Posted in nhảy lò cò.

Ngắn. | Một phần tư sự thật

18553992_1872145909716530_1102151820_o

Ảnh bởi Ngọc Hà.

 

Chẳng có gì thúc ép một người hơn một sự thèm và một cơn khát. Một đứa trẻ ngoan đến mấy nhưng bị đói vẫn cứ kêu khóc, mà một người ít nói đến đâu cũng sẽ mở miệng hỏi xin nước khi đã khát khô cả họng. Một nhà văn cũng chỉ ham muốn ngồi xuống dưới bóng cây mát mà hí hoáy viết lách khi cơn thèm viết, khát viết đã lên đến cao độ, không thể ép bản thân dừng lại. Những lúc như thế, hệt như thần viết chứ chẳng còn là người viết nữa, đầu bút như đang nhảy múa trên trang giấy, nhanh nhanh chóng chóng, phải gấp lên, phải mau lên, nếu không chữ sẽ bay đi mất, đến lúc ấy có chạy theo mà đuổi mà bắt cũng không kịp. Cứ như thể tranh thủ lưu giữ lại một tấm hình giọt sương sớm đang lưu lại nơi đầu ngọn cỏ, chẳng có thời gian mà tần ngần nghĩ suy hay tính toán nên hay không nên, vì chỉ chậm một khắc thôi, về sau sẽ mãi phải hối hận.

Người ta viết khi người ta đang buồn, bởi vì khi vui mấy ai bận tìm đến giấy đến bút mà vui. Khi ấy, người ta bận hát bận ca, bận nhảy bận múa, bận khoe cho người này, kể cho người nọ. Cơn viết chỉ đến khi lòng người lắng lại một chút gì đó mằn mặn của giọt mồ hôi tí tách nhỏ xuống dưới ánh nắng chói chang, của nước mắt vội vã lau đi sợ người nhìn thấy. Người viết gần như người điên, cứ thế mà viết thôi, trau chuốt là việc khi tỉnh mất rồi. Người viết là người cuối cùng thức tỉnh, sau cả độc giả, sau cả nhân vật, sau cả cảnh trí, sau cả núi non, sau cả mưa nắng, thậm chí sau cả thời đại.

Cơn thèm viết ấy dâng cao, nếu không thể viết thì cứ thế ứ nghẹn lại, nuốt cơm không trôi, mà ăn không ngon thì tất ngủ cũng chẳng yên, người cứ lao đao như lên cơn bệnh, biết là bệnh mà chẳng thứ thuốc thang nào có thể trị nổi. Chỉ cần viết, thế thôi.

Người ta có thể viết về nhiều điều, tự vấn mình và đời đủ chuyện.

Nhìn một chiếc lá chao liệng rồi khẽ khàng chạm mặt nước, người ta có thể nghĩ tới sự lung lay của cả một triều đại với những thời thế, thế thời, với biết bao nhiêu khuôn mặt người, vui sướng hân hoan, buồn bã đau khổ, với biết bao nhiêu cuộc đời, vinh hoa phú quý, khố rách áo ôm.

Nhìn một làn tóc mây, người ta có thể nghĩ tới một người con gái đứng quay lưng về phía quê hương, đầu không ngoảnh lại, đăm đăm nhìn về phía hòn núi bạc phía xa xa. Chẳng ai hay nàng đang toan tính gì, cũng chẳng ai biết liệu nước mắt của nàng có thể thấm qua làn tơ sinh mệnh mong manh để ngập tràn trong trái tim đã lịm đi sự sống hay chăng. Nàng là ai, nàng từ đâu đến, từ xứ này hay còn từ thăm thẳm vời vợi hơn thế nữa, nàng tìm ai, nàng trông ai, nàng sầu ai, chẳng ai hay biết.

Nhìn một chiếc khăn tay trắng muốt thêu những hoa cùng bướm gấp cẩn thận từng li rồi đặt lên một bộ quân phục, người ta ứa một giọt nước mắt không dám chảy thành dòng, lắc đầu mà xua tan đi dòng nghĩ suy về một người chinh phụ bồng con đứng chờ chồng, về bộ quân phục người ta mặc vào cho người con đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vì dân tộc, về người đồng đội về với đất, với cát. Người ta run rẩy chạm tay vào một nắm đất vun lên thành nấm mồ tạm bợ, người ta khóc thay cho bao nhiêu kiếp người, khóc tang cho bao nhiêu mảnh hồn, và cầu nguyện cho bao nhiêu năm tháng.

Tiếng khóc ấy, tiếng cười chua chát ấy, có khi nào là từ một cơn thèm viết khi thấy lòng bỗng dưng nặng quá hay không? Lòng nặng vì u uất, vì chơi vơi trong nỗi cô quạnh, vì đột nhiên muốn khóc thay cho thập loại chúng sinh. Sầu này, bi này, xin cứ để cho tôi, tôi sẽ khóc, khóc cho hết ngày sau, để người không còn phải rơi lệ thêm lần nào nữa.

Những người thèm viết, ít nhiều đều giỏi nói dối. Không phải dối trá lừa lọc ai, mà là lừa chính mình. Khi mình viết, một phần đời mình ẩn nấp trong chữ, mà một phần đời hiện lên qua chữ lại cứ thế thấm dần vào đời mình. Những kẻ nói dối được săn đón bởi biệt tài kể chuyện, bởi có thể vung tay mà họa lên cả một đàn chiến mã đang phi nước đại trên thảo nguyên, bởi có thể mỉm cười mà thốt lên vài ba câu, đột nhiên một cuộc đời mở ra, và hàng vạn sự sống bắt đầu.

Nhưng những kẻ nói dối ấy, đôi khi bắt đầu nói dối trong chính cuộc sống thực tại của mình. Tự sắm cho mình một vai thật hay trong vở tuồng mà chính mình dựng khung, có những nhân vật do chính mình dặm phấn tô son, rồi cứ chìm đắm trong từng điệu hí từng câu ca. Người đó chẳng thà nói rằng mình có quá nhiều bạn bè đến mức nay mỗi đứa lưu lạc một phương chẳng nhớ nổi ai đang làm gì, cư trú ở đâu, còn hơn là thật thà mỗi ngày tôi đều nấu dư một phần cơm, mua dư một phần thịt, chỉ trông mong có ai đó đến nhà cùng ăn tối. Người đó chẳng thà nói rằng anh trai mình đang đi du học nơi trời tây, còn hơn là cúi đầu lặng lẽ mà thưa rằng mình thực ra chưa từng trải qua cảm giác được anh trai che chở, yêu thương.

Sống trong vở kịch của chính mình là một loại hình giải trí không tốn kém.

Có lắm lúc, chính mình cũng nghĩ rằng những điều tô vẽ ấy là thực. Những lúc ấy, chỉ biết thở dài tự vỗ tay khen ngợi mình rằng, giỏi quá, giỏi quá, có thể viết nên một tuyệt tác như vậy, từ những kẻ hư cấu xào nấu mà thành bằng xương bằng thịt, biết đi đứng chạy nhảy, biết hát biết hò, thậm chí còn biết bông đùa cười cợt, biết đau biết buồn. Chẳng ai biết, những khi kẻ tưởng tượng ấy buồn, chính là khi người kể chuyện đang không vui, những khi kẻ tưởng tượng ấy hạnh phúc, cũng là lúc mà kẻ nói dối đại tài ấy cảm thấy thật may mắn vì được sống làm người.

Một người anh trai, ở đâu đó, không ai biết mặt, cũng chẳng có tên, nhưng anh ấy, trong lời kể của kẻ nói dối, lại sống động đến lạ kì, hệt như một ngọn lửa bập bùng sáng lòa giữa rừng hoang sương giá, ai cũng muốn tiến lại gần hơi ấm ấy, nhưng không dám chạm vào nó. Anh ấy có một công việc, có một ngoại hình, có một tư chất, anh ấy chính là ưu việt nhất. Càng kể chuyện, càng xào nấu, kẻ nói dối lại càng hăng say, đã mất công kể chuyện, vậy thì tại sao lại không tạo ra một nhanah vật thật xuất chúng, xưa nay không ai bằng kia chứ? Thế là cứ kể, những chuyện về người đàn ông ấy ngày càng dày thêm, mà vẫn chẳng một ai biết anh ấy là ai. Cái tài của người kể chuyện, chính là những câu chuyện ấy hấp dẫn tới độ người ta cứ như bị hút vào trong lời kể ấy, trong giọng kể ấy, đến độ chẳng ai để tâm tìm hiểu xem nó có thật hay không.

Nhưng rồi cuối cùng, chỉ có một mình kẻ nói dối ấy tự tán dương mình, vì nếu như người khác biết, tất cả chỉ là ‘bịa chuyện’, sẽ chẳng một ai nghe những câu chuyện ấy nữa dù chúng có thú vị đến đâu. Người kể chuyện nghĩ rằng lí do duy nhất khiến cho tất cả phải lắng nghe mình, khiến cho mình trở nên đặc biệt, chính là kể chuyện. Người kể chuyện sợ rằng rồi một ngày khi tất cả sụp đổ, sẽ không một ai còn muốn lắng nghe anh ta nữa, và niềm tin của anh ta vào chính anh ta cũng sẽ sụp đổ. Anh ta sợ mình trở nên méo mó dị hình trong những đôi mắt người, và anh ta sợ rồi sẽ chẳng một ai chọn ở bên anh ta, và anh ta sẽ mãi cô độc, và anh ta sẽ mơ mãi một giấc mơ lặp đi lặp lại không ngừng, và anh ta thất bại.

Có hạnh phúc hay không, khi giỏi kể chuyện? Kể rất nhiều chuyện, kể về những con người có lẽ đã từng sống và đã từng chết, có lẽ chưa từng thành hình, có lẽ mãi mãi chỉ là một lý tưởng của một ai đó, có lẽ mãi mãi chỉ là một chỗ dựa tinh thần hay một tấm khiên bảo vệ một tâm hồn đơn độc. Thực ra, anh ta sẽ hạnh phúc ngay thời điểm mà anh ta không tự truy xét xem mình có hạnh phúc hay không. Cho nên anh ta không hạnh phúc.

Anh ta đã từng nói rằng, trong một bữa cơm, bố nhường cho mẹ miếng cá thu, mẹ lén xới thêm cơm cho con trai lớn, con trai lớn lại đem cả phần canh của mình cho em gái nhỏ, đạo lí nhường nhịn này, nếu như không có một gia đình đầm ấm, chưa từng ăn chung với cả nhà một bữa cơm dù đạm bạc nhưng ngọt lòng, thì chắc chắn chẳng thể nào hiểu được. Thế nhưng không ai biết, thực ra anh ta không biết bố mẹ mình là ai, cũng không có đứa em gái nào, cũng chưa từng được ăn cá thu, chưa từng được húp canh, cũng chưa từng được ai xới cho một bát cơm trắng. Anh ta nói như thể anh ta hiểu rất rõ, nhưng thực ra một chút anh ta cũng không hiểu.

Anh ta viết ra bởi anh ta thèm viết. Anh ta thèm viết bởi anh ta khát khao tạo dựng một thế giới để náu mình nơi đó, tự băng bó vết thương của chính mình, tự ôm lấy mình, và tự nhủ rằng thực ra chưa từng được húp canh nóng hay ăn cá thu cũng chẳng sao hết.

Một phần tư sự thật trong lòng anh ta, ẩn sau bao nhiêu lời bóng gió vu vơ, ẩn sau bao nhiêu câu nói dối lắm lúc cố tình để thật lộ liễu nhưng vẫn chẳng ai mảy may nghi ngờ. Giống như một người hết lần này đến lần khác chỉ cho những người đến thăm nhà thấy dây thòng lọng đã được buộc sẵn trên trần nhà, chờ mong một ai đó hãy ngăn cản anh ta lại, hay thậm chí là sẵn sàng tháo dây thòng lọng xuống, hay đánh mắng anh ta, hãy nạt nộ anh ta. Giống như một người cứ thả trôi mình theo dòng nước cuốn, không quẫy đạp, không vẫy vùng.

Anh ta, hơn ai hết, mong rằng có ai đó hãy ngăn anh ta lại, ôm lấy anh ta và nói rằng anh ta không cần phải tưởng tượng gì thêm nữa, vì ai đó sẽ cho anh ta một ông bố, một bà mẹ, một đứa em gái nhỏ, một bát cơm trắng xới thật đầy, lèn thật chặt, một đĩa cá thu, một bát canh nóng. Anh ta không muốn kể chuyện nữa, vì anh ta biết rằng chừng nào còn viết, chừng đó anh ta còn buồn. Anh ta cũng chẳng biết đến bao giờ anh ta mới có thể viết mà nhẹ nhõm, viết mà thảnh thơi.

Anh ta nhìn người đang gà gật ngồi bên cạnh mình. Người đó dụi dụi mắt, chép chép miệng, hình như đang nói với anh ta điều gì đó. Anh ta không thể nói rằng thực ra mình không nghe thấy gì cả, và anh ta chỉ mua một vé hòa nhạc rồi ngồi đây, tỏ ra mình yêu nhạc đến mức độ si mê.

Anh ta chẳng thà nói dối hết lần này đến lần khác, còn hơn thấy bất cứ ai thương hại mình. Bởi vì có khi giọt nước mắt mặn mòi nhỏ lên vết thương đang rỉ máu, với xát muối vào vết thương ấy, về cơ bản không có gì khác nhau.

Advertisements

Author:

Trịnh Ánh. 16&. Hanoian.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s