốn cầu cứu. Anh muốn cảm nhận cơ thể Doyoung, muốn được xoa nắn em, muốn được chạm vào em. Youngho muốn được cứu rỗi. Anh muốn Doyoung cứu anh ra khỏi tất cả những gì tầm thường mực thước kia.

Doyoung chỉ cần nói một lời thôi, rằng em muốn được tản bộ giữa những vì sao, rằng em muốn được tắm mình trong hương sen dìu dịu của những bát ngát và mênh mông cùng lặng lẽ và sâu lắng của những gì thiết tha nhất và ngọt bùi nhất, rằng em muốn nắm lấy tay anh mà chạy thật nhanh trên những cánh đồng trải dài tít tắp tưởng như có thể duỗi căng hết sức sống mà chạm tới chiều kích của vũ trụ, để cho đôi ta có thể được những êm ả của hương đồng gió nội đón chân mà dạo bước khắp thế gian. Doyoung chỉ cần nói một lời thôi, rằng em muốn được hát như chưa bao giờ được hát, muốn được nhảy múa trên những thảo nguyên tiếp thảo nguyên tít tắp nơi mà nắng vàng làm chủ mặt đất, còn con người thì thống trị bầu trời. Doyoung chỉ cần nói một lời thôi, rằng em muốn được ngắm nhìn hoa thơm cùng cỏ lạ khắp bốn phương trời, rằng em muốn mặc chiếc áo dệt nên từ những sợi thanh âm réo rắt của tiếng cười và lời ca. Doyoung chỉ cần nói một lời thôi, Youngho sẽ đi tới cùng trời cuối đất mà tìm về cho em những gì tinh tuý nhất mà Thượng đế tạo ra. Chỉ cần, anh chỉ khẩn khoản Doyoung duy nhất một điều, chỉ cần em ở lại với anh, cùng anh chiêm ngưỡng sự trở mình kinh điển của các hành tinh, vậy là được rồi.

Chỉ duy nhất một điều ấy, ôi, chỉ duy nhất có một điều ấy thôi!…

Chưa bao giờ, anh thấy Doyoung xa xôi đến thế. Ngay đây thôi, kề cạnh ngay đây thôi, Doyoung vẫn ở trong lòng anh ấy thế mà lại vời vợi cả nghìn trùng. Người anh thương đang ở đâu đó cao thật cao, sâu thật sâu. Doyoung đang ở một nơi mà anh có cố cách mấy cũng không với tới được. Đẩy Doyoung ra xa khỏi mình, Young điếng người nhìn Doyoung.

Em vẫn vậy, nhưng xinh đẹp quá, nhưng vô thực quá. Những người từ cõi chết trở về, ai cũng đều như vậy hay chăng?

Trong lúc Youngho vẫn còn đang bần thần, Doyoung đã tỉnh giấc. Đưa tay lên ôm đầu, em gồng lên như phải chịu cơn đau kịch liệt, hai chân co lên nép sát vào thân người, đến các ngón chân cũng cứng đờ cả lại. Khuôn mặt Doyoung đỏ ửng nên, hai mắt nhắm nghiền, hai hàm răng nghiến chặt khiến cho hàm cũng bạnh ra. Đến khi không tự mình kiểm soát được nữa, em rít lên từng tiếng, từng tiếng một, inh tai nhức óc như những mũi khoan xuyên thủng màng nhĩ Youngho. Trong những giấc mơ, anh luôn nhìn thấy cảnh tượng ấy. Cảnh tượng diễn ra ngay trước khi cả người Doyoung bắt đầu co giật liên tục, hai mắt trắng dã trợn trừng nhìn anh như muốn thu chút khí tàn lực kiệt còn sót lại mà bổ nhào vào anh, mà cắn, mà xé, bọt trắng trào ra hai bên mép, tràn cả xuống cằm, chảy dài xuống cổ. Cảnh tượng ngay trước khi cả người em duỗi thẳng trở lại, và Cái Chết lấy đi Doyoung của anh.

Anh đã nhìn thấy khung cảnh ấy cả nghìn lần mà không làm gì được. Giữ chặt lấy đầu Doyoung đang lúc lắc không ngừng vì mối mọt và dọi bọ nhung nhúc được Cái Chết cử đến gặm nhấm từng tế bào cơ thể, Youngho ngấu nghiến đôi môi đang tím tái kia. Ngồi thẳng dậy rồi bế xốc em lên, để Doyoung mặt đối mặt với mình, anh thấy ánh mắt người trong lòng cứ thế lạc dần đi. Trong tay Youngho, người Doyoung mềm oặt, vô lực, yếu ớt và thảm hại. Yếu ớt. Và thảm hại. Điên cuồng hôn, vồ vập hôn, anh hôn lên cổ, lên vai, anh chui vào dưới lớp áo mà hôn lên ngực, lên bụng. Cả người Doyoung cứ đổ dần rồi lại đổ dần, nằm phịch xuống giường, rũ rượi và thảm thương.

Youngho đã làm như thế hàng nghìn lần và vẫn không thể làm được gì hơn thế nữa. Cái Chết vẫn đến và đưa em đi, trong cái ngày bọn chúng túm lấy Doyoung trên đường, đánh đấm túi bụi vào ngực, vào bụng em, cưỡng hiếp em, sỉ nhục em. Trong cái ngày bọn chúng khiến Doyoung chết vì sốc thuốc.

Rùng mình lắc đầu một cái thật mạnh, Young choàng tỉnh. Hôm nay, Doyoung không tỉnh dậy với một cơn đau đầu. Em không đau đớn, không hoảng sợ, không gì cả. Doyoung hôm nay, chỉ đơn giản là tỉnh giấc sau một giấc ngủ dài mà thôi. Thấy em mỉm cười nhìn mình, Youngho đột nhiên luống cuống. Nói nhanh tới mức tưởng như sắp cắn vào lưỡi đến nơi, anh nhận ra mình lại nói lắp:

“Anh… anh… anh đ… anh đã giết hết b… b… bọn chúng rồi. Gi… gi… giết h… giết hết rồi… Kh… kh… không còn… còn đứa nào… đâu…”

“Em biết rồi.”

Mỉm cười, Doyoung đặt ngón trỏ lên môi anh, chặn những từ ngữ rời rạc đang tuôn ra từ miệng Youngho. Thấy anh ngơ ngác nhìn mình, Doyoung luồn tay vào mái tóc rối bù của người kia, nói bằng giọng xót xa.

“Em biết rồi mà.”

Vòng tay ôm lấy Youngho, Doyoung cọ cọ trán mình vào ngực anh, nói khe khẽ.

“Mình ra ngoài, anh nhé.”

“Ừ,” Youngho thất thần nhìn bức tường phía sau lưng Doyoung, đen kịt và loang lổ những vệt máu khô chảy xuống từ những cái đầu treo trên đinh móc, nói như cái máy. “Mình ra ngoài thôi.”

.

Nghiêng đầu ngắm nhìn tên mình được khắc trên bia mộ, Doyoung rõ ràng không hề vừa lòng. Cúi xuống tìm một viên sỏi có cạnh sắc, Doyoung cầm lên, thử tung thật cao rồi bắt lấy, ra chiều hài lòng lắm rồi lặng lẽ gạch chéo chữ Kim trong tên họ của mình. Viết một chữ Suh thật lớn lên phía bên trên dấu gạch chéo, Doyoung ném viên sỏi xuống đất rồi phủi phủi hai tay vào nhau, đoạn chạy về phía Youngho đang lo lắng nhìn mình ở một góc nghĩa địa. Đan tay mình vào bàn tay nhét trong túi áo nhưng vẫn lạnh ngắt như đá của Youngho, Doyoung vui vẻ ngả đầu lên vai anh, cùng anh nhìn về phía bia mộ bằng đá nằm phía cuối dãy.

“Em sửa lại rồi.”

“Sửa lại gì cơ?” Với vẻ hơi lơ đễnh, Youngho liếc nhìn Doyoung. Trên khuôn mặt nhợt nhạt, xuất hiện một nụ cười hạnh phúc. “Anh xin lỗi, anh không nghe rõ.”

“Tên của em ấy ạ.” Doyoung cười rộ lên. “Em là Doyoung Suh chứ có còn là Doyoung Kim nữa đâu.”

“Ừ, kể ra cũng phải.” Youngho hơi cúi đầu để chóp mũi mình chạm vào chóp mũi Doyoung. “Của anh rồi mà, nhỉ?”

“Vâng, bây giờ thì,” Doyoung hít một hơi thật sâu, đưa bàn tay lạnh cóng của Youngho lên sát miệng mình mà thổi thổi mấy cái rồi xoa xoa cho ấm lên, giương mắt nhìn anh vẻ khẩn khoản. “Mình về nhà được không?”

“Không, mình phải tới một nơi trước đã.” Nhìn vẻ tuyệt vọng ẩn hiện trên khuôn mặt người thương, Youngho cắn cắn môi lưỡng lự rồi lại mỉm cười. “Mình phải tới một nơi trước đã.”

Doyoung mỗi lúc một mờ dần, rồi lại mờ dần đi, nhưng nỗi đau đớn hằn lên từng thớ thịt lại sắc lẹm như một con dao được mài đến bén ngọt, cứa một nhát vào trái tim Youngho đang rỉ máu. Nhưng có một nơi mà anh buộc phải đến mà Doyoung có cản tới mấy, anh cũng mặc.

Youngho cần phải bán mạng mình cho Cái Chết lần cuối cùng, để được chết đi cho trọn vẹn, nhưng hình dạng của Doyoung sẽ vĩnh viễn không bao giờ mờ đi nữa cho tới ngày họ gặp lại nhau.

.

“Nếu như tôi theo ngài về Vương quốc của Cái Chết, ngài có thể tha mạng cho em ấy không?”

“…”

“Làm ơn… Hãy đưa tôi đi với ngài… Da thịt của tôi, hơi thở của tôi, linh hồn của tôi, hay ngay cả cái tên của tôi, từ nay sẽ thuộc về ngài. Xin hãy đưa tôi đi cùng ngài, hãy đưa tôi đi cùng ngài, thưa Cái Chết… Chỉ cần… Chỉ cần ngài để em ấy được sống… Tôi khẩn khoản cầu xin ngài…”

“Tại sao?”

“…Vâng?”

“Tại sao ngươi lại phải làm như thế?”

“Tôi không… Tôi không thể…”

“Ngươi nói rằng người không thể sống thiếu cậu ta. Điều đó có nghĩa lí gì hay không? Điều đó có nghĩa lí gì, ta hỏi ngươi, Con Người, điều đó có nghĩa lí gì khi thậm chí sự sống còn rời bỏ ngươi?”

“Đáng mà, thưa ngài.”

“…”

“Da thịt của tôi, hơi thở của tôi, linh hồn của tôi, hay ngay cả cái tên của tôi, nếu là vì em ấy mà từ bỏ, thì cũng đáng mà.”

 

Posted in my johnny, night night (II)

[Oneshot | Poetry | #JohnDo] 和 (rest in peace, harmony)

DN2E3bSU8AAk5VY

Author: Trịnh Ánh

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Category: Poetry

Rating: G

Summary: ‘đàn.’

(rest in peace, harmony)

(wa – Japanese word): peace or harmony; it implies the importance to of avoiding conflict – so as to maintain the (wa) harmony.

Ting tang, ting tang tang

Tài thay, một ngón đàn

Người chơi đàn dưới trăng.

Ting tang, ting tang tang

Bạc thay, một ngón đàn

Người lấy tình ru trăng.

Ting tang, ting tang tang

Ngọt thay, một ngón đàn

Người gỡ rối lòng trăng.

Ting tang, tinh tang tang

Đắng thay, một ngón đàn

Người nghẹn ngào thương trăng.

Ting tang, ting tang tang

Ting tang, ting tang tang

 

.

 

Nghe văng vẳng từ phía bên kia sông, tiếng ai gọi đò

Thoảng hoặc bên này sông, tiếng người ca một khúc đồng dao

Người ca hay lắm, người ca rằng:

Cô ở trăng tròn

Lấy chồng xa xứ

Người thân quê nhà

Biền biệt tin thư

Người ca tài lắm, người ca rằng:

Cánh chuồn chuồn đỏ

Chở ánh chiều tà

Kìa một thân đậu

Trên đầu cây khô

Ta bật cười, ta gọi với sang, nhầm rồi, sai rồi

Người ca của ta, thiếu mất hai khúc đau thương.

Lấy làm lạ, người mới hỏi ta

Nói thiếu là thiếu, vậy thiếu gì?

Ta lại cười, để ta giúp người

Ta không ca hay, nhưng biết ca:

Cánh chuồn chuồn đỏ

Chở ánh chiều tà

Bao giờ còn nhớ?

Thuở địu trên lưng

Ta không ca tài, nhưng biết ca:

Đựng những dâu tằm

Hái trên dãy núi

Vào nan giỏ nhỏ

Chỉ là mơ thôi?

Nghe ta xướng một khúc ai oán xé lòng

Trăng tang tóc nhìn sông, người gọi đò cũng thôi không hò nữa

Nẫu ruột, ứa gan, người hát đồng dao lặng lẽ rời đi

Ta cười, vậy là chỉ còn một mình ta, một mình ta thôi

Tướng quân ra trận, chẳng biết đến bao giờ.

 

.

 

Hôm sau, lại có người gọi đò

Tựa bên khung cửa, người lặng lẽ gảy đàn

Gỡ rối lòng trăng, người ca, ta gỡ rối lòng trăng

Người hát đồng dao lại tới, lần này không đi tay không

Người hát đồng dao mang theo một lá thư, gửi về từ trận mạc

Tướng quân chốn đạn lạc tên rơi, ngã ngựa, không về được nữa.

 

.

 

Ting tang, ting tang tang

Khéo thay, một ngón đàn

Người mải miết phổ nhạc

Ting tang, ting tang tang

Vụng thay, một ngón đàn

Gỡ mãi, rối hoàn rối

Người không sao gỡ nổi

Ngậm ngùi, người cúi đầu

Muốn tạ tội cùng trăng

Lòng người, gỡ càng rối

Tướng quân chẳng thể về.

Ting tang, ting tang tang

Trào phúng thay, ngón đàn

Người tấu khúc vô thanh.

Lao xao, để phần mình

Bình yên, dành tướng quân.

Ting tang, ting tang tang

Bi phẫn thay, ngón đàn

Tướng quân, không về nữa.

 

 

Posted in my johnny, night night (II)

[Oneshot | #JohnDo] i (don’t) live alone

DvlTi3kVAAA-ZLP

Author: Trịnh Ánh

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Rating: G

Summary: ‘đại khái là… không sống một mình.’

i (don’t) live alone

1.

Có thêm một người sống cùng, không phải chỉ đơn giản là chuyện mua giường đôi để thay cho cái giường đơn đã xập xệ, càng không phải chuyện mua một cái chăn lớn hơn, trong nhà tắm có thêm một cái khăn, một cái bàn chải đánh răng hay ngoài cửa xuất hiện thêm một đôi giày, lúc soạn bàn ăn thì lấy thêm cái bát, đôi đũa, lúc phơi quần áo thì lâu hơn vài phút. Rõ ràng không phải như thế. Có thêm một người sống cùng, không phải chỉ loanh quanh chuyện chia nhau trả tiền nhà, tiền điện, tiền nước, hay là phân công xem ai rửa bát, ai quét nhà, ai khoá cửa trước lúc đi ngủ. Có thêm một người sống cùng, nếu như tìm được người tốt thì là may mắn, nếu như tìm được người vừa biếng nhác vừa ham ăn thì không khác mấy đang yên đang lành thì khuân về của nợ.

Người có cái ngoại hình cùng lối sống cực kì của nợ nhưng lại hiện diện trong căn nhà của Youngho như một may mắn, chắc chỉ có một mình Doyoung.

Ở đâu ra cái loại người sểnh ra một cái là nhảy chân sáo vào bếp nấu hết món này món kia, ăn uống hùng hục như trâu húc mả rồi nằm vểnh râu lên thả một câu như sét đánh giữa trời quang: “Anh dọn hộ em”? May mà vẫn còn lí trí nên để phần “anh” một vài miếng chứ nếu không có khi “anh” lại đánh cho. Ở đâu ra cái loại người nằm yên một chỗ cả trưa, cả chiều, thôi đã lỡ nằm thì nằm hết buổi tối, nhưng đến đêm thì lại giật đùng đùng lên “Anh ơi tự dưng em thèm ăn bánh mì”? Ốm nghén hay gì? Nghén gì mà nghén từ năm này qua năm khác như thế? Rồi ở đâu ra cái kiểu nằm hết già nửa cái giường xong vắt cả chân qua người người khác rồi tỉnh như sáo sậu: “Cho em để nhờ” làm như quen thân lắm ấy mà để nhờ?

Ở đâu? Ở đâu?

Ở đây. Ở đây có. Nguyên cái đống đang nằm cuộn chăn đọc truyện tình cảm ba xu rồi khóc thút thít một mình kia kìa. Thực sự là quá của nợ.

2.

Của nợ nhà Youngho có một số đặc điểm tương đối nổi bật. Đặc điểm thứ nhất là không thể định nghĩa nổi loài này là loài gì, cấp độ của nợ đã đạt tới mức cao nhất hay chưa. Đặc điểm thứ hai là có quá nhiều đặc điểm, có lấy giấy viết sớ mà viết ra e rằng cũng không hết. Nhưng mà ai nhìn vào cũng biết ngay là của nợ nhà này, tới Jaehyun cũng bảo là lật cả địa cầu lên cũng không thấy một chiếc của nợ thứ hai, kể ra cũng lạ mà thực ra cũng chẳng lạ lắm, vì Youngho thì có đụng hàng ai bao giờ. Đây nhé, để kể cho nghe một vài sự tích về của nợ.

3.

Của nợ này không thích soi gương. Rất tự tin, nhưng thường tự bảo mình kém sắc, không xinh bằng của nợ nhà hàng xóm. Tức mình, Youngho mới bảo là em xinh vô địch, anh mà nói dối hai đầu gối anh bằng nhau, anh mà nói sai hai tai anh có lỗ. Của nợ cũng rất ngoan, của nợ không khóc nhè. Nhưng của nợ phụng phịu hết đúng một tiếng, tới khi anh dẫn đi ăn lẩu thì mới chịu làm hoà với Youngho. Một tiếng là quá nhiều, Youngho mang bánh mì tới để thương lượng, nói rằng lần sau của nợ hãy giảm xuống dỗi anh khoảng hai mươi phút thôi chứ gấp ba lần như thế thì dài quá anh chịu không nổi, của nợ bắt anh mua thêm ba cái bánh nữa rồi mặc cả lên dỗi nửa tiếng.

4.

Của nợ của Youngho không thích vận động. Chính xác là đặt nằm ở đâu thì sẽ nằm nguyên ở đó, trừ khi trời sập xuống, còn đâu kiên quyết không di chuyển. Nhưng cuộc đời nào có dễ sống đến thế, nếu mà dễ thế thì năm hết tết đến ai cũng khấn vái ông bà cho mình được đầu thai làm người rồi. Phòng làm việc của Doyoung – tức của nợ của Youngho – nằm ở tầng 8. Ừ thì, đại khái là cái tầng cao nhất của cái công ty đó đó. Mỗi ngày, của nợ đều đi làm từ sáng sớm tinh sương, từ lúc gà chưa thèm gáy từ lúc mặt trời chưa buồn dậy, để thực hiện một sứ mệnh cực kì cao cả.

Không phải quẹt thẻ để vào sớm đâu. Nghĩ gì.

Là để đi thang máy.

Của nợ thích dậy sớm, cũng dễ gọi dậy, cho nên không thành vấn đề gì lắm. Nhưng mà của nợ không ngờ, ai ai cũng dậy sớm để đi thang máy. Thế là thang máy ngày nào cũng như ngày nào, còn cách giờ làm việc cả tiếng đồng hồ đã chật ních toàn người với người. Thế là của nợ đã nghĩ ra một cách, đấy là không dậy sớm nữa, mà đến sát giờ mới mò mặt tới cơ quan, để thong thả đi thang máy lên tầng 8.

Nhưng sát giờ mới ra khỏi nhà như thế, ai chở đi? Tất nhiên là Youngho.

Ngày nào cũng làm anh phóng bạt mạng như chó đuổi, đúng là của nợ.

5.

Của nợ có rất nhiều em trai nhỏ bám theo. Chính xác là em trai nhỏ, cực kì nhỏ, đứa nào đứa nấy đứng tới vai anh, nhưng rất tích cực thu hút sự chú ý của cái cục đáng nhẽ ra chỉ nên cuộn chăn nằm đọc truyện ba xu trong nhà anh thay vì đi khắp nơi gieo rắc nhớ thương cho các em đeo khăn quàng đỏ. Khổ một nỗi, Doyoung lại làm ở cái công ty tổ chức sự kiện đó đó, ngày ngày phải đi làm công việc đó đó, giao tiếp với rất nhiều các em nhỏ ở độ tuổi đó đó, cũng phải xin rất nhiều số điện thoại của bố mẹ các em đó đó.

Đây, đây mới là trọng điểm.

Vì các em rất thích anh trai làm bên tổ chức sự kiện, rồi nhà trường cũng rất thích anh trai làm bên tổ chức sự kiện, nên bố mẹ các em cũng thích lây anh trai làm bên tổ chức sự kiện, nhà nhà người người u mê anh trai làm bên tổ chức sự kiện.

Xin được phép dành cho Youngho ba phút thẫn thờ hình dung ra cảnh mình bị anh trai làm bên tổ chức sự kiện kia cho ra rìa rồi chết già ở xó nhà không ai thèm ngó ngàng tới, mấy chục năm thanh xuân trôi qua như gió vào nhà trống, không để lại một chút rét buốt nào cho đời đã vội luồn qua cửa sổ mà bay ra.

Không, Youngho không thể để như thế được. Ít nhất thì mấy chục năm thanh xuân không cống hiến gì được cho tập thể, cũng phải là một cơn gió lùa vào căn nhà có nguyên một bầy người, khiến chúng sinh rét run lên cầm cập thì thôi. Đã làm cùng một công ty, vậy thì Doyoung ở đâu, Youngho ở đó, keo sơn như nhân bánh với vỏ bánh trung thu, gắn bó mật thiết như mông với bỉm.

Nhưng của nợ bảo là anh không cần vất vả thế đâu, em thích các em ấy, nhưng mà em yêu anh, làm Youngho khóc rưng rức trong nhà tắm hết cả buổi tối, suýt thì cảm lạnh. Đúng là đồ của nợ.

6.

Của nợ sợ lạnh, mỗi lần chọn áo khoác đều chọn rất cẩn thận, phải lựa loại dày dạn, có lót bông, đã thế phải có mũ, rồi có thể dựng cao cổ áo lên để chắn gió. Của nợ mặc dày cồm cộp như vậy, không cho anh ôm nữa vì ôm sẽ nóng.

Đây là của nợ nhất trong số các loại của nợ.

7.

Của nợ không ăn được dưa chuột, nhưng lại cười anh vì anh không ăn được nhím biển. Cười cợt mất non nửa thế kỉ, của nợ vừa quệt nước mắt vừa quay sang nói với anh, thôi thì không sao đâu, không ăn được món đắt tiền như thế thì kể ra cũng đỡ tốn kém. Đã thế còn bồi thêm một câu, nhím biển ăn cũng ngon lắm, nhưng anh không cần mua cho em đâu, mua đồ cho em thì chọn món nào không có dưa chuột là được rồi. Rõ ràng là của nợ rất thích ăn tôm mà lần lữa mãi không chịu nói, chỉ ăn cùng Youngho mấy món anh thích thôi.

Thế này không phải của nợ thì thế nào mới là của nợ?

8.

Doyoung đích thị là một loài của nợ, ốm mấy thì ốm cũng không chịu nói. Lần trước cũng thế, đau bụng thì cứ bảo là đau bụng, chóng mặt thì cứ nói là chóng mặt, có ai trách mắng gì đâu. Nhưng lại cứ bình thản như không, mồ hôi vã ra đầm đìa thì phải gặng hỏi mãi mới thủ thỉ là anh ơi em mệt quá mệt quá phải làm sao bây giờ, về tới nhà thì nôn ồng ộc trong nhà vệ sinh như đập thuỷ điện xả lũ, làm người ta tá hoả chạy đông chạy tây.

Ốm thì phải bảo một câu, để người khác lo lắng như thế thì có khác gì của nợ?

9.

Của nợ thường thức khuya, kể ra cũng không có vấn đề gì lắm. Vấn đề là mỗi lần thức khuya nghịch điện thoại thì đều sợ ánh sáng điện thoại hắt vào mặt Youngho khiến anh không ngủ được nên lúc nào cũng nằm trong tư thế mặt đối mặt với anh, nhiều hôm anh tiện tay thì anh ôm luôn, lợi cả đôi bên. Nhưng mà Doyoung cười.

Cái của nợ nó cười, nên khi nằm đối diện anh thì nó cười thẳng vào bản mặt anh. Đây không phải là chuyện để đùa, đây là một chuyện vô cùng của nợ. Nhưng biết lần nào hỏi vì sao lại cười thì Doyoung trả lời anh thế nào không? Doyoung bảo là “Anh ngày còn đi học nhìn ngộ nghĩnh ghê.”

Em yêu à, em xem cái album ảnh đấy lần thứ ba nghìn tám trăm hai mươi mốt rồi.

10.

Mặc dù sống không khác gì một loài của nợ, nhưng Doyoung vẫn là may mắn lớn nhất đời anh. May mắn của nợ? Của nợ may mắn? Thôi, dẹp đi. Có thêm một người bên cạnh để không phải sống một mình nữa thật tốt, là của nợ hay may mắn tự dưng cũng không quan trọng lắm nữa, nhưng nếu là một của nợ may mắn tên Kim Doyoung thì tốt hơn.

Posted in my johnny, night night (II)

[Oneshot Making Process – Final | On-going | #JohnDo] dystopian: will-o’-the-wisp – the evidence pt.2

Df04tlDXcAAxT6q

Author: Trịnh Ánh

Pairing(s): JohnDo and ?

Character(s): Shigenis (NCT ?), Varolai (NCT ?), ‘?’

Rating: ?

Summary: ?

dystopian: will-o’-the-wisp – the evidence pt.2

Location: Livyatan’s Prison No.17.

Không thể chối cãi được một điều, rằng Livyatan có lí do để xây dựng một nhà tù không có một điểm gì giống nhà tù này. Hắn ta thừa thông minh để hiểu được một điều rằng những cá thể đang bị giam giữ tại đây ghê gớm ra sao, và chỉ cần một người trong số họ thôi – nếu như có cơ hội tiếp cận hắn – đều có thể bằng một lưỡi dao mà đoạt mạng hắn và họ luôn sẵn sàng cho điều này. Thậm chí, ngay cả khi không thể tiếp xúc ở cự li gần thì tính mạng hắn vốn dĩ cũng luôn bị đặt vào tình thế ngàn cân treo sợi tóc vì những mưu mô, những tính toán khó lường của hàng tá chiến lược gia, đặc vụ và lính đặc công bị bắt giữ làm tù binh trong các nhà tù của mình. Họ đủ khôn khéo để làm thân với cánh quản ngục, đội ngũ được cho là sắc bén và tinh tường nhưng luôn dễ dàng bị lôi kéo bởi những lời dịu dàng và từ tốn thốt lên từ những cái miệng đáng ra phải luôn văng lời tục tĩu. Họ cũng đủ khôn ngoan để không manh động ngay từ đầu mà tìm kiếm sự đồng cảm từ phía quản ngục trước rồi mới từ từ thực hiện ý đồ của mình, đó là có cơ hội lợi dụng “tình bạn” mới chớm nở kia để kiếm chác một chút sự dễ chịu, một chút sự tự do và tất nhiên là hoàn thành mục tiêu được đặt ra ngay từ khi mới bước chân vào buồng giam: vượt ngục.

Thế nhưng, nhà giam của Livyatan thì không cho bất cứ tù nhân nào cơ hội trốn thoát. Lí do rất đơn giản, và cũng rất khó tin. Tù nhân không muốn rời khỏi đây.

Ở đây, khái niệm “buồng giam” không tồn tại. Toàn bộ tù nhân đều được ở trong phòng riêng, và họ có quyền mở cửa để ra khỏi phòng bất cứ lúc nào mình muốn, để sang các phòng khác hoặc đi vào khu vực sinh hoạt chung, miễn là không cố gắng lẩn tránh sự theo dõi của các máy quay an ninh hay là tháo thiết bị định bị đeo ở cổ chân. Họ có thể tham gia nhiều hoạt động khác nhau, như là chơi cờ, chơi bài, giải câu đố, và toàn quyền sử dụng hệ thống phòng tập luyện được trang bị tất cả các thiết bị hiện đại nhất có thể tìm được trong vũ trụ. Đặc biệt hơn, để được sử dụng lồng kính trong vòng hai giờ đồng hồ, họ chỉ cần đánh bại người khác trong một trò chơi thực tế ảo là được.

Mỗi ngày, các tù nhân đều được lần lượt đưa đến khu vực trò chơi. Họ chỉ cần đeo kính VR và cầm các thiết bị là có thể bắt đầu chơi. Chỉ có điều, cảm giác đau đớn khi bị ăn đòn là thật. Nhưng điều đó cũng chẳng mấy quan trọng vì sau khi chơi xong, nếu thua, người ta cũng sẽ không mất mạng, và nếu thắng, tù nhân cũng không cần thấy dằn vặt vì đã khiến ai đó phải bỏ mạng chỉ vì lợi ích của mình. Điều này khiến cho nhà giam của Livyatan gần giống với một thiên đường nếu như đem ra so sánh với đế chế của những người đứng đầu hậu Apokalypsis. Ở một nơi mà người ta được chu cấp vừa đủ sự thoải mái và tiện nghi, có đủ cơm ăn ngày ba bữa, đủ quần áo để thay rửa ngày hai lần, không bị đánh đập, không bị tra tấn, không phải lo ngại quản ngục, không cần phải áy náy vì những gì mình đã làm vì thực chất họ không hề bị ép buộc phải làm gì quá đáng cả, không một ai tình nguyện chọn rời đi trừ khi tình yêu dành cho Tổ quốc đột nhiên trỗi dậy. Nhưng cũng không cần phải lo về việc đó lắm, vì không nhóm lửa mà xung quanh cũng không có gì dễ cháy thì không cần phải lo ngộ nhỡ lửa có bùng lên.

Bên trong các nhà tù của Livyatan, toàn bộ tù nhân đều được an toàn và nhạo báng thay, họ không thể phủ nhận chuyện mình đã sống một cuộc sống dễ chịu hơn hẳn so với bên ngoài nhà tù, tức là trên các phi thuyền mà họ coi là “Trái Đất”.

Trái Đất.

Thật nực cười khi họ gọi tất cả các phi thuyền theo đúng một cú pháp “Earth” đi kèm số hiệu của nó. Và cũng thật mỉa mai khi mà không một ai coi phi thuyền ấy là Trái Đất nhưng lại cứ thế gọi nó như vậy mà không biết ngượng là gì. Biết rằng loài người vốn là sinh vật không biết thế nào gọi là xấu hổ, nhưng đến mức độ và cường độ sự mặt dày trở nên thừa mứa như ngày hôm nay thì kể ra cũng đáng để bất ngờ.

Chúng ta dành không biết bao nhiêu thế kỉ để tiến hoá. Chúng ta đã bỏ ra biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt để tìm ra con đường đưa mình tới đỉnh cao nhất của sự phát triển. Chúng ta nắm trong tay vô số công cụ để phục vụ cho mục đích ấy của mình, và các giống loài khác đã phải hi sinh quá nhiều để chúng ta có cái quyền huênh hoang về một thứ giả tạo được gán mác lòng tự tôn khi là một phần của một giống loài đẳng cấp, trong khi bản thân hiểu rõ hơn bất cứ sinh vật nào tồn tại trong vũ trụ rằng mình thối nát ra sao. Không một cá thể loài người nào cho các sinh vật khác quyền được lựa chọn. Con người cứ thế tước đi quyền được sống của các loài khác như thể đó là điều hiển nhiên. Điều duy nhất được con người coi là chân lí chính là hành hình các loài khác trước khi bị chúng tiêu diệt. Với trí tuệ, với sự linh hoạt trong hành động, với sức mạnh của tinh thần bất khuất, con người đã tiến hoá đến mức cho rằng bản thân có quyền đứng đầu chuỗi thức ăn và thống trị cả bầu trời, mặt đất, biển khơi. Phải cho tới một ngày tự nhiên không thể dung túng cho loài người hơn được nữa, chúng ta mới quay lại lạy lục cầu xin một con đường sống. Con người chỉ khúm núm trước sức mạnh huỷ diệt của thiên nhiên khi sự tồn vong của mình bị đe doạ. Giống loài nghĩ rằng mình không sợ trời không sợ đất này không hơn không kém một loài ăn cháo đá bát nhưng luôn mặc định mình vượt trội hơn tất thảy các sinh vật khác trong vũ trụ.

Vũ khí mà con người có được chính là sự bền bỉ, trí tưởng tượng và hi vọng. Nhờ có tưởng tượng dẫn lối và định hình một thế giới tương lai chưa có thực, nhờ niềm tin sắt đá vào năng lực của giống loài mình cùng nỗ lực dùng ý chí vượt qua khó khăn, con người đã tạo nên các phi thuyền như một cứu cánh cho loài người bên ngoài vũ trụ và họ đã sống như vậy cả trăm năm. Con người chưa từng một lần giã từ quá khứ, và một trong những thứ họ quyết níu giữ chính là hi vọng vào những điều tốt đẹp. Để lưu giữ những điều tốt đẹp như thế và truyền bá chúng tới muôn đời, loài người sáng tạo ra nghệ thuật. Nghệ thuật nào có phải chỉ để giải trí. Nghệ thuật là cái nôi nuôi dưỡng tâm hồn con người và là con đường nhanh nhất của giáo dục đạo đức cho nhân loại. Không phải là nói quá khi mạnh miệng khẳng định rằng, không có văn học nghệ thuật, con người không là gì hết.

Giao tiếp là một phương thức đặc biệt mà con người sử dụng để kết nối với nhau, và chỉ khi giao tiếp, chúng ta mới tìm kiếm được điểm giao cắt giữa mình với đồng loại, mới có thể đoàn kết và cộng tác, như bao đời nay vẫn thế. Để có thể giao tiếp, có thể dùng tới rất nhiều cách khác nhau, trong đó có ngôn ngữ chữ viết, kí hiệu và ngôn ngữ hình thể. Văn học nghệ thuật chính là sử dụng triệt để các loại hình ngôn ngữ để giao tiếp với con người.

Đọc văn chương để thấy mình chu du tới những miền đất mà cả đời có khi không đủ điều kiện để đặt chân đến, để thấy mở ra trước mắt mình những khung cảnh, những không gian và thời gian, những khuôn mặt người, những cử chỉ dáng điệu, những lao động và tư duy, để nghe âm vang bên tai mình tiếng hát yêu đời của một anh thợ gặt, tiếng cười khúc khích đến là dễ thương của một cô thôn nữ, giọng nói hào sảng và đầy cuốn hút của một vị chủ tiếng, câu đùa hóm hỉnh ngộ nghĩnh của một anh lính trẻ, để giỏng tai mà lắng nghe tiếng suối chảy róc rách, tiếng ào ào thác đổ mưa nguồn. Xem kịch nghệ, xem điện ảnh để nín thở mà nghe như nuốt lấy từng câu thoại, mà lọc bỏ đi hết những thứ rườm rà, gột rửa bằng sạch lớp vỏ bọc bóng bẩy để lộ ra một khối ý tứ, một khối chân tình, để mà rùng mình khi tiếng nhạc cất lên, để lặng người khi nhìn thấy một mảnh đời lướt qua, để rơi nước mắt trước những thân phận mình chưa từng quen biết, ấy vậy lại thân thuộc tới lạ lùng. Thưởng thức một khúc ca để hồn mình hoà vào làm một với hồn người, để tường tận những gì mà thế hệ trước để lại phía sau, để thấm nhuần những xúc cảm khiến người ta run rẩy vì đồng cảm, để gửi vào trong lời ca một chút gì đó vỡ vụn, để đặt vào ca từ một chút gì đó đau thương nhưng đẹp đẽ tới vô ngần. Văn học nghệ thuật trước dạy ta cách làm người, sau bồi dưỡng ta nên người. Thiếu đi văn học nghệ thuật, chúng ta chỉ biết cách nói đúng mà không biết cách nói hay, chỉ biết cách sống đúng mà không biết cách sống tốt. Gạt bỏ văn học nghệ thuật, tức là nghiễm nhiên đem phương tiện có sức mạnh cảm hoá con người và khiến thế giới chúng ta đang sống trở nên mỗi ngày một tốt đẹp hơn ấy bỏ vào thùng rác.

Có thể coi thường các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học xã hội chỉ vì nhìn qua trông họ có vẻ lúc nào cũng thích lí luận chứ không mấy khi trực tiếp bắt tay vào cải tạo thế giới, có thể cho rằng việc thưởng thức nghệ thuật hàn lâm là vô bổ và tốn thời gian, vậy thì cũng có thể chà đạp lên hàng trăm, hàng nhìn những giá trị tốt đẹp và đáng trân trọng khác. Có thể khinh khi mà phát ngôn rằng những người không đứng trong phòng thí nghiệm thì chẳng cần phải vất vả, vậy thì hẳn là chưa từng nhìn thấy cảnh người ta phát khóc vì xúc động khi hoàn thành một tác phẩm văn học, chưa từng tận mắt chứng kiến những diễn viên múa với “bàn chân quỷ” đầy vết thương, chưa từng thấy những giỏi mồ hôi nhỏ xuống phím đàn khi một nghệ sĩ nhiệt huyết với bản nhạc đàn của đời mình, cũng chưa từng đau đớn khi nghe tin về cái chết của một diễn viên vì quá nhập tâm vào vai diễn mà đánh mất chính bản thân. Có rất nhiều người cống hiến tất thảy những gì họ có để góp công sức đúc kết nên bức tượng đài đồ sộ như một di sản văn hoá để con người vỗ ngực tự hào mình có gốc gác, tự hào mình không chỉ tiếp nhận những món quà có sẵn trong tự nhiên mà còn tạo nên phẩm cách của riêng loài người. Những người đã trọn vẹn mấy mươi thập kỉ làm nên điều kì diệu, không phải là để những kẻ không có học thức, nông cạn, phiến diện và bảo thủ coi như cỏ rác.

Những kẻ ngu dốt cho rằng lịch sử, địa lí, văn học và những thứ thuộc về văn hoá không có gì đáng để học và đáng để trọng thì không đủ tư cách nói chuyện cùng con người, chứ đừng nói là lên mặt dạy đời ai. Thật lạ khi có những người cho rằng chỉ có toán học cùng các môn tự nhiên mới có ích cho xã hội. Trước khi là những nhà phát minh, nhà khoa học, người ta phải là con người và để tạo nên một con người hoàn thiện với đầy đủ các phẩm chất để bắt tay vào nghiên cứu, chế tạo bất cứ một thứ gì, con người cần có lịch sử, địa lí, văn chương và khoa học xã hội. Không có lịch sử cùng những bài học kinh nghiệm tích luỹ được suốt hàng ngàn năm, chúng ta sẽ đánh mất cả hiện tại lẫn tương lai, nói không với mọi phát minh, phát kiến bởi một lẽ mọi thứ đều được bồi đắp thêm từ một nền móng vững chắc những gì lớp lớp thế hệ đi trước để lại. Không có địa lí với kinh độ, vĩ độ, chúng ta sẽ mất cả bầu trời, mặt đất và đại dương. Không có văn chương, chúng ta sẽ mất đi phương tiện giáo dục hiệu quả nhất cho lòng yêu nước, lòng nghĩa hiệp, lòng nhân ái, lòng vị tha, sự dũng cảm, tính trung thực và thái độ sống biết trân trọng những gì mình đang có. Không có khoa học xã hội, tức là không có nhân chủng học, khảo cổ học, ngôn ngữ học, tội phạm học, tâm lý học, kinh tế học, luật pháp, chính trị học, xã hội học, không có nhưng yếu tố cần thiết để tổ chức xã hội và giữ trật tự xã hội. Tất cả những gì con người đang có dưới sự thống trị ngu xuẩn chỉ là một tương lai của sự đổ vỡ gần như là chắc chắn.

Một kẻ không biết gì về pháp luật mà dám làm hiến pháp, một kẻ không hiểu về kinh tế học mà dám điều khiển việc giao thương buôn bán, một kẻ coi thường chính trị học lại dám đứng một đầu chiến tuyến trong khi biết rõ đó là lĩnh vực mà phía bên kia đặc biệt thông tuệ, ba kẻ này có thể chỉ là một mà thôi, và chắc chắn sẽ đưa loài người đến chỗ diệt vong, một lần nữa.

Mỉa mai thay, trong nhà tù của Livyatan, mỗi ngày tù nhân đều được đọc tiểu thuyết và nghe nhạc. Họ còn không cần phải vào lồng kính để được sử dụng giấy vẽ và chì màu. Ở khắp mọi ngóc ngách trong nhà tù, người ta nghe thấy tiếng reo vang thích thú như trẻ nhỏ của những người đã từng cầm trên tay súng plasma, giờ đây lần đầu tiên khám phá ra niềm vui khi được cầm cọ vẽ. Chưa bao giờ trong suốt cuộc đời, họ thấy mình học một thứ gì với tốc độ nhanh tới khủng khiếp như vậy cho tới khi ghi nhớ ca từ của một bài hát. Họ đọc những cuốn sách và bật lên những lời cảm kích từ sâu trong lòng khi nhận ra sự tài tình của việc sắp xếp câu từ rồi ngộ ra vẻ đẹp sáng ngời của một con chữ in trên giấy. Họ chạm tay tới một kì quan mà từ trước đến nay dù có ngưỡng mộ cách mấy cũng chỉ biết đứng nhìn từ xa. Những người tù nhân được ban cho cơ hội sống một lần nữa, trọn vẹn hơn, nhiều màu sắc hơn và bình yên hơn. Họ hào hứng mỗi khi đến giờ sinh hoạt chung, vì họ biết mình sẽ được đến gần hơn với thế giới đẹp đẽ trong những vần thơ và những bức hoạ xứng đáng được lưu danh muôn thuở. Họ hồ hởi tập luyện cho các buổi công diễn, vì mặc dù chỉ là ở quy mô nhỏ thôi, nhưng Livyatan thường xuyên tới thăm các nhà tù và người ta thường truyền tai nhau về một giai thoại rằng, có một lần vì những bước nhảy của tù nhân, Livyatan đã đứng lên vỗ tay và cúi gập người để cảm ơn. Những người tù nhân không cảm thấy bị căng thẳng khi ở đây, dù rằng họ đau lòng khi biết ngoài kia vẫn là chiến tranh, là cướp bóc.

Chuyện tương tự chưa từng xảy ra trong giờ lượng tử, trong giờ hoá hữu cơ hay trong bất cứ một tiết học nào về ứng dụng công nghệ. Họ không cần thiết phải ngồi thẳng lưng và nhìn chăm chú vào màn hình, cố gắng tột cùng trong việc tỏ ra mình hiểu hết những gì được dạy nhưng thực chất chỉ là một phần mười số đó. Những người tù nhân được phép chọn tư thế mà mình muốn ngồi hay nằm và tuỳ ý sinh hoạt ở bất cứ vị trí nào trong phòng, chỉ cần khiến họ thấy thoải mái là được.

Ở trong tù mà lại được tự do tự tại, trong khi hoà bình tự do mà Apokalypsis hứa hẹn thì không khác gì một đế chế cầm tù.

Không một ai ở đây lại bị dồn ép tới mức đường cùng mỗi khi nghĩ tới các giờ kiểm tra lượng kiến thức đã thu nhận được. Không có một điều khoản nào trong luật lễ của Livyatan quy định họ sẽ bị xử chết ngay lập tức khi thua kém người khác. Không một WHALE nào phải đánh nhau – mỗi ngày, ý anh là mỗi ngày – chỉ để có cơ hội xem một đoạn băng ghi hình dài chưa tròn một phút ghi lại khoảnh khắc cuối cùng trước khi bị đưa đến pháp trường của người thân, điều mà rõ ràng là chỉ làm bùng lên nỗi hận thù trong lòng họ. Không một SHARK nào phải cặm cụi ngày đêm để chế tạo mọi thứ theo đơn đặt hàng của bộ máy cầm quyền đang nắm thóp mình nữa, họ được quyền độc lập nghiên cứu những gì mình muốn, đọc sách hàng ngày để tiếp nhận tri thức mới mà chắc chắn không được học khi còn ở các phi thuyền trong giai đoạn hậu Apokalypsis. Không một ALLIGATOR nào phải kinh doanh những mặt hàng mà mình thấy ghê tởm, tuân theo lộ trình đầy chết chóc để đi tới các phi thuyền khác mà kiếm vài đồng nuôi thân, liều mạng để có thể được đánh giá là đủ tiêu chuẩn công dân với năng suất lao động hiệu quả. Và đó là cách mà nhà tù của Livyatan đột nhiên trở thành nơi mà người ta muốn đến hơn cả. Họ coi đó như nhà mình trong khi trong mắt những người đang chờ đợi họ nơi “quê nhà”, họ là những tên phản bội.

Phản bội. Vấn đề không phải là phản bội điều gì, mà là điều ấy có xứng đáng với lòng trung thành của mình hay không.

Nội gián, họ có từng nghĩ đến chuyện phản bội tổ chức của mình hay không, nhất là sau khi tận mắt chứng kiến sự mục ruỗng của thứ mà mình được dạy là phải tôn thờ và nhận được quá nhiều tình yêu thương cùng sự tin tưởng ở thế lực bị cho là xấu xa, đê tiện và cần phải bị lật đổ? Điệp viên, họ có từng nghĩ tới chuyện mình đang tiếp tay cho một phe phái không chần chừ huỷ diệt tất cả những gì mình thề sẽ bảo vệ bằng cả mạng sống ngay khi có được thứ mình phải mất rất nhiều thời gian và công sức để tìm về cho thứ có vỏ bọc hào nhoáng – tổ chức? Những người lính phải lên đường ra mặt trận, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, họ có ý thức được mình có thể sẽ không góp phần trong viễn cảnh tương lai tươi đẹp mà họ đã cam đoan chắc chắn như đinh đóng cột trước đó? Những người nghĩ rằng mình đang hi sinh cho vợ chồng, con cái, anh chị em mình, liệu có từng một lần dừng lại và thử nghĩ xem liệu tương lai ấy có thực sự là những gì mà họ mong muốn có được để rồi thấy biết ơn mình vì đã trao cho họ cơ hội được sống hay không?

Điều mà chúng ta cất công chuẩn bị cho người khác, rất có thể bị người đó coi như một lời nguyền. Một đứa trẻ luôn tự trách bản thân nó rằng đáng nhẽ ra nó phải cảm thấy hạnh phúc và may mắn vì được đi học. Nhưng nó chưa từng một lần trong đời thấy hài lòng với những gì mà cha mẹ đã phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, có khi là giành giật của người khác để đem về mớm tận miệng cho nó. Nó muốn học vẽ, người ta giật lấy từ tay nó bảng màu và giấy trắng. Nó muốn học múa, người ta đem giày của nó thẳng tay ném vào đống lửa. Người ta đang huỷ hoại nó từ sâu bên trong chỉ bằng một nguyên do, đó là muốn “tốt” cho bọn trẻ. Họ muốn bọn trẻ có một cuộc sống đủ đầy, hạnh phúc sau khi chúng kiếm được một công việc hứa hẹn với tất cả những bằng cấp, những tri thức chúng lĩnh hội được ở trường. Nhưng tốt cho họ, đẹp mặt cho họ, thoả mãn cái ước muốn bệnh hoạn kiểm soát cuộc đời người khác vì không thể làm điều tương tự với những cơ hội mình có được, hay là tốt cho con cái họ, đẹp lòng con cái họ, thành toàn những khát vọng cháy bỏng mà con cái họ nung nấu suốt thời ấu thơ nhưng lại bị dập tắt một cách không thương tiếc bởi chính những người mà chúng nghĩ là phải thấu hiểu chúng nhất và cho chúng một sự cổ vũ, ủng hộ hết mình?

Dưới thời Apokalypsis, con người luôn bị đe doạ tính mạng bởi hai chữ “yếu kém”. Những kẻ thua thiệt người khác đều bị khép tội tử hình. Người già cả, người khuyết tật, người mang mầm mống bệnh tật, người làm việc kém hiệu quả, và cả những người trẻ tuổi đứng ở các vị trí cuối cùng trong tất cả các môn học đều có tội. Những bậc làm cha làm mẹ, vì thế mà hoảng hốt lo sợ nên lúc nào cũng thúc ép con cái mình phải học, học và học. Họ không muốn mất con, nên họ chẳng còn cách nào khác ngoài việc trở nên cực đoan như thế để đứa trẻ đến cả một chút chểnh mảng hay sa sút cũng không dám. Nhưng thực tế đã chứng minh, không phải đứa trẻ nào cũng chịu đựng được áp lực và theo đúng luật, chúng vẫn phải chết trong nỗi đau đớn, phẫn uất và rồ dại của cha mẹ. Và thực tế cũng đã vạch ra cho họ thấy, rằng để không làm cha mẹ mình thất vọng, để không phải mất mạng, con người phải nói đúng một câu là “không từ thủ đoạn” để lách luật. Chúng hãm hại những đứa trẻ khác để mình có được một vị trí cao hơn, để lấp liếm sự dốt nát và tha hoá bên trong mình.

Để thích nghi và tồn tại, bọn trẻ tự may cho mình hai chiếc áo. Một chiếc vạt trước ngắn hơn năm tấc để lúc cúi mình một cách đê hèn và nhục nhã trước mặt những kẻ cầm quyền thì vạt áo không quết đất. Một chiếc khác, vạt sau cũng bị cắt ngắn đi năm tấc, để lúc ưỡn ngực vênh váo khệnh khạng trước những kẻ bị mình đạp xuống dưới, áo cũng không vì chạm tới đất mà bị làm cho lấm bẩn. Không thể nào nói rằng con người biến thành quái vật chỉ vì những quy luật khủng khiếp của thế giới này được. Vì kể cả khi không có kiểu đánh giá con người thông qua hệ thống xếp hạng này thì trước đó, con người đã là một sinh vật giỏi lường gạt và dối trá rồi. Chúng ta luồn cúi những kẻ bề trên và luôn tìm cách nạt nộ những người bị cho là ở tầng thấp hơn mình như một hệ quả của nếp suy nghĩ mình là bậc tiến hoá cao nhất nên xứng đáng nắm quyền sinh sát trong tay. Từ xưa đến nay, con người vẫn tìm cách trục lợi từ sự đổ vỡ của người khác. Chúng ta bắt người khác phải hi sinh vì mình quá nhiều và coi đó là chính đáng. Giai đoạn hậu Apokalypsis và những người đứng đầu của nó chỉ khiến cho một bộ mặt khác của con người bị phơi bày mà thôi.

Nếu có thể, Shigenis cũng sẽ không đứng về phía Apokalypsis. Nhưng gia đình anh còn ở lại phía bên đó. Gia đình. Hai chữ này thôi, nhưng quá nhiều ràng buộc.

Đọc lại một lần cuối cùng nội dung tờ giấy được kẹp bên trong cuốn sách mà tay quản ngục vừa mới đưa cho mình, anh nhắm mắt lại hồi tưởng các vị trí trọng yếu trong sơ đồ nhà tù rồi lật giở các trang sách, tìm một trang có các chữ mình cần rồi nhanh tay dùng bút khoanh tròn lại. Kẹp cuốn sách vào giữa đống sách vở cùng giấy tờ trên bàn, Shigenis lẩm nhẩm đếm ngược thời gian mình phải ra khỏi lồng kính. Phía bên ngoài, hai tay lính gác đã bị hạ gục, chỉ còn lại tay quản ngục kia đang đứng đợi anh. Chìa tay đón lấy cuốn sách, người kia dõi theo khẩu hình miệng của anh rồi mở sách ra, nhìn lướt qua một lượt rồi gật đầu ra hiệu anh bám sát theo mình. Theo nội dung tờ giấy kia thì xem ra Varolai đã trà trộn vào đây thành công, vì trong đó ghi rõ anh chỉ cần theo chân Varolai ra ngoài là được. Trong hai chữ “gia đình” mà anh lúc nào cũng canh cánh, Varolai cũng xuất hiện và chiếm một vị trí quan trọng trong lòng anh. Nói ra điều này có chút ngượng, nhưng hoặc là người kia không phải Varolai, hoặc là khả năng hoá trang của Varolai đã lên một tầm cao mới khiến ngay cả anh cũng nhận không ra.

Nhanh chân bước theo để không bị bỏ lại phía sau, anh quan sát bóng lưng người kia, không kìm được mà cảm thán trong lòng một câu. Đến cả giả vờ tập tễnh khi không có ai xung quanh ngoài anh mà còn làm được, “chồng cũ” của mình bây giờ quá tài giỏi rồi.

.

Location: Earth 95.

Tong, tong!

Một giọt, hai giọt, dung dịch nhỏ lên tiêu bản.

Tong, tong!

Một giọt, hai giọt, chất lỏng nhỏ vào ống nghiệm.

Một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, Ghost vẫn chưa trở về.

Posted in my johnney, night night

[Oneshot Making Process | On-going | #JohnDo and ?] dystopian: will-o’-the-wisp / the evidence pt.1

5NhVUoG

Author: Trịnh Ánh

Pairing(s): JohnDo (NCT Johnny x Doyoung) and?

Character(s): Varolai (NCT ?), Ghost (NCT ?), ‘?’

Rating: ?

Summary: ?

 

Location: Earth 95.

Dù không nói ra, nhưng ai cũng ngầm hiểu rằng bây giờ nhà Livyatan mới là những kẻ thống trị thực sự. Và phải thú thực một điều, nếu như Livyatan là một con quái vật trong truyền thuyết khiến cho ngay cả ác điểu vần vũ bầu trời hay mãnh thú quần thảo mặt đất cũng phải ghê sợ, thì chắc chắn nó sẽ hút toàn bộ nỗi sợ trong toàn vũ trụ để duy trì sự sống kinh hoàng bên trong cơ thể cường tráng kia. Kì thực, hẳn thức ăn của hắn phải là nỗi kinh hồn bạt vía, vì ở khắp nơi trong vũ trụ và trên các phi thuyền, không một thứ vật chất gì dư thừa hơn nỗi sợ đang từ từ gặm nhấm sức chịu đựng của con người – sinh vật luôn gào thét vì cơn đói quặn thắt như một lưỡi cưa nghiền vụn từng chút một những gì còn sót lại trong cái dạ dày lép kẹp đang có dấu hiệu của một sự teo lại đầy ám ảnh cùng cái đầu nhồi rơm dần dần tỏ rõ sự ngu muội – còn Livyatan thì lúc nào cũng được no say.

Điều khiến cho Livyatan có thể thu phục được rất nhiều người đi theo mình, chính là “đúng”. Hắn nói đúng.

Hắn nói đúng về việc thể chế xã hội đương thời, hay thể chế chưa từng có lấy một sự thay đổi để bắt kịp sự phát triển của con người trong suốt giai đoạn hậu Apokalypsis đang bộc lộ quá nhiều nhược điểm. Con người không thể chấp nhận việc sống như ngày hôm nay không có gì khác biệt so với cuộc sống của thế hệ cha mẹ mình, ông bà mình, tổ tiên mình, tất cả những thế hệ nối tiếp nhau tìm cách gây dựng một mô hình tổ chức, một phương thức tồn tại thách thức cả sự huỷ diệt và rời bỏ Trái Đất. Trước đây, con người cần nhất là sự an toàn, và tất nhiên, mặc dù tình dục cũng là một trong các nhu cầu này, nhưng bản năng sơ khai ấy đã tỏ rõ sự lép vế trước nhu cầu có một sự đảm bảo về thức ăn, nước uống, phục trang, nơi cư trú, thuốc men. Sau khi những khía cạnh này đã được coi là tương đối đủ đầy, con người bắt đầu hướng tới những nhu cầu cao hơn, có sức khoẻ, thân thể được đảm bảo, có việc làm ổn định, có một gia đình. Kể cả khi không cần phải thực hiện việc sinh sản nữa do đã có máy thụ tinh nhân tạo – thứ vẫn luôn được đem ra đùa cợt như là nhà máy sản xuất trẻ con cỡ nhỏ – thì con người vẫn khát khao gắn bó với một ai đó và cùng người khác sẻ chia vui buồn. Nhưng những người đứng đầu không đưa ra bất cứ một cải cách nào.

Con người bị cấm đoán về hôn nhân để có thể tập trung toàn lực cho lao động để đảm bảo cuộc sống và nâng cấp hệ thống phi thuyền. Họ được quyền quan hệ tình dục, thậm chí có hẳn một khu vực để phục vụ cho nhu cầu này. Thế nhưng, họ phải uống thuốc tránh thai, luật này áp dụng cho cả nam lẫn nữ. Lí do được chính phủ đưa ra chính là những người đang mang thai không thể làm việc trong các phòng thí nghiệm hay nhà xưởng, khiến cho nhân lực thị thiếu hụt và giảm năng suất công việc. Hơn thế nữa, để kiểm soát việc quan hệ được điều độ và trong khuôn khổ, mỗi người chỉ được ra vào khu vực này tối đa ba lần trong một tuần.

Thôi thì dù sao, nhu cầu của con người cũng không chỉ xoay quanh tình dục, vả lại mọi người cũng đã quen với việc làm việc cường độ cao nên không dành nhiều sự quan tâm cho đời sống cá nhân, cho nên một chút khắt khe về phương diện này không làm khó họ được. Nhưng chính phủ đã tỏ rõ sự bất lực của mình trong việc điều hành nhà nước và quản lý toàn bộ hệ thống vốn đã cực kì cồng kềnh của mình. Họ không biết phải triển khai các kế hoạch duy tân ra sao, nên họ chấp nhận để mặc mọi thứ như vậy. Và thực tế đã chứng minh, mọi cỗ máy đều cần được tra dầu và thay đổi linh kiện định kì, nếu không thì dù có hiện đại đến đâu, chúng cũng sẽ hỏng hóc.

Con người luôn có một nhu cầu, đó là được sáng tạo và thể hiện bản thân, bên cạnh đó là nhu cầu thưởng thức văn học, nghệ thuật cùng nhu cầu giải trí. Dưới thời hậu Apokalypsis, con người được khuyến khích sáng tạo để kiến thiết một mạng lưới đồ sộ các phi thuyền và tàu không gian, mạng không dây cũng được cải tiến liên tục, các thiết bị cũng không hề bị tụt hậu, công nghệ ngày một phát triển. Nhưng việc được công nhận giá trị của bản thân lại không hề được chú trọng. Mọi phát minh, phát kiến đều được ghi lại trong hệ thống, nhưng không hề xuất hiện tên riêng của bất cứ một ai. Không một ai cả. Bộ luật cực kì hà khắc về bảo mật tên riêng đã khiến cho nhiều nhà khoa học đau đớn khi tên mình không được đặt một cách trang trọng bên cạnh những thành quả tuyệt vời mà họ đã đạt được. Dùng chung một cái tên với cha mình, anh trai mình, em trai mình, và thế là không một ai biết được chính mình – chứ không phải một ai khác – là chủ nhân của những sản phẩm mà nhiều thế hệ sau vẫn còn sử dụng. Không một giải thưởng nào được trao để khích lệ, cổ vũ tinh thần họ. Ban đầu, họ vẫn rất hăng say, miệt mài nghiên cứu với mục tiêu khiến cuộc sống của con người bớt phần chật vật. Tuy vậy, không một ai lầm lũi cống hiến cả đời như vậy được. Ngay khi đời sống tinh thần không được chăm lo, con người sẽ mất đi thú vui hưởng thụ cuộc sống. May mắn thay, con người có nghệ thuật. Không may thay, trong thời hậu Apokalypsis, nghệ thuật chết yểu.

Hắn đã nói đúng về việc ở đây, con người có tồn tại nhưng không sống, mà kể có có được sống thì cũng không thấy hạnh phúc. Không âm nhạc, không hội hoạ, không điêu khắc, không kịch nghệ, không điện ảnh, không múa, không nhảy, không ảo thuật, và không văn chương, tức là không thơ, không truyện ngắn, không tiểu thuyết. Toàn bộ sách được lưu hành trên các trang mạng mà công dân trên các phi thuyền được truy cập chỉ có các tài liệu nghiên cứu khoa học. Các môn khoa học xã hội không được chú trọng, không có gì mới lạ vì từ trước đến nay, các học giả thuộc lĩnh vực này đều bị cho là vô dụng, không có đóng góp gì cho xã hội mà chỉ giỏi lí thuyết suông. Tuy vậy, việc xoá bỏ không còn một dấu vết các tác phẩm có giá trị đã được lưu giữ từ hàng ngàn đời trước và cấm đoán con người giải trí đã khiến sự bất mãn mỗi lúc một dâng cao. Như một lẽ tất yếu, con người phản kháng. Đánh trúng tâm lí ấy, không khó khăn để Livyatan có một đội quân hùng hậu kề vai, sẵn sàng vì mình mà chiến đấu. Những người đó cho rằng, chiến đấu dưới trướng Livyatan đồng nghĩa với đứng lên giành lại quyền cơ bản của mình: quyền được sống thật tử tế.

Hắn cũng đã nói đúng, khi chỉ ra cho tất cả thấy rằng họ đang sống một cuộc đời vô nghĩa ra sao. Cứ như thể chỉ riêng việc không sống trên mặt đất chưa đủ khó khăn vậy. Mọi thú vui đều bị dập tắt. Những đứa trẻ sinh ra trong những chiếc máy tạo trẻ con kia chỉ có thể ngắm nhìn cuộc sống trên Trái Đất thông qua những thước phim tư liệu được lưu trữ trên hệ thống máy tính và tưởng tượng mình đạp xe trên đường vào những ngày chớm thu, bước đi thật nhanh trên phố vào một sáng mùa đông lạnh tê tái, hân hoan ngắm nhìn một bông hoa nở rộ trong tiết mưa phùn lất phất ngày xuân, chạy trên bãi cát hay nằm dài bên bờ biển vào một chiều hè đầy nắng và gió. Chúng hình dung ra những lớp học với dãy bàn ghế chạy dài, khi mà người ta vẫn dùng tới bảng và phấn. Chúng mường tượng ra những buổi hoà nhạc, những vở kịch nói, những dàn nhạc giao hưởng mà có lẽ cả cuộc đời sẽ không bao giờ chúng được tận mắt nhìn thấy. Chúng hạnh phúc khi nghĩ đến những món đồ chơi từ lâu đã không còn tồn tại trong thế giới mà mình biết đến. Chúng vui vẻ khi nhìn ra bên ngoài các khung cửa rồi tự huyễn hoặc bản thân rằng ngoài kia không phải chỉ có bao la mịt mù và vô biên vũ trụ, mà là bầu trời. Một bầu trời xanh và những đám mây trắng bông như lông cừu, lại một khung cảnh chúng không có cơ hội biết đến, lại một loài vật chúng chưa nhìn thấy một lần nào.

Chúng mê mẩn những vì sao cùng sự tráng kiện của mênh mông bể sở quanh mình. Chúng thích thú với những tri thức mà chúng được học về thế giới bên ngoài phi thuyền, và luyện tập chăm chỉ trong điều kiện khắc nghiệt với những tiêu chuẩn trời ơi đất hỡi để một ngày kia được tròng bộ đồ bảo hộ lên người mà dạo chơi trong không gian. Nhưng chúng cũng đem lòng yêu một thế giới tuyệt đẹp của cha ông chúng. Mặc dù Trái Đất với chúng thật xa lạ và không hơn không kém một hành tinh đã không còn tồn tại, nhưng bên trong chúng, hình như vẫn cuồn cuộn ý thức của thế hệ đi trước. Trái tim chúng và trái tim của tổ tiên, từ xa xưa đã chung một nhịp đập, nên chúng biết yêu ngay khi mới lọt lòng, yêu lấy con người, yêu lấy sự sống, yêu lấy thế giới. Chỉ tiếc một điều, chúng từ chối hiểu rằng không ai có thể sống trong thế giới ấy thêm một lần nào nữa. Điều này không phụ thuộc vào việc chúng muốn hay là không, rồi chúng tài giỏi tới đâu, thông minh cỡ nào. Mọi thứ dường như đã biến mất chỉ sau một đêm, và chúng không thể làm gì để thay đổi sự kiện ấy. Will-O’-the-Wisp, hay hậu Apokalypsis, hay El Demonio Negro, đều chỉ là một sự vớt vát của con người bằng cách nhặt nhạnh những mảnh vụn của một hành tinh đã vỡ tung thành từng mảnh và cố gắng ráp chúng lại với nhau rồi hú hoạ rằng đó là Trái Đất mà họ từng biết.

Tất cả những gì còn sót lại, là những lồng kính có lắp đặt các nút điều khiển. Con người chui vào trong đó và tự lừa mình dối người, rằng mình vẫn có thể tắm mình trong ánh nắng hay xoè bàn tay hứng lấy những bông tuyết bay bay trong không gian chỉ để bẽ bàng nhận ra mọi thứ đều xuyên qua bàn tay mình. Đồ hoạ, thực tế ảo, một xã hội hiện đại với công nghệ phát triển, mọi thứ đều thông minh, duy chỉ có con người là ngu ngốc.

Những bộ luật nực cười đã không còn khiến người ta thoả mãn, một thế giới đầy sự kìm kẹp tới mức ngột ngạt và khó thở gây nên sự chán chường cùng thất vọng của chính những người đã một thời hài lòng chấp hành nó, tuân theo nó, và có khi là cả những ai đã có công tạo ra nó. Không còn nghi ngờ gì khi nói rằng Livyatan sẽ không bao giờ lôi kéo được nhiều người tới như vậy nếu thiếu đi sự mục ruỗng của xã hội này. Một xã hội tồn tại trên những phi thuyền, nơi bọn trẻ hoàn toàn mất đi khái niệm về các phương tiện giao thông vì thứ duy nhất mà chúng biết là tàu vũ trụ, nơi mà mỗi khi ra khỏi “nhà”, người ta lập tức phải mặc đồ bảo hộ nếu như không muốn bị xé nát bởi chênh lệch áp suất bên trong và bên ngoài cơ thể, bị chọc thủng cho mấy lỗ trên người vì các vật thể dịch chuyển với vận tốc đúng nghĩa là “không gì cản nổi”, bị đóng đá như cá đông lạnh ở mức nhiệt -270 độ C, hay thiếu dưỡng khí mà chết, hoặc nhiễm xạ từ các tia vũ trụ rồi bị chính các tia ấy nấu cho chín nhừ để được chết một cách thảm thương hơn.

Một xã hội mà các môn học tự chọn được đưa vào chương trình giáo dục là Toán học, Vật lý ứng dụng, Vật lý hạt nhân, Cơ học lượng tử, Hoá học lập thể, Địa chất học hành tinh, Công nghệ sinh học, Di truyền học, Sinh lý học, Giải phẫu học, Khoa học thần kinh, Y học, Kĩ thuật hàng không vũ trụ, Kĩ thuật máy tính, Công nghệ phần mềm và chỉ có hai ngành duy nhất thuộc nhóm khoa học xã hội là Nhân chủng học và Ngôn ngữ học. Không một môn năng khiếu nào, ngoại trừ thể dục hay đúng hơn là huấn luyện bọn trẻ trở thành những vệ binh dải ngân hà, và chỉ cần tỏ ra yếu kém, chúng sẽ bị khép tội. Tất nhiên, không phải tử hình. Nhưng chúng sẽ phải làm việc trong các xưởng chế tạo vũ khí và tàu vũ trụ hơn tám giờ đồng hồ, mỗi ngày, nếu như không đủ khả năng chen chân vào các phòng thí nghiệm hay chiếm được một cái ghế trong Hội đồng.

Một xã hội với hình thái, cơ cấu, thiết chế cần được cải tổ, và muốn có một cuộc cải tổ thì trước đó phải có một cuộc cách mạng.

Nhét đồng xu vào khe hở trên máy rồi đặt ngón trỏ lên máy quét dấu vân tay, người đàn ông dõi mắt nhìn lên màn hình trước mặt mình vụt sáng. Một người phụ nữ xuất hiện trên màn hình. Phía sau lưng bà, có thể nhìn thấy ánh sáng cuối cùng của một ngày đương bước vào thời khắc tàn lụi. Héo hắt, mỏi mòn và tang tóc, những nếp nhăn trên khuôn mặt bà mỗi lần hiện lên trên màn hình lại như mỗi lúc một hằn sâu. Nụ cười đông cứng lại, miệng cũng méo xệch đi, xiêu vẹo đi, và rồi nước mắt ứa ra. Nước mắt bà lăn dài trên má, nhỏ tong tỏng xuống cả cằm. Không buồn lau nước mắt, bà mấp máy môi nói ba tiếng “Mẹ yêu con” rồi gượng gạo vẫy tay chào tạm biệt với máy quay. Nhìn ra vai bà, nắng đã tắt hẳn. Hay nói đúng hơn, bà đã nhấn nút tắt ứng dụng thực tế ảo bên trong lồng kính. Hình ảnh người phụ nữ mờ dần đi rồi biến mất, để lại màn hình tối đen đang hiện lên hàng loạt các con số, là ngày sinh và ngày mất, hẳn là của người phụ nữ. Không ai muốn nhìn thấy ngày mẹ mình qua đời cả. Lướt mắt nhìn qua các con số, anh giật thót mình, vội vàng quảnh mặt đi.

Bặm môi, anh đưa tay lên quệt khoé miệng. Máu. Đến bây giờ anh vẫn có thể cảm nhận được mùi máu tanh trong miệng mình. Để có được đồng xu kia và xem lại đoạn băng ghi hình giây phút cuối cùng của mẹ mình, người đàn ông đã phải thể hiện mình là người xứng đáng nhất. Hạ gục người khác. Đánh bại họ. Đo ván những người khát khao được một lần nữa nhìn thấy khuôn mặt cha mẹ mình, anh chị em mình, vợ chồng cùng con cái mình. Đè bẹp họ cùng niềm tin và hi vọng của họ. Để có được cơ hội, cần phải chớp lấy thời cơ. Những kẻ thất bại luôn do dự vào giây phút quan trọng nhất, và sơ hở cũng từ đó mà lộ ra. Đúng lúc đó, chỉ cần một cú gạt chân, một cú đánh móc thôi, đối thủ sẽ buộc phải cúi đầu chịu thua.

Đạp lên người khác để tồn tại, không phải là chiếm vị trí của người khác, mà là giành lấy chỗ đứng cho mình. Thực ra, nói vòng vo như vậy cũng chỉ là để giảm bớt cảm giác tội lỗi trong lòng mà thôi. Anh không cho phép mình chần chừ mỗi khi ra đòn, cho nên không được để lương tâm chịu cắn rứt với ý nghĩ mình đang tước đi của người khác một thứ gì đó. Áy náy, hối hận, suy cho cùng cũng chẳng để làm gì. Bởi vì dù có thế nào đi chăng nữa, nếu cho anh cơ hội lựa chọn lần nữa, anh cũng không ngại ngần giáng xuống một cú đấm dùng nhiều lực hơn và chuẩn xác hơn, để đối thủ ra đi trên võ đài chứ không phải là bị quy vào tội tử hình vì không-đủ-năng-lực.

Không đủ năng lực là một đòn hiểm hóc. Nó đánh thẳng vào lòng tự trọng và cướp đi một người đàn ông của gia đình. Người đàn ông trở về từ trận so găng không còn là anh ta của trước đây nữa. Có thể trong mắt mọi người, anh ta vẫn là một đặc vụ kì cựu, một cảnh sát đặc nhiệm khiến người khác kiêng dè, một nhân viên tình báo chưa từng để cho bất cứ ai lần ra danh tính thật của mình. Thế nhưng anh ta biết rõ hơn bất cứ ai, mình đang dần trở thành một con người khác. Bạo lực hơn, độc đoán hơn, tàn nhẫn hơn, nhưng cũng bền bỉ hơn, can trường hơn, gan dạ hơn. Anh đang chiến đấu trên mặt trận của riêng mình, cho nên anh nhất định sẽ không đầu hàng. Đầu hàng là chết.

Từ lúc biết tin mình sẽ không được tham gia vào nhiệm vụ tình báo lần này, anh ở lại Earth 95 – tức phi thuyền của mình – trong tâm trạng không mấy vui vẻ. Như một lẽ tất yếu, anh muốn được làm công việc mà mình giỏi nhất. Trà trộn vào giữa lòng kẻ thù, chiếm lấy lòng tin của chúng và đem tin tức có lợi về cho phe mình. Anh đã vượt qua mọi thử thách, mọi bài kiểm tra nói dối, nhưng phải nhận nhiệm vụ ở lại đây để nhận thông tin tình báo trong khi hoàn toàn có thể đặt chân lên một phi thuyền khác và đảm đương trọng trách không phải ai cũng làm nổi này. Từ sâu bên trong anh là cảm giác bức bối. Anh thấy mình không được trọng dụng, và không tài nào hiểu nổi vì cớ gì mà mình lại không được chọn. Càng nghĩ càng thấy khó chịu trong lòng, anh đến phòng tập nhiều hơn, thử hết một loạt các loại vũ khí, ngày đêm không ngừng nghỉ những muốn chứng tỏ mình xuất sắc hơn người khác, nhưng vẫn cứ phải thất thểu đi đi lại lại trong phi thuyền như người mất hồn.

Livyatan đã chiếm được ba phi thuyền và đang chuẩn bị tấn công các phi thuyền khác. Một ngày nào đó, hắn ta sẽ đưa quân của mình lên Earth 95, và họ buộc phải sẵn sàng cho mọi tình huống xấu nhất có thể xảy đến. Ở thời điểm này, thông tin tình báo đặc biệt quan trọng, thành ra anh đã phải thuyết phục bản thân rằng mình cũng đang đảm đương một phần của công việc nan giải này, nhưng thi thoảng, nỗi uất ức lại trào dâng. Nếu anh không đủ khả năng thì đã là chuyện khác, nhưng đằng này, tính theo bảng xếp hạng hiện tại, anh đang ở vị trí cao nhất trong số các điệp viên hai mang. Tất nhiên, bảng xếp hạng này chỉ có nội bộ nhân viên tình báo của Earth 95 được biết, nhưng như vậy cũng đã đủ để mọi ánh mắt đổ dồn về phía anh khi nhận ra anh vẫn quanh quẩn trong phòng thường trực. Họ thương hại anh, bất bình thay anh, nhưng cũng đưa ra những phỏng đoán về lí do anh không nhận một nhiệm vụ cụ thể nào, nói chung là họ đang làm những điều anh chúa ghét ngay trước mặt anh. Và họ biết là anh ghét điều ấy.

Một tuần nay, anh gần như ngày nào cũng tới đây. Chỉ khi ở đây, anh mới cảm thấy mình được là mình. Những cơn đau trên thân thể rồi cũng sẽ dịu đi, nhưng lòng anh lúc nào cũng như có lửa đốt. Nỗi căm phẫn đối với chế độ, nỗi đau mất người thân chưa từng một lần nguôi ngoai, giờ lại chồng chất thêm nỗi tức tưởi khi bị xem thường, bị coi như món đồ thải loại, người ta không cần nữa thì người ta ném ra một góc. Nghiến chặt răng, anh rút súng đeo bên hông ra, xoay người hướng thẳng về phía cửa ra vào.

Trần đời, ghét nhất đang suy nghĩ thì có người cứ nhìn chằm chằm vào mình.

Người đang đứng ở cửa lập tức giơ hai tay lên tỏ ý xin hàng, khoé miệng khẽ nhếch lên thành một nụ cười.

“Varolai, anh không ngại bỏ súng xuống rồi chúng ta cùng nói chuyện chứ?”

Nhìn người kia một lượt từ đầu tới chân, nhận thấy trên người không có chỗ nhét súng, chỉ có điều con dao găm mà đối phương nhét trong tất chân khiến anh không thể lơi là cảnh giác. Tự do ra vào khu vực này như vậy, lại có sinh trắc để mở cửa, chắc chắn không phải hạng xoàng xĩnh. Trang phục không có gì nổi bật, không để lộ thân phận hay cấp bậc, chiều cao trung bình, kiểu tóc phổ thông. Một người quá bình thường giữa tất cả những kẻ không bình thường trên phi thuyền này, cho nên trong mắt anh và rất nhiều người khác, người đang đứng trước mặt anh lúc này hoàn toàn không được tính là bình thường. Thậm chí, đối diện với một người như vậy lại càng không được khinh suất, nếu không bất cứ lúc nào cũng sẽ bị đánh một vố đau. Trên đời này, đáng sợ nhất là những người không cần cố gắng cũng tìm ra cách để không trở nên quá nổi bật trong đám đông. Người đó đi đứng như mọi người, nói năng như mọi người, ăn vận không khác gì mọi người. Nhưng chỉ cần tập trung quan sát, người khác sẽ phải sững sờ nhận ra từ trước đến nay mình luôn bị một cặp mắt âm thầm dõi theo mà không hề hay biết, luôn vướng vào những sự vụ mà ai cũng nghĩ chỉ là tình cờ, và kẻ đứng sau tấm màn ấy không ai khác ngoài kẻ hết mực bình thường kia.

Varolai cười khẩy một tiếng rồi tháo chốt an toàn. Bây giờ, súng đã sẵn sàng nhả đạn. Người kia, chỉ xét riêng về ngoại hình thôi cũng đã đủ để trở thành một nhân viên tình báo. Đừng nghĩ rằng một điệp vụ phải có ngoại hình khiến tất cả chú ý. Khiến người khác chú ý tới mình, hành tung càng dễ bị bại lộ.

Thấy anh có vẻ không chào đón mình, người kia thở dài đánh thượt cứ như ủ ê lắm rồi nói bằng giọng buồn buồn, nhưng nghe sao cũng ra ý giễu cợt vô cùng lộ liễu:

“Kìa Varolai, đừng như vậy chứ. Anh vẫn nợ tôi một lần mà, hẳn là anh chưa quên được đâu, nhỉ?”

“Có chuyện gì thì nói nhanh đi,” Kéo chốt an toàn, Varolai nhét súng vào bao đeo bên hông rồi phủ vạt áo xuống che đi, bình thản đáp trả như thể những gì người kia sắp nói chẳng hề hấn gì đến mình. “Tôi không có cả ngày cho anh đâu, Ghost.”

.

Location: Earth 95.

Bật rồi tắt, tắt rồi bật. Con ngươi chuyển động theo từng khung hình lướt qua trước mắt. Suốt hơn một giờ đồng hồ, không gì có thể khiến y rời mắt khỏi hình ảnh ba chiều phát ra từ chiếc máy nhỏ xíu đã cũ kĩ tới mức phải liên tục giữ tay trên nút bấm để hình ảnh không thình lình tắt ngấm. Bật rồi tắt, bật rồi tắt. Trước mắt y, cả một khu rừng đang cháy ngùn ngụt. Lửa bốc lên, gió càng mạnh, lửa càng to. Lửa liếm vào thân cây, lửa cắt phăng những cành, lửa vặt trụi những lá. Lửa căm hận, lửa thiêu đốt, lửa giết chết tất thảy. Bật rồi tắt, bật rồi tắt. Sóng từ ngoài khơi nối tiếp nhau xô bờ, vội vã, vội vã, ì oạp, ì oạp, sóng nối sóng, sóng tiếp bờ. Sóng lên cao, lên cao mãi, cao tới mức không tưởng. Sóng nào có còn là con sóng nhỏ của ngày xưa nữa. Từ trong lòng biển, mặt đất bị xới tung, rạn vỡ, nứt toác. Từ trong tim biển, sóng cuộn trào. Sóng muốn hất tung tất cả, sóng muốn con người phải vì sóng mà đảo điên. Bật rồi tắt, bật rồi tắt. Một đứa trẻ bị nghiền nát trên đường tàu. Bật rồi tắt, bật rồi tắt. Xác chết được đặt nằm vắt ngang trên lưng ngựa. Ngựa chạy trên thảo nguyên. Ngựa hí. Ngựa hất tử thi trên lưng rồi vùng lên chạy. Ngựa bị mùi hôi thối làm cho quẫn, làm cho đau đớn. Ngựa điên.

Bật rồi tắt, bật rồi tắt.

Ghost nói rằng sẽ sớm quay về.

Bật rồi tắt, bật rồi tắt.

Ghost đã đi ba ngày rồi.

Posted in my johnney, night night

[Oneshot Making Process | On-going | #JohnDo and ?] dystopian: will-o’-the-wisp / the background

apocalyptic-scenario

Author: Trịnh Ánh

Pairing(s): JohnDo (NCT Johnny x Doyoung) and ?

Character(s): ?

Rating: ?

Summary: ?

dystopian: will-o’-the-wisp – the background

Lịch sử được chia thành nhiều “thời kì”, mỗi thời kì là một giai đoạn xác định có thể đi đến sự kết thúc và được thay thế bởi một thời kì mới với những thực thể khác biệt. Cho nên, thay vì sử dụng cụm từ “sự kết thúc của thế giới”, chúng ta nên nói rằng đó là “sự kết thúc của một thời kì”. Thuyết tận thế không bàn nhiều về “sự kết thúc thời gian” mà là về sự kết thúc của một giai đoạn xác định, sự kết thúc của sự sống như hiện tại, và bắt đầu một giai đoạn mới. Nó thường là một khủng hoảng dẫn đến sự kết thúc của thực tại và mở ra một hướng mới cho sự sống, suy nghĩ hay bản thể. Sự khủng hoảng này có thể mang hình thức là một sự can thiệp của một vị thần trong lịch sử, một cuộc chiến tranh, một sự thay đổi trong môi trường hoặc ý thức đạt được một cấp độ mới.

Nếu kết quả đạt được là một thế giới tốt đẹp hơn thì gọi là “không tưởng”, tức utopian, nếu tồi tệ hơn thì gọi là “phản-không tưởng”, tức dystopian.

.

Trái Đất là một hành tinh rất đặc biệt. Không phải ngẫu nhiên mà trong toàn vũ trụ, kể cả có coi thường sự yếu ớt của sinh vật đang làm chủ Trái Đất là con người đến mấy, hành tinh nào cũng phải dành cho Trái Đất một sự kiêng dè nhất định. Bởi một lẽ, đây là hành tinh duy nhất có tới sáu lần suýt chút nữa đi đến ngày tận diệt nhưng tương ứng với đó là sáu lần trỗi dậy mạnh mẽ. Không một hành tinh nào trong vũ trụ vượt qua được tới sáu cuộc Đại Tuyệt chủng mà vẫn còn tồn tại sự sống cho tới tận ngày hôm nay, và Trái Đất là một ngoại lệ.

Cuộc Đại Tuyệt chủng đầu tiên, hay còn được người Trái Đất gọi là Tuyệt chủng Ordovic – Silur xảy ra cách đây khoảng 550 triệu năm. Hàng loạt nhiều cuộc tuyệt chủng liên tiếp xảy ra cuốn phăng đi 17% số họ và 50% số chi khiến Đại Tuyệt chủng Ordovic – Silur trở thành cơn ác mộng đầu tiên trên Trái Đất. Nguyên nhân dẫn tới cuộc Đại Tuyệt chủng nhận được nhiều sự đồng tình hơn cả là vụ nổ tia gamma của một ngôi sao gần Trái Đất khiến cho carbon dioxide trong khí quyển sụt giảm mạnh. Cuộc Đại Tuyệt chủng này đã tạo ra một thời kì băng hà ước tính là kéo dài tới hơn 1,5 triệu năm.

Cuộc Đại Tuyệt chủng thứ hai được đặt tên là Tuyệt chủng Devon, bắt đầu khoảng 460 năm trước đây, tức là ngay trước thời kì chuyển giao từ Kỷ Devon sang Kỷ Thạch Thán, hay còn được biết đến là Kỷ Carbon. Các bằng chứng khảo cổ cho thấy, các cuộc tuyệt chủng liên hoàn đã diễn ra ít nhất 20 triệu năm. Ước tính có khoảng 19% số họ, 50% số chi và 70% số loài đã bị tuyệt diệt trong cuộc tuyệt chủng này. Trước khi bước vào thời kì này, lục địa là mảnh đất của thực vật bậc thấp và những loài côn trùng đầu tiên, còn dưới đại dương, các loài san hô khổng lồ đang chiếm ưu thế, các loài cá cũng đang trong quá trình tiến hoá. Theo các nhà cổ sinh học, một thiên thạch có đường kính lớn đã có một cú va chạm với Trái Đất, gây nên những đợt sóng thần, tàn phá hệ sinh thái bờ biển, đồng thời gây ra những biến động và xáo trộn ở các tầng biển sâu. Một nguyên nhân khác cũng được đưa ra, đó là sự phát triển của thực vật đã làm suy giảm lượng carbon dioxide, khiến khí hậu lạnh hơn và nhiều loài không kịp thích nghi nên bị loại bỏ.

Cuộc Đại Tuyệt chủng thứ ba được cho là khủng khiếp nhất trong lịch sử khi tuyệt diệt phần lớn sinh vật trên địa cầu và thiết lập lại gần như toàn bộ sinh giới. Tuyệt chủng Permi – Trias đã khiến 90% sinh vật biển và 70% sinh vật trên cạn bị xoá sổ hoàn toàn. Các bằng chứng khảo cổ cho thấy, nguyên nhân chính của hiện tượng trên là do sự vận động kiến tạo mạnh mẽ của lớp vỏ Trái Đất, gây nứt gãy và dồn nén các mảng lục địa. Sự phun trào magma lên bề mặt Trái Đất đã nhấn chìm tất cả trong biển lửa. Bên cạnh đó, bụi và khí carbonic tràn ngập không khí, gây “hiệu ứng nhà kính” khiến Trái Đất trở nên nóng hơn bao giờ hết. Dưới đại dương, các dòng hải lưu thay đổi đã làm biến mất nhiều hệ sinh thái. Một nguyên nhân khác được cho là góp phần gây ra vụ đại tuyệt chủng đẫm máu này là sự va chạm của thiên thạch có bán kính 500km với Trái Đất. Vết tích của vụ va chạm này được tìm thấy ở Nam Cực vào năm 2006 bởi các nhà khoa học thuộc trường Đại học Tiểu bang Ohio, Hoa Kỳ.

Cuộc Đại Tuyệt chủng thứ tư đánh dấu sự chuyển giao từ Kỷ Tam Điệp (Kỷ Trias – kỷ mở đầu cho thời kì Đại Trung Sinh) và Kỷ Jura xảy ra cách đây chính xác 299,6 triệu năm, gọi là Tuyệt chủng Trias – Jura. Khoảng 23% số họ, 48% số chi đã bị tuyệt chủng, bao gồm nhiều loài động vật có xương sống trong đại dương và bò sát biển ngoại trừ thằn lằn cá và thằn lằn chân chèo. Các động vật không xương như ngành tay cuốn, ngành thân mềm, lớp lưỡng cư và đặc biệt là bò sát phụ lớp thằn lằn cổ – trừ khủng long – ở đất liền cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Sự kiện tuyệt chủng đã loại bỏ nhiều loài động vật lớn trên Trái Đất, tạo điều kiện cho khủng long thống trị hành tinh suốt Kỷ Jura và Kỷ Phấn Trắng (Kỷ Creta). Khủng long làm chủ toàn bộ mặt đất, trong khi đó các vùng nước ngọt là địa phận của tổ tiên loài cá sấu ngày nay (thuộc lớp phụ thằn lằn), nhóm thằn lằn cổ rắn và thằn lằn cá trở thành bá vương biển cả. Các nghiên cứu đã chỉ ra khoảng thời gian cuộc tuyệt chủng diễn ra và vụ va chạm của sao băng tạo nên hồ Manicouagan tại Canada. Bằng chứng này cho thấy, có thể chính vụ va chạm là nguyên nhân trực tiếp khơi mào cuộc tuyệt chủng này.

Cuộc Đại Tuyệt chủng thứ năm xảy ra vào cuối Kỷ Phấn Trắng cách đây 166,5 triệu năm có tên Tuyệt chủng Creta – Paleogen đánh dấu sự kết thúc của Đại Trung Sinh và bắt đầu Đại Tân Sinh bằng Thế Cổ Tân (Thế Paleogen). 17% số họ, 50% số chi và 75% số loài đã bị tuyệt chủng. Các nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng sự kiện tuyệt chủng này là do một hoặc nhiều thảm họa đồng thời gây ra, như sự tác động mạnh mẽ của các thiên thạch đã tạo nên các hố Chicxulub ở Mexico, Boltysh ở Ukraina hoặc do mực nước biển tụt xuống, núi lửa phun trào mạnh mẽ tạo ra hiện tượng “bẫy Deccan” (phun trào magma) tàn phá nghiêm trọng sinh quyển Trái Đất. Các sự kiện địa chất đó đã làm giảm lượng ánh sáng và mức độ quang hợp, dẫn đến sự phá hủy hệ sinh thái Trái Đất trên quy mô lớn, khí hậu khô hơn, chuỗi thức ăn cũng bị phá vỡ. Khủng long là loài động vật có xương sống bị ảnh hưởng đầu tiên khi môi trường thay đổi, sự đa dạng loài giảm đáng kể. Cùng với đó, một số loài thực vật, động vật không xương sống cũng biến mất trên Trái Đất, tạo điều kiện cho lớp thú phát triển và dần chiếm ưu thế.

Cuộc Đại Tuyệt chủng thứ sáu, được biết đến với cái tên Tuyệt chủng Holocen – Will-O’-the-Wisp, chính thức kết thúc mọi sự sống trên Trái Đất. Ngoại trừ một bộ phận nhân loại và cùng sinh vật mà chủ yếu là gia cầm và gia súc đã kịp thời trốn thoát bằng các tàu không gian và tiếp tục cuộc sống của mình bằng cách “trôi nổi” ngoài vũ trụ, tất cả các giống loài khác đều bị tuyệt chủng cùng với sự kết thúc của Trái Đất. Thời kì Will-O’-the-Wisp mở ra, và các tàu không gian chính là hi vọng cuối cùng của cả loài người trước khi tìm kiếm được sự sống trên các hành tinh khác. Đến đây, có rất nhiều người tự hỏi vì sao người Trái Đất không tìm đến Sao Hoả, vốn trước đó được cho là có tồn tại các điều kiện đủ để sinh tồn. Để trả lời cho câu hỏi này, người ta cần nhìn vào nguyên nhân dẫn đến cuộc tuyệt chủng này.

Trái Đất là nơi thích hợp nhất để duy trì sự sống của con người và nhiều loài sinh vật là nhờ vị trí của hành tinh này với Mặt Trời. Trong lõi của Mặt Trời, nhờ có hiệu ứng dây chuyền proton – proton, quá trình tạo ra năng lượng bằng cách tổng hợp hạt nhân hydro thành heli đã diễn ra. Do lõi Mặt Trời không có đối lưu, heli chỉ tập trung tại khu vực này chứ không thể phân bố ra toàn bộ ngôi sao. Thêm vào đó, nhiệt độ ở đây lại không đủ cao để tổng hợp hạt nhân các nguyên tử heli bằng quá trình ba hạt alpha nên chúng không thể tạo ra năng lượng cần thiết để duy trì cân bằng thuỷ tĩnh cho Mặt Trời.

Tính tới các thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, Mặt Trời đã đốt cháy gần một nửa lượng hydro và số nguyên tử còn lại hầu hết là heli. Khi tỉ lệ các nguyên tử hidro trên một đơn vị khối lượng giảm đi, lượng năng lượng thu được từ quá trình tổng hợp hạt nhân cũng giảm theo, khiến áp suất chống đỡ giảm và làm cho lõi Mặt Trời co lại, đồng thời khiến mật độ vật chất cùng nhiệt độ tại đây tăng cao cho tới khi áp suất trở lại cân bằng với các lớp bên ngoài. Việc gia tăng nhiệt độ khiến lượng hydro được tổng hợp nhanh chóng hơn để có đủ năng lượng duy trì cân bằng thuỷ tĩnh. Kết quả, Mặt Trời sản xuất ra nhiều năng lượng hơn.

Khi bước vào tiến trình chính, độ sáng của Mặt Trời chỉ bằng 70% giá trị độ sáng Mặt Trời năm 2018. Cứ 110 triệu năm, độ sáng này lại tăng thêm 1%. Cho tới khi Mặt Trời kết thúc tiến trình chính, tức là sau khi đốt cháy hydro trong lớp vỏ bao quanh phần lõi cho đến khi độ sáng bằng 121% so với ban đầu, nó sẽ bước vào giai đoạn sao bán khổng lồ và trở thành sao khổng lồ đỏ. Theo các tính toán, tính từ mốc Mặt Trời bắt đầu tiến trình chính, phải mất tới 4,8 năm để nhiên liệu hydro trong lõi cạn kiệt. Tuy vậy, con người – đúng phải bản chất ăn tạp và phá hoại của mình – đã thúc đẩy quá trình này, khiến nó diễn ra nhanh hơn gấp nhiều lần so với dự đoán mà chính chúng đưa ra.

Trong giai đoạn sao bán khổng lồ, Mặt Trời tiếp tục tăng gấp đôi khối lượng. Khi diện tích bề mặt của Mặt Trời tăng lên, năng lượng mà nó tỏa ra cũng tăng theo. Trừ khi bán kính quỹ đạo của Trái Đất tăng lên đáng kể, nếu không thì nhiệt độ toàn cầu của Trái Đất sẽ gia tăng theo độ sáng ngày càng cao của Mặt Trời, đồng thời nước sẽ bay hơi ra ngoài không gian ngày càng nhiều hơn. Hầu hết bề mặt Trái Đất sẽ trở thành những hoang mạc cằn cỗi và sự sống tập trung chủ yếu trong lòng các đại dương. Tuy nhiên, khi lượng nước hữu cơ đổ từ đất liền vào các đại dương cũng như hàm lượng oxy trong nước biển ngày càng giảm đi, sự sống ở đây cũng biến mất theo cách tương tự như những gì đã xảy ra trên cạn, và động vật không xương sống, đặc biệt là những loài không phụ thuộc vào thực vật như mối và giun ống khổng lồ sinh sống gần các miệng phun thuỷ nhiệt là những loài động vật cuối cùng. Bên cạnh đó, sự biến mất của nước trên bề mặt Trái Đất với vai trò là chất bôi trơn khiến lớp vỏ Trái Đất trở nên quá khô và không thể bị hút chìm xuống lớp phủ, từ đó làm cho hoạt động kiến tạo mảng diễn ra chậm đi và cuối cùng dừng lại. Khi đó, carbon không còn được giải phóng vào khí quyển thông qua hoạt động núi lửa, đồng thời cũng không thể bị hút chìm xuống đáy đại dương. Chu trình carbon chấm dứt.

Mật độ carbonic giảm quá ngưỡng cần thiết để duy trì quá trình quang hợp của thực vật C3, cây cối và các khu rừng không thể tiếp tục tồn tại, chỉ duy nhất thông thường xanh có khả năng sống sót. Khi đã giảm xuống tới ngưỡng không thể duy trì quang hợp, hàm lượng carbonic bắt đầu dao động lên và xuống. Điều này cho phép thực vật trên cạn sinh sôi mỗi khi mức carbonic tăng lên nhưng trong dài hạn toàn bộ thực vật vẫn sẽ tuyệt chủng. Do sự tuyệt chủng của thực vật, khí quyển Trái Đất cũng sẽ không còn oxy và theo đó là ozone, sinh vật ngày càng ít được bảo vệ khỏi tia cực tím và dần bị tuyệt diệt.

Nhìn thấy trước viễn cảnh các loài động vật đầu tiên biến mất là động vật có vú, tiếp theo là chim, động vật thân mềm, bò sát, cá, cuối cùng là động vật không xương sống, loài người đã lập tức tiến hành đưa người vào không gian trên các tàu vũ trụ có trang bị đầy đủ các công cụ để duy trì sự sống. Việc nghiên cứu thành công phương pháp tạo ra khí oxy mà không cần đến quá trình quang hợp của thực vật, máy in thức ăn sử dụng công nghệ không gian ba chiều, các loại dinh dưỡng nhân tạo và tốc độ phát triển như vũ bão trong công nghiệp nguyên vật liệu đủ để con người tạo ra các sản phẩm có công năng tối ưu, con người đã hoàn thành mọi công tác chuẩn bị để hiện thực hoá ý tưởng điên rồ của mình, đó là sinh sống bên ngoài vũ trụ mà không cần đến bất cứ một hành tinh nào và tránh khỏi một cuộc Đại Tuyệt chủng.

Công nghệ sử dụng enzyme Hydrogenase (được tìm thấy trong một giống tảo vốn đã ở trong trạng thái ngủ đông hàng nghìn năm, có chức năng phân tách các nguyên tử hydro và các proton) để chiết tách nước thành các nguyên tử hydro và oxy, tạo ra một nguồn hydro vô tận mà không cần quá nhiều máy móc phức tạp, giúp duy trì hoạt động của các tàu thám hiểm vũ khi tiến vào các khoảng sâu trong không gian cùng oxy để đảm bảo sự sống. Công tác nuôi tảo nhân tạo để có được loại enzyme này đã được tiến hành ngay từ những ngày đầu khi mới lắp đặt các phòng thí nghiệm bên trong các tàu vũ trụ. Với đầy đủ những trang thiết bị tối tân nhất, con người tiến vào vũ trụ mà không gặp quá nhiều trở ngại. Rắc rối lớn nhất, chính là có bao nhiêu người được lên tàu vũ trụ.

Chiến dịch Apokalypsis của các tầng lớp yếu thế hơn trong xã hội nhắm vào tầng lớp thượng lưu – những kẻ đã thét cái giá cắt cổ để không một ai có cơ hội lên tàu không gian – đã được triển khai trên toàn cầu. Từ Đông sang Tây, hàng loạt các cuộc thảm sát kinh hoàng đã diễn ra. Đường phố trở thành chiến trường. Tất cả mọi vật dụng đều được trưng dụng để dựng thành luỹ. Nông dân, công nhân làm chủ quân đội, nhà máy, công xưởng. Giáo viên và học sinh được an toàn bên trong các khu kí túc xá và trường học. Bác sĩ, kĩ sư, chuyên gia máy tính giành lại quyền tuyệt đối của mình trong các bệnh viện, các phòng thiết kế cùng bản vẽ và sơ đồ đường phố cùng các toà nhà, các phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm, các trạm khí tượng, camera an ninh, tổng đài điện thoại. Phi công, tiếp viên hàng không và nhân viên kiểm soát không lưu bảo vệ cả bầu trời và mặt đất. Chiến dịch Apokalypsis giành thắng lợi hoàn toàn, những người giàu có và nắm giữ nhiều quyền lực trong xã hội chỉ sau một đêm bị đẩy xuống tầng thấp nhất. Một thời kì mới bắt đầu – Giai đoạn hậu Apokalypsis.

Không dừng lại ở đó, sau khi đã dồn nhóm 1% vào đường cùng, những người đứng đầu chiến dịch này đã tiếp tục loại bỏ một bộ phận khác trong xã hội mà họ cho là hoàn toàn vô dụng trong xã hội. Tất cả những người già trên bảy mươi tuổi, người khuyết tật bẩm sinh, người tàn phế do tai nạn lao động và tai nạn giao thông, người sống trong tình trạng thực vật, người bị bệnh bại liệt, những người trong độ tuổi lao động nhưng không đủ sức khoẻ theo tiêu chuẩn đều bị khép tội và chịu án tử hình. Ngay cả trẻ sơ sinh mang các dị tật biểu hiện ra kiểu hình cũng bị cho là có tội và điều này được ghi rất rõ trong hiến pháp mới được ban hành.

Xã hội giai đoạn hậu Apokalypsis được chia thành ba nhóm lớn, chia theo vị thế và quyền lực, lần lượt là SHARK, WHALE và ALLIGATOR.

SHARK, hay SHArK, vốn dĩ là một từ viết tắt cho Solar Hydrogen Activity Research Kit, một dự án đã được chính phủ cấp phép thực hiện, đặt mục tiêu khám phá các hợp chất có thể quang hoá nước một cách hiệu quả, dự án tiến hành nghiên cứu trên phạm vi toàn cầu. Kết quả cuối cùng của dự án này chính là cung cấp công cụ nghiên cứu một phương thức hiệu quả để lưu trữ năng lượng mặt trời. Về sau, dự án này kết thúc, nhưng mọi người đều mặc định gọi giới khoa học là SHARK. Đây là tầng lớp cao cấp nhất, nắm giữ vai trò trọng yếu để vận hành toàn bộ các máy móc cùng thiết bị nhằm duy trì sự sống trên các tàu không gian và các phi thuyền vũ trụ. Họ cũng được giao nhiệm vụ bảo trì các thiết bị này thường xuyên, đồng thời xây dựng mạng lưới liên kết các tàu không gian cùng các phương án dự phòng trong trường hợp khẩn cấp cũng như lên các hành tinh khác để tìm kiếm sự sống.

WHALE là cái tên chung cho đơn vị chống điệp báo, đơn vị chống khủng bố, ban giám sát tình báo, ban giám sát vũ khí huỷ diệt hàng loạt, đơn vị điều tra tội phạm, đội phản ứng nhanh, đội khắc phục hiện trường, đơn vị mạng máy tính, đơn vị chiến dịch công nghệ, đơn vị chiến dịch công nghệ thông tin, đơn vị huấn luyện, đơn vị nguồn nhân lực, các đặc vụ, các giám sát viên và cuối cùng là bộ phận tham mưu cho chính phủ. WHALE được cho là viết tắt của câu nói “We have a little emergency”, một câu nói mà cảnh sát và cứu hoả thường xuyên sử dụng trước khi hành động, có ý nghĩa “Chúng ta có một chút khẩn cấp”. Tất cả đều chỉ là một chút khẩn cấp, như muốn tuyên bố rằng không có tình huống nào mà họ không xử lí và khắc phục được. Nhóm này có quan hệ khăng khít với SHARK do đặc thù yêu cầu công việc. Một mặt, họ giữ gìn an ninh trên các phi thuyền đồng thời “dọn dẹp” hậu quả của các va chạm của thiên thạch với tàu không gian, giúp SHARK yên tâm nghiên cứu. Mặc khác, SHARK cung cấp cho họ các phát minh tối tân nhất về mặt vũ khí và cứu thương.

ALLIGATOR được ghép lại từ “alliance” có nghĩa là liên minh và GATOR – Get All The Orders Right, một yêu cầu trong hoạt động trong nhà hàng – là tên của nhóm doanh nhân, thương gia và toàn bộ những ai tham gia vào hoạt động sản xuất sản phẩm cũng như thúc đẩy kinh tế. Đây là một nhóm có nhân lực vô cùng đông đảo, cũng là nhóm chủ chốt tạo ra liên kết giữa các tàu không gian và chính họ đã tạo ra các khối liên minh gồm các ALLIGATOR trên các tàu khác. Thế nhưng, nhóm này lại được cho là không có tiếng nói hơn cả trên phi thuyền. Ở thời điểm mà nhu cầu được đảm bảo các yêu cầu tối thiểu để sinh tồn, ALLIGATOR phát triển nhưng không mạnh mẽ, do mọi thứ đều được bao cấp. Nói một cách chính xác, họ điều hành các đại lý phân phối sản phẩm và hệ thống nhà hàng.

Ba nhóm này đều tuân theo một nguyên tắc bất di bất dịch, đó là không được phép tiết lộ tên thật của mình cho người khác, kể cả là những người trong cùng một nhóm với mình. Tên thật của họ chỉ có duy nhất ba người được biết, đó là bản thân họ và cha mẹ. Để hoạt động, họ sử dụng các bí danh. Trong xã hội hậu Akapolypse, các bí danh này được trao truyền từ thế hệ trước qua thế hệ sau như một món tài sản thừa kế. Do đó, chúng ta có Megalodon Cha và Megalodon Con, được dùng để gọi tên hai cha con nhà Megalodon. Các bí danh đều được dùng theo cha và sau khi người cha qua đời, cái tên sẽ được trao lại hoàn toàn cho người con.

Các bí danh được sử dụng cho từng nhóm là tên của các loài, tương ứng với SHARK, WHALE, ALLIGATOR, lần lượt là cá mập, cá voi và cá sấu. Như một lẽ tất yếu, chúng ta luôn có một số cái tên khá nổi bật. Carcharocles Megalodon, Helicoprion, Ghost Shark và Ethreal Snailfish của SHARK; Aulophyseter, Brygmophyseter Shigenis, Zygophyseter Varolai, Cetotherium và Livyatan Melvillei của WHALE; Rhamophosuchus và Deinosuchus của ALLIGATOR chính là những cái tên này. Cùng nhau, họ xây dựng một cuộc sống chưa thể nói là thịnh vượng, nhưng an toàn cho những nhân loại còn lại sinh sống.

Cho đến một ngày, nhà Livyatan phản bội.

Livyatan không đồng ý với các mà xã hội chuyển động, do đó đã đứng lên kêu gọi mọi người đi theo mình, thôn tính ba phi thuyền và lập nên một đế chế mang tên El Demonio Negro, được biết tới rộng rãi hơn với Black Demon ở phía Tây và Hắc Quỷ ở phía Đông so với Trái Đất cũ. Một thời kì không chính thức được công nhận, tuy vậy vẫn được ghi chép lại trong lịch sử loài người, đã bắt đầu – Giai đoạn El Demonio Negro do nhà Livyatan thống trị. Các cuộc chiến liên miên nổ ra gây nên vô số tổn thất cho cả hai phía. Số lượng tù binh trong các nhà tù không gian đã lên với hàng trăm nghìn người. Đã đến lúc cần phải đặt dấu chấm hết cho thời kì loạn lạc này. Dù biết rằng nếu xã hội không loạn thì lòng người cũng sẽ loạn, nhưng không thể nhắm mắt làm ngơ trước những sinh linh vô tội phải bỏ mạng vì sự tham lam và ích kỉ được.

Hậu duệ thứ mười của nhà Ghost Shark cho rằng, chỉ khi các hậu duệ ưu tú nhất của các nhà thuộc cả ba nhóm này hợp sức với nhau, họ mới có thể đánh đuổi được Livyatan khỏi ngôi vương mỗi lúc một vững chắc của chúng.

Meg, Ceto, Varolai, Aul, Shigenis, Rham, Coprion, Deino, Eth, tôi không thích câu này lắm vì WHALE không hẳn là gu của tôi, nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta có một chút khẩn cấp.”

____________________________________

Chú thích:

– Megalodon: Một loài cá mập đã tuyệt chủng sống cách nay khoảng 15.9 tới 2.6 triệu năm, vào thời kỳ Đại Tân Sinh. Việc phân loài của C. megalodon là đề tài tranh luận trong gần một thế kỉ, và vẫn chưa thống nhất. Hai các phân loại phổ biến là Carcharodon Megalodon và Carcharocles Megalodon. Cái tên “megalodon” được dịch trực tiếp qua tiếng Anh là “big tooth”, tức răng to. Kết quả đo đạc mẫu hoá thạch cho thấy, một chiếc răng của Megalodon trưởng thành có độ dài trung bình 17,8cm và sức nhai của loài này gấp ba lần T-Rex. Megalodon trưởng thành có kích thước lên tới 60ft, tương ứng với 2 chiếc xe buýt nối đuôi nhau và có thể nặng tới 70 tấn.

– Helicoprion: Một loài cá bạch đàn eugeneodontid đã bị tuyệt chủng, cá mập. Hầu như tất cả các mẫu hóa thạch đều là các răng của cá nhân, được gọi là “răng xoắn trôn ốc” – xương sọ sụn, xương sống và các yếu tố cấu trúc khác chưa được bảo tồn trong hồ sơ hóa thạch. và hành vi.

– Ghost shark: Cá sụn thuộc phân lớp Holocephali. Cá mập, tia và giày trượt là những thành viên khác của nhóm cá sụn và được phân nhóm theo phân lớp Elasmobranchii. Các tên thay thế bao gồm cá mập voi, makorepe, cá trắng, chimaera cày mũi, hoặc cá voi. Cái tên Ghost Shark được đặt dựa trên một đặc điểm vô cùng đặc biệt của loài cá mập này, chính là loài này bị mù hoàn toàn.

– Aulophyseter: Một loài tuyệt chủng từ các thành tạo Miocen ở bờ biển phía tây và phía đông của Bắc Mỹ, cũng như vùng Patagonia của Nam Mỹ. Aulophyseter đạt chiều dài xấp xỉ 20ft với trọng lượng cơ thể ước tính là hơn 1 tấn. Thường sống thành đàn.

– Brygmophyseter: Một chi cá tuyệt chủng thuộc lớp cá voi có răng. Khi được mô tả lần đầu tiên vào năm 1994, loài này được đặt trong chi Scaldicetus dựa trên hình thái răng. Từng đứng đầu chuỗi thức ăn.

– Zygophyseter Varolai: Một loài động vật biển có vú đã tuyệt chủng, tương tự như cá nhà táng, dài tới 20ft. Loài cá này có hộp so bất đối xứng với khả năng tạo ra âm thanh tần số cao và định vị bằng tiếng vang.

– Cetotherium: Một loài cá voi đã tuyệt chủng, họ Cetotheriidae, là “con mồi” được Megalodon ưu tiên cho “bữa sáng” của mình.

– Livyatan Melvillei hay còn gọi là siêu cá nhà táng: Một thành viên đã tuyệt chủng của bộ cá voi có răng thời tiền sử và được xem là loài cá voi có răng to lớn nhất từng biết, sống cách đây 13,6 đến 11,6 triệu năm.

– Rhamphosuchus: Một loài cá sấu lớn đã tuyệt chủng, gần giống với cá sấu ngày nay, sinh sống ở tiểu lục địa Ấn Độ trong Kỷ Miocen. Nó chỉ được biết đến qua các bộ hóa thạch chưa hoàn chỉnh, chủ yếu là răng và hộp sọ. Được coi là một “vận động viên bơi lội” xuất sắc nhờ cái đuôi đặc biệt dài và khoẻ.

– Deinosuchus: Một chi cá sấu đã tuyệt chủng, loài này từng sinh sống 80-73 triệu năm trước, vào cuối kỷ Creta, dài 60ft, nặng 50 tấn. Tên gọi có nghĩa là “cá sấu khủng khiếp” và có gốc từ tiếng Hy Lạp cổ δεινός/deinos và σουχος/suchos. Hóa thạch đầu tiên được phát hiện ở Bắc Carolina, được đặt tên và mô tả năm 1909.

– Ethreal Snailfish: Một loài cá sống dưới đáy sâu nhất của Rãnh Mariana, được coi là đáy sâu nhất dưới đại dương mà con người khám phá được. Không phải một chi của loài cá mập.