Posted in my johnny, night night (II), Triphenylmethane Project

[Oneshot | Triphenylmethane Project #E131 | #JohnDo] significant other

D05pFRZU8AIJupC

Author: Trịnh Ánh

Requested by: Grace

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Character(s): the man, Suh Youngho (NCT Johnny), reporter Kim/Kim Doyoung (NCT Doyoung)

Categories: angst, tragedy

Rating: K+

Summary:

“Em muốn anh biết rằng anh là duy nhất của em. Youngho này, anh thực sự rất quan trọng với em.”

“Doyoung, em sao thế…?”

“Em không sao. Tự dưng em muốn anh biết điều ấy thôi.”

“…”

“Anh ơi, em yêu anh nhiều lắm.”

“Thương mến, anh tự hào về em.”

significant other

Grace thương mến,

 

 

 

All Alone! Whether you like it or not,

Alone will be something you’ll be quite a lot.

.

I’m standing here

Watching the clouds float by

Wondering why the pain never deserted me

The sadness, sorrow, bewilderedness that never left.

I’m flying away.

I’m flying away.

Holding hands with myself

Sharing life with myself

Reaping the loneliness I’ve sown

In these fields I’ve always grown

Digging the blackness from my mind

I will die all alone.

.

We all die alone

We are all alone

Lord come take my soul

So we can all reborn.

.

After being disappointed so many times,

you start to lose hope in everything.

.

“At your best, you still won’t be good enough for the wrong person. At your worst, you’ll still be worth it to the right person.”

.

Người đàn ông xem ra đã đói ngấu rồi, vì từ lúc thức ăn được bưng ra đến bây giờ, anh ta gần như vục mặt mà nhai nhai nuốt nuốt, gần như không ngẩng đầu lên một lần nào ngoại trừ ngước lên nhìn người đối diện mình một cách đầy tò mò, có lẽ là bởi vì người kia gần như không đụng tới phần thức ăn của mình, hoặc là nhờ người kia lấy giúp mình chai nước sốt. Mái tóc lâu ngày chưa gội xù lên như tổ quạ, được anh ta chải qua loa rồi túm lại bằng một sợi dây nịt chẳng hiểu kiếm được ở đâu, chỗ tóc mai loà xoa chưa đủ dài để buộc lại thì được vén gọn ra phía sau vành tai. Bộ tóc ấy xem chừng khá ăn nhập với bộ quần áo mà anh ta đang mặc trên người, một vẻ gọn gàng và ngăn nắp ngay cả khi độ bẩn thỉu cùng hôi hám của nó rất dễ khiến người ta liên tưởng tới sự nhếch nhác và lôi thôi.

Ngược lại với ấn tượng ban đầu, anh ta nghèo nhưng lại không tới nỗi hèn lắm. Chiếc áo sơ mi đã ngả sang màu cháo lòng được cài cúc hết sức cẩn thận, và xem ra anh ta đã cố gắng để ép phẳng chiếc áo, khiến nó không đến nỗi nhăn nhúm lắm, chí ít thì rất khó nhìn thấy các nếp gấp trên mặt vải. Áo khoác thì không còn nhận ra được là màu gì, một bên vạt áo còn lưu lại vết cháy sém do tàn thuốc, có nhiều chỗ còn bị ố, nhưng nom không đến mức quá khó coi. Cái quần có vẻ như là được anh ta nhặt về ở đâu đó, vừa ngắn mà lại vừa rộng, nghĩ thế nào cũng thấy không phải là thứ mà người đàn ông này sẽ mặc. Quần ngắn hớt lên trên mắt cá chân, nhưng phần bụng thì quá rộng, đâm ra anh ta đành phải dùng một cái ghim băng để cố định lại ở một bên hông. Đôi giày thì lại không được may mắn như thế, nhìn là biết chắc phải bị há mõm khá lâu trước khi anh ta tìm thấy keo để dán lại, nhưng chắc cũng không dùng được lâu nữa. Nhìn từ đầu đến chân, người đàn ông có một vẻ gì đó rất chừng mực, rất đường hoàng, và vẻ sáng sủa trên khuôn mặt đem sạm đi chứng tỏ anh ta cũng thuộc dạng thông minh, nhanh nhẹn. Anh ta chỉ bộc lộ hết sự nghèo hèn của mình khi ngồi xuống bàn ăn.

Anh ta ăn rất nhiều thịt, một điều không khó để nhận ra. Người đàn ông cứ thế dùng tay bốc lên rồi bỏ vào miệng mà nhồm nhoàm nhai, nhưng lại không dành ra nhiều thời gian để mà nhai cho lắm mà chỉ dùng răng xé nhỏ thịt rồi dần thịt cho mềm ra, sau đó nuốt chửng. Đôi hàm răng cạp một miếng thật lớn rồi dùng lực mà giằng mạnh một cái, dứt miếng thịt đã được rán chín kĩ rời khỏi phần xương. Anh ta dùng lưỡi để cuộn miếng thịt vào trong miệng mình, ngon lành và chẳng mấy khó khăn. Đôi môi bóng mỡ cố gắng mím lại thật chặt để chỗ thịt đầy ứ không rơi vương vãi ra chung quanh, nhưng lại vô tình ép cho dầu mỡ chảy ra từ hai bên mép, rỏ tong tỏng xuống mặt bàn. Nhưng điều ấy xem ra không hề khiến người đàn ông phải bận tâm. Anh ta còn phải dành thời gian để không cho phép những khúc xương bị gặm nham nhở. Lòng tự trọng của một kẻ không có gì bỏ bụng suốt mấy ngày liền không cho phép người đàn ông sĩ diện. Mỗi khi xử lý xong xuôi một phần thịt, anh ta tiếp tục gặm cho kì hết chỗ thịt dính trên khúc xương rồi mới thảy khúc xương sạch bong sang một bên. Trước khi lấy thêm một miếng thịt khác để chuẩn bị lặp lại từng ấy công đoạn, anh ta lại dùng ống tay áo mà quệt ngang quệt dọc cái miệng dính đầy mỡ, xem chừng cũng ý thức được việc mình cần tỏ ra lịch sự trước mặt người bỏ tiền túi ra để mời mình một bữa cơm.

Người đối diện có cảm giác như mình có thể nhìn thấy được cả miếng thịt đang trôi xuống cổ họng người đàn ông đang vui vẻ lấp đầy cái bụng rỗng không kia. Thấy người kia có vẻ đã đánh chén xong món thịt và đang nhìn chòng chọc vào chỗ thịt của mình, anh đẩy cả đĩa thịt sang phía bên kia rồi giơ tay ra hiệu cho nhân viên phục vụ tới bàn mình. Thì thầm gì đó với cậu nhân viên đang ngẩn người ra nhìn mình, anh gật đầu tỏ ý bảo cậu cứ lặng lẽ mà làm theo. Chỉ một lát sau, cậu nhân viên khệ nệ bưng ra hai phần cơm lớn đựng trong bát inox cùng hai tô canh vẫn còn đang bốc khói trắng. Đưa mắt nhìn người đàn ông đang hào hứng mà đánh chén phần thịt của mình, tất nhiên là đã nhận được sự đồng ý, người đối diện đổ một bát cơm vào phần canh rồi thong thả trộn lên. Sau khi trộn thật đều, anh dùng thìa múc một chút nước canh cùng một ít cơm mà cho vào miệng ăn thử, xem chừng có vẻ hết sức hài lòng. Thấy vậy, người đàn ông có chút ngẩn ngơ. Lại dùng tay mà lau miệng, anh ta ăn nốt chỗ thịt của mình, đôi mắt hiếu kì vẫn nhìn theo từng động tác của người kia. Lúc người kia chưa ăn, anh ta chỉ thấy thắc mắc không biết người ta có thấy đói hay không, nhưng tới lúc người ta bắt đầu ăn thì anh lại thấy xấu hổ.

Ngượng ngập lau tay vào khăn giấy mà người đối diện đưa cho mình, người đàn ông gạt cái đĩa lúc này chất đầy xương gà rồi kéo cơm cùng canh tới trước mặt. Ngẩn tò te ra một lúc, anh ta dùng thìa xúc cơm đầy rồi nhúng vào bát canh, đoạn bỏ vào miệng. Lập tức, hai mắt anh ta sáng rỡ lên. Hẳn là anh ta nhận ra ăn cơm chan canh như người đối diện đang ăn thì ngon hơn rất nhiều, cho nên mới hoan hỉ đổ cơm vào bát canh rồi trộn đều lên. Xoa xoa hai bàn tay vào nhau cứ như thể chuẩn bị làm việc gì quan trọng và có ý nghĩa lắm, người đàn ông ăn một thìa cơm cùng với canh rồi lại vội vội vàng vàng há miệng ra rồi lấy tay quạt quạt trước mặt vì nóng, thế nhưng anh ta vẫn xuýt xoa rồi gật gù ra chiều hết sức hạnh phúc. Hạnh phúc của người đàn ông vốn dĩ rất giản đơn. Anh ta có một chỗ ở, có quần áo để mặc. Hàng ngày, anh ta bới rác để tìm ra những thứ còn dùng được để dùng, và những thứ có thể bán được để bán. Có lần, anh ta đã khuân về hẳn một cái tủ vẫn còn tốt nhưng đã bị ném ra bãi rác. Chỉ cần sửa lại cái ngăn kéo có phần hơi xập xệ là lại đựng được cơ man nào là đồ, thế nhưng người ta đã vội quẳng nó đi để mua cái mới. Một lần khác, anh ta nhặt được một cái cốc sứ. Mới bị mẻ một góc thôi, nhưng ngoài ra thì không còn vết rạn nào khác nữa nên vẫn đựng được nước. Người đàn ông dùng cái cốc ấy để cắm một bông hoa trong nhà mình. Niềm vui của người đàn ông thật ra rất giản dị. Hôm nay, anh ta được một bữa no, nên anh ta rất vui vẻ.

Thấy người đàn ông ăn uống no say như vậy, người ngồi đối diện xem chừng tâm tình cũng tốt lên rất nhiều. Rũ bỏ vẻ lạnh nhạt cùng đôi chút khó chịu lúc ban đầu, người kia hăng hái xúc cơm vào miệng, cứ chốc chốc lại đưa mắt nhìn người đàn ông đang ăn những thìa cuối cùng. Đợi cho tới khi người đàn ông ngửa cổ húp hết canh trong bát, người ngồi đối diện mới lấy khăn giấy đưa cho anh ta, đoạn vừa nhẩn nha ăn tiếp vừa hỏi bâng quơ như thể mình chỉ hiếu kì việc người kia ngủ có ngon giấc hay không, hoặc nhắc tới một chuyện chẳng hề liên quan tới mình trong khi rõ ràng chính anh cũng hiểu mình đang rất sốt ruột.

“Vậy tức là… hôm đó anh đã đem một chiếc túi ra bãi rác?”

Nghe thấy người đối diện hỏi mình như thế, người đàn ông có vẻ hơi giật mình. Nhẹ nhàng đặt cái bát xuống bàn, anh ta có vẻ đang nghĩ rất lung. Không thấy người kia trả lời, người đối diện nhướn mày dò hỏi. Gõ gõ chiếc thìa xuống đáy bát như thể đang thúc giục người đàn ông mau mau chóng chóng đưa ra câu trả lời, người ngồi đối diện kìm nén sự nóng ruột. Hơn ai hết, anh hiểu rằng việc hấp tấp không bao giờ dẫn tới một kết quả tốt đẹp. Nhất là khi tiếp xúc với những người ở tầng đáy xã hội, càng thúc ép họ, hay tìm cách đụng chạm vào lòng tự ái vốn đã rất dễ bị làm cho tổn thương của họ thì có cạy răng cũng khó moi được một lời có giá trị. Anh đã từng mọi thông tin của không ít người trông còn bần hàn hơn cả người đàn ông đang ngồi trước mặt lúc này, và điều quan trọng hơn cả là phải thật kiên nhẫn thì mới đối phó được với họ. Những kẻ không có một tấc sắt trong tay thường rất dễ xúc động. Họ không có tiền, nhưng lại dư thừa nước mắt.

Lấy khăn giấy lau miệng, người đối diện quyết định không ăn thêm nữa. Nhác thấy người kia đang ngó nghiêng phần cơm thừa của mình, anh thở dài.

“Tôi no quá rồi, anh ăn hộ tôi được không? Cho đỡ phí phạm ấy.”

Người đàn ông cười hề hề đưa tay lên gãi đầu sồn sột, khí thế gật đầu. Bật cười trước phản ứng của người đàn ông chẳng biết đã có được bao nhiêu bữa no trong đời, anh liền đẩy bát cơm về phía bên kia bàn rồi nói bằng giọng nhẹ nhàng hết sức.

“Cảm ơn anh nhé.”

Không chần chừ, người đàn ông cầm lấy chiếc thìa rồi lại tiếp tục ăn cơm. Nuốt ực một miếng thật lớn, anh ta nhíu mày rồi nói lớn tiếng. Người ta thường chỉ nói lớn tiếng trong hai trường hợp, một là khi đang tức giận, hai là khi cố gắng lấy lại tự tin trước khi phát ngôn về điều mà chính anh ta cũng không dám chắc. Trường hợp của người đàn ông này có lẽ là trường hợp thứ hai. Anh ta không chỉ muốn người đối diện tin vào điều đó, mà còn muốn tự thuyết phục mình không mảy may nghi ngờ về điều mình vừa nói ra.

“Có người trả tiền cho tôi để tôi đem cái túi đó ra bãi rác. Tôi có nhận tiền.”

Rồi như sợ rằng người đối diện sẽ hiểu lầm mình, người đàn ông trệu trạo nhai miếng cơm, vừa xua xua tay vừa nhắc đi nhắc lại.

“Là được người ta thuê, không phải của tôi.” Nói xong, xem chừng như đã trút được gánh nặng ngàn cân, người đàn ông thở dài. Gạt gạt chỗ cơm còn lại trong bát, anh ta tìm hết thịt vụn lưu trong canh để ăn trước rồi mới xử lý chỗ cơm. Uống cạn nước canh, người đàn ông đặt bát xuống bàn đánh cạch một tiếng, nom có vẻ như đã no căng rồi, chốc nữa nếu có muốn gặng hỏi chuyện gì thì không thể giở chiêu bài mời mọc ăn uống được nữa. Lau tay qua loa vào tờ giấy ăn, lúc này anh ta mới chịu lau miệng cho đàng hoàng. Đưa tờ giấy đã dùng rồi cho người kia để nhờ vứt hộ vào sọt rác, anh ta tặc lưỡi. “Nếu như biết là rắc rối như vậy thì tôi đã chẳng làm.”

Không khó để nhìn ra rằng anh ta đang lo ngay ngáy như kiến bò bụng. Ai cũng vậy cả thôi, nếu như một ngày kia thức giấc và nhận ra mình có liên quan đến một chuyện tày đình thì ai cũng không lạnh mà run. Đã thế, vụ việc ấy còn xảy ra từ tận bốn năm trước và bản thân mình thời điểm đó không hề biết rằng mình đã tiếp tay cho kẻ ác bằng cách thực hiện một việc làm rất đỗi bình thường, đối diện với những thông tin ấy mà vẫn có thể giữ được bình tĩnh thì mới đáng để lưu tâm, còn sợ hãi tới độ tránh né điều tra thì lại trở nên bình thường.

Để gặp được người đàn ông này, anh đã phải lao tâm khổ tứ khá nhiều, thậm chí chính anh cũng không nghĩ rằng sẽ có một ngày mình phải chạy vòng vòng khắp nơi trong thành phố và lùng sục khắp các khu tái định cư để tìm một người đàn ông. Một người đàn ông cao lớn với mái tóc dài và bộ quần áo không mấy sạch sẽ luôn khiến người ta phải ngoái lại nhìn. Nhưng ở khu ổ chuột, nơi mà ai cũng như ai, đói khổ và rách rưới, một ngoại hình như vậy gần như bị hoà lẫn vào khung cảnh đau đớn tới mức khiến người ta thấy mình tê liệt của cái nghèo lên tới mức nghiệt ngã. Tìm một người đàn ông khổ sở giữa hàng tá những người cơ cực. Bới một túi rác giữa một đám rác. Gần như là không thể, và việc tìm kiếm hết ngày này sang ngày khác khiến người ta dễ muốn bỏ cuộc. Anh đi hết các con ngõ nhỏ, chui vào những con hẻm tăm tối, dò la tin tức bằng cách hỏi từng người một xem họ có từng nghe nói tới một người đàn ông có đặc điểm trùng khớp với lời miêu tả trên truyền hình. Có một vài lần, anh lái xe tới một tỉnh khác ngay trong đêm chỉ vì nghe có người thông tin rằng họ thấy một người đàn ông cao lớn với mái tóc dài đi lang thang trên đường. Anh không phải cảnh sát, cũng không có quyền được biết về nơi mà người đàn ông kia sống, nên anh chọn tự mình tìm kiếm người đàn ông kia để hỏi cho ra nhẽ. Mất thời gian là như vậy, nhưng anh lại gặp được người mình cần gặp trong một tình huống rất bất ngờ.

Ngày hôm nay khi tới ngân hàng, anh đã gặp người đàn ông tại đó. Ban đầu, lúc mới trông thấy người kia, anh đã hết sức bất ngờ. Anh đã từng nghĩ tới tình huống mình vô tình gặp được người khác ở những nơi khó có thể ngờ tới, nhưng gặp một người đàn ông được miêu tả là kiếm sống bằng nghề thu mua phế liệu ở phòng tắm hơi thì vẫn dễ hiểu hơn là ở ngân hàng. Có vẻ như không chỉ một mình anh mà rất nhiều người khác trong ngân hàng lúc đó cũng có chung suy nghĩ ấy. Khoảnh khắc lần đầu tiên người đàn ông bước chân vào thế giới mà có lẽ không mấy người chào đón anh ta có lẽ sẽ khiến anh nhớ mãi.

Một người đàn ông với khuôn mặt ngơ ngác đứng ngẩn tò te một hồi lâu vì choáng váng trước hàng dãy bàn dịch vụ liền kề nhau, chầm chậm bước đi giữa các hàng ghế chờ, lúng túng không biết phải làm sao để lấy số thứ tự ở máy lấy số tự động nên đành phải vừa đỏ mặt vừa nhờ người bên cạnh giúp đỡ, ngồi trên ghế bọc đệm mà cứ ngọ nguậy mãi như bị kiến đốt, hai tay ôm chặt cứng một cái bọc to tướng trước bụng, nhất quyết không chịu đặt xuống sàn cho đỡ nặng. Một người đàn ông trong trang phục bắt mắt một cách khá tiêu cực, khệ nệ mang tiền đến gửi tại ngân hàng, mặc kệ người khác đang trố mắt nhìn mình mà mon men đi tới bàn dịch vụ, gập người cúi chào nhân viên rồi mới chịu ngồi xuống. Bình thường, các nhân viên luôn tranh thủ giới thiệu cho những người sử dụng dịch vụ tại ngân hàng các gói mua nhà tiết kiệm hoặc mua bảo hiểm, nhưng nếu như họ thấy khách hàng có vẻ như không có đủ khả năng chi trả, họ sẽ bỏ qua bước này. Những người đã quen với việc phán xét người khác qua cách ăn mặc hôm nay phải méo mặt khi ngồi giải thích cho kẻ mà họ nghĩ là chẳng bao giờ có nhu cầu bước chân vào ngân hàng về các gói mua nhà cùng các khoản ưu đãi khác.

Không bỏ lỡ cơ hội, anh đã gác công việc của mình qua một bên và đề nghị được mời người đàn ông một bữa cơm. Ban đầu, anh ta có chút nghi ngại. Điều này cũng chẳng có gì để mà phải thắc mắc tại sao, vì một người không quen không biết mời đi ăn không phải chuyện ngày nào cũng xảy ra. Tuy vậy, khi nghe anh nhắc tới việc mình quen biết “biên tập viên Kim”, người đàn ông đã gật đầu đồng ý. Anh ta có không ít tiền, chí ít thì cũng đủ để gây ấn tượng đối với nhân viên ngân hàng. Nhưng để tích cóp được số tiền ấy, anh ta không mấy khi được ăn uống no nê, thành ra khi nãy mới ăn hùng hục như vậy. Đưa tay đón lấy cốc trà mà người phục vụ mang ra, người đàn ông thổi phù phù cho nguội bớt rồi nhấp một ngụm, đoạn kể cho người đối diện nghe đầu đuôi câu chuyện.

Sau khi hay tin mình bị tình nghi là có liên đới tới một vụ mất tích, người đàn ông đã bỏ trốn trước khi cảnh sát đã ập tới cửa nhà. Nạn nhân Kim là một nam giới và là biên tập viên chương trình thời sự của đài truyền hình trung ương. Bởi vì tần suất xuất hiện trên sóng truyền hình tương đối lớn, nạn nhân khá nổi tiếng, do đó vụ việc đã nhận được sự chú ý từ phía công chúng. Người này bị cho là đã mất tích cách đây bốn năm và ở thời điểm nạn nhân biến mất, anh ta mới hai mươi bảy tuổi. Không tìm được nguyên nhân để khẳng định rằng nạn nhân tự mình bỏ đi hay là bị bắt cóc, không có thông tin đòi tiền chuộc, không có dấu hiệu nào cho thấy nạn nhân còn sống hay đã chết. Người nhà bệnh nhân thì ra sức đệ đơn yêu cầu điều tra, phía cảnh sát cũng gật gù ra vẻ họ đang dồn toàn lực để truy tìm hung thủ, nhưng không hiểu sao tới tận khi một cảnh sát thực tập mượn tư liệu của các vụ án cũ để làm tài liệu phục vụ việc học tập, họ mới tìm ra được nhân vật khả nghi xuất hiện trong rất nhiều máy quay an ninh được lắp đặt trên lộ trình mà nạn nhân thường xuyên sử dụng.

Theo các đoạn băng được sao lại từ máy quay an ninh tại các con phố và máy quay bên ngoài cửa hàng tiện lợi, bên ngoài cửa hàng đá quý và bên ngoài ngân hàng thành phố, người đàn ông được khẳng định là đã xuất hiện tại ba địa điểm mà nạn nhân thường xuyên đi qua trên đường từ đài truyền hình về nhà. Sẽ chẳng có gì đáng bận tâm, nếu như anh ta không xuất hiện sau khi nạn nhân xuất hiện chỉ một phút. Một sự tắc trách, một sự qua loa đại khái của cảnh sát, hay một sự xuất sắc của một cảnh sát thực tập, người ta còn phải tốn một thời gian để quy chiếu xem trách nhiệm thuộc về bên nào rồi mới chịu bắt tay vào điều tra. Bên phía các cảnh sát trực tiếp điều tra vụ việc năm đó thì nói chắc như đinh đóng cột rằng họ không hề tìm thấy người đàn ông đó vào thời điểm bốn năm về trước và ra sức tìm cách để lấp liếm sai phạm trong quá trình điều tra của mình bằng cách ngăn cản quá trình lật lại vụ án.

Trên các trang mạng xã hội, rất nhiều lời đồn thổi về việc cảnh sát cố tình che đậy vụ việc này vì hung thủ có liên quan tới “những nhân vật máu mặt”. Bởi lẽ, không phải chỉ một, hai người, mà cả đất nước đều biết mặt biên tập viên kia. Một vụ mất tích gây rúng động dư luận như vậy không thể nào được điều tra một cách thiếu trách nhiệm như vậy được, nhưng lại bị gạt sang một bên và bị khép lại một cách cực kì cẩu thả, cho nên nhất định là phải có dính líu tới con ông quan nọ, cháu ông quan kia, chứ nếu không thì đã chẳng thành ra như vậy.

Những người trên mạng nói chuyện như thể trong số họ có ai đó thực sự quan tâm tới câu chuyện bốn năm về trước, hay họ đã thu thập chữ kí để gửi lên văn phòng chính phủ, gây áp lực buộc cảnh sát phải mở một cuộc điều tra. Không phải là lần đầu tiên một vụ việc mà khi nó mới nổ ra, ai ai cũng tin chắc rằng nó sẽ bị làm rùm beng một thời gian dài sau đó, nhưng cuối cùng lại cứ như vậy mà chìm dần xuống, cứ như thể chưa từng xảy ra. Một biên tập viên của một đài truyền hình lớn đột nhiên mất tích. Nạn nhân bị mất tích không hề có một lí do nào để trốn chạy khỏi cuộc sống. Lời khai đến từ người thân và bạn bè của nạn nhân đều thống nhất ở một điểm, đó là người đàn ông hai mươi bảy tuổi kia không phải kiểu người cứ như vậy mà mất tăm mất tích. Nhưng qua cách xào nấu của báo chí, người ta dần tin vào việc biên tập viên ấy có thể đã quá mệt mỏi với cuộc sống thường nhật nên đi đâu đó để giải khuây. Chỉ cho tới khi mọi người tá hoả vì không một tung tích gì về nạn nhân được tìm thấy thì thời gian vàng trong công cuộc tìm người mất tích đã sớm qua mất rồi. Tới lúc này, người ta mới bắt đầu đổ lỗi cho chính phủ, cho cảnh sát. Không một ai nghĩ tới việc chính họ cũng đã bàng quan tới mức lãnh cảm khi nghe thông tin về một biên tập viên không bao giờ xuất hiện trên truyền hình thêm lần nữa. Họ không nghĩ rằng nếu như một ai đó, đôi khi chỉ cần một người thôi cũng được, lắng nghe lời khẩn cầu của gia đình nạn nhân và quyết tâm làm đến cùng vụ việc ấy thì mọi thứ có thể đã rất khác.

Còn về phía cảnh sát thực tập kia, sau mười mấy tiếng đồng hồ xem đi xem lại các đoạn băng ghi hình đã chuyển giao bằng chứng cho viện kiểm sát, yêu cầu điều tra lại vụ án đó. Tới lúc này, cảnh sát mới chịu bắt tay vào điều tra. Có giấy phép khám xét nhà, họ thực sự đã lật từng viên gạch trong nhà lên để tìm kiếm mà không hề có kết quả gì. Người đàn ông đã bị thẩm vấn trong vòng hai mươi tư giờ đồng hồ, sau đó được thả ra, để rồi liên tục bị triệu tập trong nhiều tuần lễ. Tuy rằng rất mệt mỏi và sợ hãi khi được dẫn vào trụ sở cảnh sát, anh ta nói rằng mình đã không còn khúm núm vì phải đứng giữa những người mặc đồng phục nữa. Ngoại trừ một chút phiền hà lúc trả lời các câu hỏi lặp đi lặp lại, người đàn ông cảm thấy khá hài lòng, có khi là vui thích khi tới gặp các “đồng chí cảnh sát”. Để xem họ làm gì được tôi, anh ta vừa khua chân múa tay vừa bảo như vậy khi vỗ vỗ vào ngực mình, khuôn mặt tràn trề quyết tâm như thể muốn nói mình đã chịu đòn đủ nhiều rồi, không ai dám ép cung mà bắt mình phải nhận tội trạng mà mình không làm. Cảnh sát còn định tạo bằng chứng giả để nhanh nhanh chóng chóng khép tội người đàn ông, nhưng anh ta đã đưa ra một lời khai khác khiến toàn bộ câu chuyện chuyển hướng.

Người đàn ông nói rằng có một người thuê anh ta đem một chiếc túi lớn ra bãi rác, anh ta phát hiện ra bên trong túi là xác chết, vì hoảng loạn nên đã tìm tới biên tập viên Kim để nhờ giúp đỡ. Trước đây, biên tập viên Kim đã từng thực hiện một phóng sự về quá trình giải toả mặt bằng không mấy ổn thoả ở ngay gần khu vực mà người đàn ông sinh sống, cho nên cả hai đã quen biết nhau trong thời gian này. Biên tập viên Kim mua cho người đàn ông một chiếc điện thoại di động và đưa cho anh ta số liên lạc của mình, đề phòng khi có vấn đề gì liên quan tới việc giải toả mặt bằng ở đó thì nhanh chóng thông tin cho mình biết trước. Có lẽ, vị biên tập viên này cũng không ngờ rằng người kia lại liên lạc với mình sớm như vậy, càng không nghĩ lại là vì anh ta tìm thấy một cái xác. Vì một lí do nào đó, biên tập viên Kim muốn tự mình điều tra thay vì lập tức báo cảnh sát. Trong thời gian này, biên tập viên Kim thường xuyên liên lạc với người đàn ông, nhưng đồng thời lại không mong muốn có người biết về việc mình qua lại với anh ta, cho nên mới bảo anh ta đi phía sau mình. Sau khi biên tập viên mất tích, người đàn ông tất nhiên cũng biết chuyện. Khi ấy, anh ta hết sức lo sợ, nhưng quyết định cứ ở yên một chỗ chứ không vội chuyển đi nơi khác. Sống nơm nớp như vậy nhiều năm, tới tận bây giờ mới có người tìm tới.

“Lúc đó, tôi sợ lắm… Nhưng anh ấy nói rằng cứ để anh ấy giải quyết. Nếu tôi mà biết mọi chuyện thành như vậy, tôi sẽ không để anh Kim làm như thế.”

Cúi gằm mặt xuống, người đàn ông không dám nhìn người đối diện. Đan chặt hai bàn tay vào nhau, anh ta thở dài thườn thượt, mặt thuỗn ra như cái bơm. Căng mắt nhìn xuống vết bẩn két lại dưới sàn nhà, anh ta lấy chân di di lên vết bẩn như một nỗ lực để tự làm mình phân tâm nhưng bất thành. Người đàn ông có vẻ đã sống trong tội lỗi khi nghĩ rằng mình cũng phải chịu trách nhiệm cho sự mất tích của biên tập viên dũng cảm kia. Đã bốn năm trôi qua, còn sống thì phải thấy người mà nếu đã không may qua đời thì hẳn là phải thấy xác, nhưng không một ai biết Kim đã đi đâu khiến nhiều lời đồn đoán thi nhau nổi lên, vậy mà đã có một trong số những tin đồn ấy trở thành sự thật.

Người ta nói rằng vì Kim làm việc ở một đài truyền hình lớn, lại giao thiệp rất rộng, vô tình nhìn thấy thứ không nên thấy. Biết quá nhiều chưa bao giờ là tốt, nỗi buồn của nhà bác học và nỗi khiếp đảm của những kẻ thiếu bản lĩnh cũng đều bắt nguồn từ việc biết quá nhiều mà ra. Còn đối với những người quả cảm, biết quá nhiều thường khiến họ mang hoạ vào thân. Bởi vì những điều đã trông thấy, đã nghe thấy, không phải tất cả đều tốt đẹp, mà đã sai trái, ngang ngược, dễ gì họ chịu để yên? Hẳn là Kim đã biết được chuyện gì đó rất đáng sợ, nếu không thì người đó đã chẳng âm thầm điều tra một mình. Đụng chạm phải người không nên dây dưa, e là lành ít dữ nhiều. Trước đó, Kim đã nỗ lực hết sức để tìm cách đưa mọi chuyện ra ánh sáng bằng cách sử dụng báo chí và truyền thông để gây áp lực, chứng tỏ người này không có niềm tin vào cảnh sát. Bây giờ thì người đàn ông này đã nói ra chuyện đó với cảnh sát, sự an toàn của anh ta có lẽ cũng ít nhiều bị đe doạ. Cái miệng làm hại cái thân, câu này chẳng phải là nói cho vui.

Hiện tại thì cảnh sát đang tiến hành bảo vệ người đàn ông, vì anh ta là nhân chứng duy nhất về vụ việc lần đó. Địa điểm người đàn ông vứt chiếc túi đựng xác chết đã được xác nhận. Khi ấy, Kim không hề biết rằng mình sẽ bị mất tích và bốn năm sau mà vẫn chưa điều tra xong. Bản thân người đàn ông cũng không đủ thông minh để nghĩ tới chuyện nói với cảnh sát, do đó chiếc túi ở đâu thì vẫn còn nguyên ở đó. Chiếc túi được chôn xuống ngay trong bãi rác. Không tìm kiếm được bằng chứng nào để xác minh danh tính của cái xác, chỉ xác định được nạn nhân là nam giới, độ tuổi rơi vào khoảng từ mười bốn tới mười bảy tuổi, khó có thể lớn hơn mức tuổi đó. Cảnh sát cũng đã tiến hành đối chiếu mẫu AND với mẫu tóc của người nhà các nạn nhân nam mất tích có đặc điểm phù hợp – chỉ trong các trường hợp chưa được tìm thấy, do đó chỉ có ba trường hợp – trong địa bàn thành phố vào bốn năm trước nhưng không hề trùng khớp với bất cứ nạn nhân nào.

“Vì sao anh biết trong túi là xác người? Anh mở túi ra à?”

Người đối diện hỏi bằng giọng lạnh tanh. Vừa nghe thấy câu hỏi ấy, người đàn ông lập tức xanh mặt. Xem ra anh ta vẫn còn nhớ khá rõ những gì đã xảy ra bốn năm về trước, khi anh ta cầm tiền rồi xách chiếc túi ra bãi rác.

“Ban đầu tôi cũng có biết gì đâu. Người ta bảo là phải chuyển nhà, có nhiều đồ đạc cần phải vứt bớt đi. Nói thế thì tôi biết thế, nào có dám hỏi han gì. Cầm tiền xong là tôi đem cái túi đi luôn, không làm phiền người ta nữa. Túi du lịch, tôi xách bằng một tay, cầm như thế này này…” Người đàn ông giả vờ như đang nhấc túi bằng một tay để người đối diện dễ dàng hình dung. “Đi được một nửa đường thì mỏi tay quá, thành ra tôi mới vác cái túi lên vai. Có cái gì đó… giống khuỷu tay… đập vào vai tôi… Tôi biết là không nên nhìn trộm, nhưng thiết nghĩ là người ta đem bỏ đi rồi thì mình nhìn một tí cũng không sao, ai ngờ đâu…”

Người đàn ông nuốt nước bọt đánh ực một cái, run rẩy cầm cốc trà đã nguội ngắt lên mà uống cạn. Siết chặt chiếc cốc trong tay, người đàn ông sụt sịt, hai mắt bỗng chốc đỏ hoe. Thấy vậy, người đối diện nhẹ nhàng chuyển khăn giấy về phía anh ta. Khoanh tay trước ngực, người đối diện thần người ra một lúc rồi hỏi khẽ.

“Anh có nhớ gì về người đó không?”

“Tôi… tôi làm gì dám nhìn người ta… Thực ra không phải không nhìn thấy nhưng mà… tôi có nhìn lướt qua thôi chứ không dám nhìn thẳng… Ai lại nhìn chằm chằm người ta như vậy được… Người đó… người đó hình như bị đánh đau lắm…”

“Không, ý tôi là,” Thấy người đàn ông đang xoắn xuýt lại, biết anh ta đang hiểu lầm ý mình muốn hỏi, người đối diện bèn ngắt lời. “Ý tôi là anh có ấn tượng nào về người giao dịch… giao cho anh chiếc túi và trả tiền để anh vứt nó đi không?”

Người đối diện toan dùng từ “giao dịch”, nhưng thiết nghĩ nếu nói như vậy thì người đàn ông sẽ nghĩ rằng anh ta cũng tiếp tay cho tội ác đó nên liền đổi lại. Dù sao thì anh ta cũng đã chịu khổ đủ rồi, không nên khiến người ta áp lực thêm nữa. Lúc nãy khi ở ngân hàng, anh có liếc sang bàn dịch vụ đang hỗ trợ cho người đàn ông, đại khái cũng biết sơ sơ rằng anh ta định mua nhà. Chỗ tiền kia không biết là dành dụm mất bao nhiêu năm, kể cả khi còn lâu lắm mới mua được một căn nhà tạm cho là khang trang, nhưng một người có ý chí phấn đấu vươn lên như vậy lại bị níu chân bởi cảm giác tội lỗi vì điều mà mình không làm thì thật là đáng tiếc. Cũng trong lúc đó, anh nghe thấy người đàn ông khoe với nhân viên ngân hàng rằng mình đang học nghề mộc, nếu cố gắng thì tới đây sẽ được nhận vào xưởng gỗ để làm việc. Việc mà anh ta cần phải chú tâm là làm sao để sớm ổn định công việc, có kế sinh nhai, không phải đi nhặt nhạnh đầu thừa đuôi thẹo của người đời như trước nữa, chứ không phải là bận lòng vì chuyện này.

“Người đó trông thế nào?” Hít một hơi thật sâu, anh nén hơi thở trong lồng ngực, để câu hỏi bật ra như một mũi tên lao thẳng về phía người đàn ông.

Anh biết rằng mình đang hỏi một điều tương đối thừa thãi. Qua lời tường thuật của người đàn ông, ai cũng gần như chắc chắn rằng kẻ đã giao chiếc túi cho anh ta có liên quan không ít thì nhiều đến vụ án sát hại cậu thiếu niên tội nghiệp kia. Dễ có khi, chính kẻ đó còn là hung thủ đã trực tiếp gây ra cái chết thương tâm cho cậu bé. Tình tiết quan trọng như vậy, hẳn là nếu như có thể khai thác thì phía cảnh sát sẽ không bỏ qua. Tuy rằng sau bốn năm trời, ngoại hình của một người ắt sẽ có nhiều thay đổi, thậm chí nếu ấn tượng là trang phục hay đầu tóc thì coi như có nhớ được cũng không cung cấp được nhiều thông tin, nhưng nếu có bất cứ đầu mối nào thì người ta cũng sẽ tận dụng triệt để, còn anh ta thì có nhớ được bao nhiêu thì cũng đã khai ra cả rồi. Mà một khi đã khai ra toàn bộ, cảnh sát sẽ tự khắc bắt tay vào việc, có gì cũng không tới lượt anh bon chen. Là một công dân bình thường, anh chỉ có quyền ngồi yên và chờ đợi mà thôi. Giống như phần lớn những người khác. Những người hiểu rõ thế nào là uất ức khi trông thấy cảnh tình ngay lí gian mà không thể làm gì được. Nhưng không hiểu vì cớ gì, anh thực lòng muốn biết kẻ đó là ai.

Anh thực lòng muốn biết kẻ liên quan tới vụ mất tích biên tập viên Kim có ngoại hình như thế nào, và trong mắt người khác thì hắn ta là ai. Hắn ta có gì khác so với mọi người, hắn ta là loại người khiến người đối diện có ấn tượng như thế nào khi lần đầu gặp gỡ, hắn ta đã sinh tồn trong môi trường khắc nghiệt tới mức nào mà lại làm nên những chuyện kinh khủng như vậy, anh muốn được biết tất cả những điều ấy. Trong đầu anh, một bức chân dung đang dần được phác hoạ. Kẻ bỏ tiền ra thuê một người giúp mình vứt xác để xoá bỏ sự tồn tại của một người đã từng là một phần của thành phố này, cũng như cắt đứt mọi quan hệ của mình với những lùm xùm sau khi vụ việc bị phát hiện, rồi không những thế còn có liên hệ tới một vụ mất tích khác, kẻ không tầm thường như vậy sẽ toả ra sát khí lớn tới mức nào, anh thật không dám nghĩ. Dã tâm của kẻ đó thực lớn, và anh không thể không nhớ tới những tên sát nhân giết người không ghê tay mà mình từng được nghe nhắc tới trên báo đài mỗi khi thử tưởng tượng ra khuôn mặt của kẻ bí ẩn đó. Anh không tin rằng nhét một người vào trong một chiếc túi du lịch rồi nhờ người khác ném ra bãi rác là việc mà ai đó giống như anh – một người làm công ăn lương bình thường – sẽ làm. Hắn ta phải là một tên biến thái, một kẻ tâm thần, một tên điên vẫn đang nhởn nhơ ngoài kia, và chỉ nghĩ tới việc hắn khiến người ta biến mất như thể họ chưa từng có mặt trên đời, anh lại thấy lạnh dọc sống lưng.

Thế nhưng, câu trả lời của người đàn ông đã khiến anh điếng người. Gãi gãi đầu suy nghĩ, người đàn ông nhăn nhó mất một lúc rồi hạ giọng.

“Người đó… trông bình thường lắm.”

.

“Có tiện đường đi về đâu, anh đến đón em làm gì? Để em đi xe buýt về cũng được.”

“Sao lại để em đi xe buýt được? Hôm nay là buổi lên hình đầu tiên của em! Chúng mình phải cùng nhau đi ăn mừng chứ! Anh tính rồi, hôm nay không cần phải nấu nướng gì nữa, mình sẽ ra ngoài ăn lẩu Tứ Xuyên. Mấy hôm trước em cũng bảo là tự dưng thấy thèm ăn lẩu còn gì, hôm nay cho toại nguyện nhé!”

“Thế thì em đợi anh ở lối đi lên của hầm gửi xe nhé. Ở cổng chính nhiều người ra vào lắm, đánh xe vào đó thì có hơi bất tiện ạ.”

“Ừ, anh nhớ rồi. Mà đấy, em thấy không? Anh đã bảo là em sẽ làm tốt rồi mà em cứ lo mãi. Hôm nay về nhà phải đắp chăn rồi nằm ngủ thật ngoan đấy biết không? Đừng có dựng anh dậy lúc nửa đêm để cùng em duyệt lại bài nữa nhé, kiểu gì thì em của anh cũng làm được cả thôi.”

“Em xin lỗi anh nhé, tại em mà anh mất ngủ…”

“Ơ kìa, ý anh không phải như thế. Anh đang khen em cơ mà…?”

“Vâng… À, em đang bận chút việc, em gọi điện lại cho anh sau nhé?”

“Ừ… Nhưng mà này, Kim Doyoung!”

“Dạ?”

“Em có quên gì không?”

“Quên…”

“Anh thấy là hình như em quên gì đó thì phải.”

“Em yêu anh ạ.”

“Anh cũng yêu em. Nhưng mà em đừng dùng kính ngữ nữa…”

.

“Đừng quay phim em nữa mà…”

“Anh không quay cho em, anh đang quay cho anh. Tất cả những thước phim này đều cực kì quý giá với anh, ít nhất em cũng phải để anh lưu giữ lại những khoảnh khắc đẹp như thế này chứ. Mà em đang làm món gì thế?”

“Canh bí đỏ ạ.”

“Với thịt bò à?”

“Dạ vâng. Có được không ạ?”

“Được chứ được chứ, chỉ cần em nấu thì anh sẽ ăn hết thôi. Chà chà, nhìn này, Doyoungie đang cắt bí đỏ để chuẩn bị làm món canh này…”

“Nhưng hôm nọ mẹ bảo là thức ăn em nấu hơi mặn…”

“Nhưng thức ăn em nấu hợp khẩu vị của anh. Không sao đâu.”

“À, anh ơi em bảo cái này…”

“Ừ?”

“Ngày mai em phải đi làm sớm. Sắp tới bọn em sẽ thực hiện một phóng sự đặc biệt nên em phải đi tác nghiệp ngoài hiện trường. Sáng mai anh không cần đưa em đi làm đâu, em đi xe buýt cũng được.”

“Anh dậy sớm rồi đưa em đi nhé?”

“Thế cũng được ấy ạ…?”

“Được chứ sao không? Thống nhất như thế nhé, để anh đưa em đi làm.”

“Vâng…”

“Này, sao tự dưng em lại đỏ mặt thế?”

“Cảm ơn anh…”

“Cảm ơn suông như thế là không được đâu nhé.”

“Em yêu anh ạ.”

“Em lại thế rồi…”

.

“Doyoung! Ngày đầu tiên dọn vào căn hộ mới, em hãy phát biểu cảm tưởng nào! Máy quay đang bật đấy, em cứ nói đi.”

“Bởi vì chuyển nhà xong xuôi trước năm mới nên em thấy rất vui, với cả…”

“Với cả sao nào?”

“Với cả bây giờ nhà ở gần đài truyền hình rồi, anh không cần dậy sớm để lái xe đưa em đi làm nữa!”

“Thay vào đó, chúng ta sẽ cùng nhau đi bộ đi làm!”

“Đúng rồi ạ!”

“Vỗ tay nào!”

“Vỗ tay!”

“Sắp năm mới rồi, em có ước muốn gì đặc biệt không?”

“Đặc biệt ấy ạ…”

“Ừ, phải thật là đặc biệt vào. Nếu anh thấy chưa đủ đặc biệt thì em phải trả lời lại một lần nữa đấy nhé.”

“Em muốn kết hôn với anh.”

“Hả?”

“Chưa đủ đặc biệt ạ? Thế thì để em chọn cái khác…”

“Không… Em nói lại câu ban nãy đi!”

“Để em chọn cái khác…”

“Không không, câu trước đó cơ!”

“Chưa đủ đặc biệt…”

“Tua lại thêm lần nữa đi anh xem nào!”

“Em muốn kết hôn với anh…?”

“Chà… Mẹ sẽ cảm động lắm… Mẹ ơi, có người cầu hôn con thật đây này!”

“Thế anh có đồng ý không ạ…?”

“Lại đây.”

“…”

“Để anh hôn em một cái.”

“…”

“Cái này thay cho câu đồng ý nhé.”

.

“Kim Doyoung! Kim Doyoung hai-mươi-bảy-tuổi hãy nói gì đó đi nào!”

“Hôm nay em rất vui. Thực sự đấy, em rất vui vì được đón tuổi hai mươi bảy cùng với anh… Em không biết nói gì nữa đâu, nhưng em mong chúng ta sẽ mãi mãi hạnh phúc như bây giờ. Đúng rồi! Em sẽ không nói ra ước mơ của năm nay đâu, nhưng ước mơ của em vào sinh nhật năm ngoái là được đón sinh nhật cùng anh thêm một năm nữa đấy!”

“Thế tức là thêm mỗi một năm nữa thôi ấy hả?”

“Không ạ, phải càng lâu càng tốt chứ!”

“Nhưng em mới bảo là một năm nữa thôi kìa?”

“Thì mỗi năm em đều ước là… Ôi thôi chết, em lại lỡ nói ra mất rồi…”

“Anh chưa nghe thấy gì đâu, đừng lo.”

“…”

“Doyoung này…”

“Vâng?”

“Sinh nhật vui vẻ nhé.”

.

“Dạo này em có vẻ căng thẳng thế?”

“Vâng, độ này em hơi bận một chút. Sắp có phóng sự đặc biệt ạ.”

“Có chuyện gì thì phải nói ngay cho anh biết đấy nghe không?”

“Em biết mà.”

“Ngồi yên để anh bóp vai cho.”

“…”

“Thoải mái hơn không?”

“Anh này…”

“Ơi?”

“Em yêu anh nhiều lắm ạ.”

“Sao lúc nào em cũng dùng kính ngữ với anh thế?”

“Đấy là cách thể hiện tình cảm của em đấy. Anh không thích à?”

“Thích chứ, ngọt lắm. Nhưng anh mong em lúc nào cũng được thoải mái khi ở bên cạnh anh. Ở ngoài kia, em đã vất vả nhiều rồi, lúc ở nhà thì phải thật thư giãn chứ? Em là gia đình, là cuộc sống của anh. Anh cũng muốn là chỗ dựa cho em nữa…”

“Em chỉ muốn anh biết rằng anh là duy nhất của em. Youngho này, anh thực sự rất quan trọng với em.”

“Doyoung, em sao thế…?”

“Em không sao. Tự dưng em muốn anh biết điều ấy thôi.”

“…”

“Anh ơi, em yêu anh lắm ạ.”

“Thương mến, anh tự hào về em.”

.

Hít một hơi thật sâu rồi ngước lên nhìn bầu trời, nghe nói đó là cách hữu hiệu nhất để nước mắt không rơi. Người đàn ông đứng bên cạnh cũng học theo anh, hít một hơi thật sâu. Dùng tay tự mình đấm lưng, người đàn ông rít lên mấy tiếng xem chừng rất thoả mãn. Hôm nay, nhờ có người kia, anh ta đã được ăn một bữa phủ phê mà không tốn đồng nào. Quả nhiên không phải do mình tự bỏ tiền ra có khác, lúc nào được mời ăn cũng ngon miệng hơn bao nhiêu. Nhìn sang người kia đang lẳng lặng chỉnh lại áo khoác, người đàn ông thầm thì.

“Sau này, anh tính làm thế nào?”

“Tôi sẽ theo vụ này đến cùng…” Người bên cạnh bật cười. Nhìn về phía trước, anh phóng tầm mắt mà trông về phía tháp truyền hình nổi bần bật giữa trời đêm. Đoạn, anh quay sang gật đầu một cái với người đàn ông, ánh mắt bỗng chốc dịu dàng đến lạ, giọng nói cũng mềm mỏng hơn. Tâm trí anh giờ đây đang hướng về một người nào đó gần thật gần, mà xa thì cũng thật xa. Người đó đã từng là tất cả những gì anh có, là quá khứ, là hiện tại, là cả tương lai, và cho tới tận giờ phút này, cũng chính người đó trở thành ánh sáng của anh. Suốt bốn năm nay, anh luôn thấy mình như đã chết từ tận sâu bên trong. Đau khổ, tuyệt vọng, xen lẫn với hạnh phúc mỗi khi hoài niệm về những năm tháng đã qua cùng những hi vọng nhen lên rồi lại tắt ngấm, anh đã sống như thế trong bốn năm trời. Anh chưa bao giờ khủng hoảng đến như vậy trong đời. Anh đã từng cô đơn, cũng từng tìm được một người khiến anh không còn bị ám ảnh với chính sự quạnh hiu của mình nữa, và rồi lại bị ném trả lại với bóng tối của địa ngục, nơi mà sự trống rỗng ngự trị. Nhưng hôm nay, trong tâm trí anh có Doyoung. Doyoung đang ở đây, bên trong anh, sưởi ấm tâm hồn anh. Đâu đây, anh vẫn có thể nghe thấy tiếng cười ngại ngùng của người bạn đời. Doyoung khi ở cùng anh là một người dễ xấu hổ, nhưng khi đối diện với thế giới đầy những cạm bẫy, hiểm nguy, thì tri kỉ của anh lại là biên tập viên Kim hiên ngang, trung thực. Anh sẽ theo vụ này cho tới cùng, vì Doyoung, vì người đàn ông kia, vì cậu bé đã phải ra đi trong tức tưởi, và vì chính bản thân anh.

Biết là mình cần phải cứng cỏi, nhưng trái tim anh vẫn đau buốt như kim châm.

“Sao anh lại nói ra mọi chuyện cho tôi biết?” Cúi đầu, anh hỏi nhỏ.

“Bởi vì anh là Suh Youngho.”

Giật mình trước câu trả lời của người đàn ông, anh ngơ ngác ngẩng đầu lên. Người đàn ông buộc lại mái tóc dài của mình thật cẩn thận, đoạn mỉm cười. Không biết có phải do anh đang khóc nên mới nhìn lầm hay không, mà đôi mắt người kia cũng đã ầng ậng nước từ bao giờ.

“Anh Kim có bảo với tôi, nếu như có một người tên Suh Youngho tìm tới, tôi có thể nói ra hết sự thật cho người đó nghe.”

Nấc lên một tiếng, người đàn ông nghẹn ngào đưa tay lên chùi nước mắt.

“Anh Kim nói rằng chắc chắn anh sẽ không bỏ rơi anh ấy.”

Anh ơi, em yêu anh nhiều lắm ạ.

Em chỉ muốn anh biết rằng anh là duy nhất của em. Youngho này, anh thực sự rất quan trọng với em.

“Sẽ không,” Bật cười thành tiếng, Suh Youngho lắc đầu. Cúi đầu chào tạm biệt người đàn ông, anh lững thững bước ra xe. Rồi, như không kìm được nữa, anh gục đầu vào cửa xe mà khóc nấc lên thành tiếng. Tiếng khóc dần chuyển thành những tiếng rít cùng tiếng nghiến răng ken két. Bốn năm. Em ơi, bốn năm rồi. Bốn năm, mười bốn năm, bốn mươi năm, hay cả đời này, anh nhất định sẽ tìm được em.

Em muốn kết hôn với anh.

“Em ơi… Em ơi, bốn năm rồi…”

 

Advertisements
Posted in my johnny, night night (II), Triphenylmethane Project

[Oneshot | Triphenylmethane Project #E131 | #JohnDo] 風物詩; (fuubutsushi;)

41574263022_08c15817c1_o

Author: D

Beta: Trịnh Ánh

Requested by: Grace

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Character(s): Suh Youngho (NCT Johnny), Kim Dongyoung (NCT Doyoung)

Categories: sci-fi, HE

Rating: K

Summary: “Tới đây đi. Ngủ một mình buồn lắm.”

 

 

風物詩; (fuubutsushi;)

Thank you for being you, little guardian.

 

風物詩 (fuubutsushi) (n.): the things – feelings, scents, images – that evokes memories or anticipation of a particular season.

Sống trong một toà cao ốc, ngủ trong một cái kén, ngày ngày dán mắt vào màn hình ti vi, chỉ cần không có điện thoại hoặc máy tính là sẽ tự động cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài, ngồi trong những chiếc ô tô có chế độ lái tự động, và ăn đồ đóng hộp hết ngày này qua ngày khác. Nói cho đúng hơn, là sống trong một cái hộp, ngủ trong một cái hộp, nhìn chằm chằm vào một cái hộp, nói chuyện với một cái hộp, di chuyển trong một cái hộp, và ăn những thức ăn chế biến sẵn được đặt trong một cái hộp. Ngày qua ngày, mọi thứ cứ lặp đi lặp lại. Chẳng có gì thay đổi cả. Thứ duy nhất thay đổi, có lẽ chỉ có con người mà thôi.

Người ta thậm chí còn nghĩ ra cách để nén cả bốn mùa vào trong một cái hộp. Họ đặt tên cho cái hộp kì diệu ấy là “màn hình”. Những chiếc màn hình hoạt động không ngừng nghỉ suốt ngày đêm. Cách duy nhất để tắt chúng đi chính là ngắt đường dây kết nối mạng, và ai cũng biết rằng một khi làm như thế thì cả thành phố cũng sẽ chết, cho nên không một ai ngu ngốc mà hành động theo cách ấy chỉ để chống đối việc một cái màn hình phá hỏng giấc ngủ của họ cả. Để chìm vào giấc ngủ say, họ có những viên thuốc màu trắng được đặt trong một chiếc hộp khác, nhưng không có đường dây kết nối mạng thì đèn điện sẽ tắt, hệ thống giao thông công cộng bị đình trệ, ngân hàng không thể làm việc, và nhà máy sẽ phải đóng cửa.

Dại dột. Vô cùng dại dột khi tìm cách phá hoại cuộc sống của rất nhiều người khác khi tìm cách cắt đường dây duy nhất kết nối mọi thứ lại với nhau, và người ta cho rằng việc làm ấy ngu xuẩn không kém so với việc kết nối tất cả mọi thứ bằng một đường dây duy nhất. Người ta vẫn sống, vẫn làm việc, và những chiếc màn hình thì vẫn cứ chạy bất kể sự thật rằng chẳng mấy ai có thì giờ mà để mắt tới nó. Một phần lí do khiến người ta cho rằng việc lắp đặt màn hình cả ngoài đường và trong nhà là cực kì quá đáng, bởi lẽ chúng chẳng giải quyết một vấn đề gì ngoại trừ khiến cho căn hộ trở nên sống động hơn một chút ngay cả khi người ta chỉ sống một mình.

Tuy vậy, có lẽ người đã thiết kế ra hệ thống màn hình ấy sẽ rất cảm động khi biết được mình đã cứu được rất nhiều người khỏi tự sát vì nhàm chán. Một vài người không có việc gì khác để làm ngoại trừ dõi theo những gì diễn ra trên màn hình, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, và tất nhiên là họ luôn có nhu cầu được xem những thứ mới mẻ thay vì lặp đi lặp lại một nội dung, còn các chương trình được phát trên màn hình thì hiếm khi nào trùng lặp. Thứ bị lặp đi lặp lại nhiều lần chỉ có chương trình quảng cáo, nhưng người ta thà xem đi xem lại cảnh một người phụ nữ tỏ vẻ bí hiểm bước lại gần máy quay chỉ để nói một vài câu rồi bỏ túi mấy triệu đô còn hơn là nghĩ tới chuyện dời mắt khỏi màn hình. Những người như vậy hầu như không ra khỏi nhà. Họ sợ mình sẽ bỏ lỡ gì đó trên màn hình, do đó họ chấp nhận việc bỏ lỡ rất nhiều điều khác nữa.

Những chiếc màn hình ấy thực sự chứa đựng cả bốn mùa. Hoa anh đào nở rộ vào mùa xuân, những cây kem mát lạnh trong quầy hàng giữa một ngày hè trời nóng hầm hập như lò lửa, lá đỏ một chiều thu se se lạnh, và hàng cây oằn mình trong gió đông khi sương bảng lảng vắt mình trên cành khô, vừa từa tựa khăn voan, vừa nhang nhác khăn tang, mọi thứ đều xuất hiện trên màn hình, đầy đủ, chi tiết và cặn kẽ. Chẳng cần phải ra khỏi nhà trong khi tất cả những gì đang xảy ra ở khắp nơi đều quy tụ lại trên một chiếc màn hình. Vả lại, thế giới bên ngoài cũng không còn thu hút người ta nhiều tới mức khiến họ có đủ can đảm để bước một chân ra khỏi cửa nhà mình nữa. Ở ngoài kia, đâu đâu cũng nhan nhản những kẻ xa lạ. Người ta đi lướt qua nhau, thậm chí còn không buồn ngẩng đầu lên lấy một lần. Nếu như có ai đó tới gần với một nụ cười trên môi, tám mươi phần trăm là đang muốn giao bán một thứ gì đó ế ẩm tới mức bị trang web bán hàng gỡ khỏi trang chủ. Không còn nhiều người thắc mắc về việc có phải mình đang bị cô lập hay không. Ngược lại, họ thấy thoải mái khi được ở trong thế giới riêng và luôn biết ơn vì người khác để mình được yên.

Cũng bởi vì chỉ nhìn vào màn hình suốt ngày như vậy, họ dần quên đi cảm giác một cơn gió thoảng mơn man da thịt mình. Chưa bao giờ, con người lại ái ngại việc dạo bước ngoài phố trong một ngày nắng đẹp tới như vậy. Hương thơm của hoa, của cỏ ngọt, của trái cây, của thức ăn nóng sốt không gợi nhắc họ nhớ về bất cứ một ai, một điều gì, hay một ấn tượng nào về một thời đã qua. Kể cả khi có vô tình nhận ra một mùi hương quen thuộc nào đó, xuất hiện đầu tiên trong tâm trí họ không phải kí ức mà là cảm giác khó chịu khi đột nhiên bị làm cho phân tâm. Họ cần phải tập trung vào việc mình đang làm, bởi vì họ lúc nào cũng bận rộn và thời gian thì chẳng bao giờ chờ đợi một ai. Họ đang già đi từng ngày, nhưng kể từ khi y học phát triển, tuổi thọ của họ cũng được kéo dài hơn rất nhiều. Người ta không còn vội vã vì nghĩ rằng mình không có nhiều thời gian để sống nhiều như những người sống cách họ vài thế kỉ lo sợ, nhưng chính bản thân họ cũng không tìm ra được nguyên nhân vì sao mình lúc nào cũng phải chạy hết tốc lực như vậy.

Họ không cần tới nhau để tồn tại nữa. Những nhà máy một người, những nhà hát một người, và rồi cả những đội quân một người tồn tại như một minh chứng cho điều ấy, rằng họ không nhất thiết phải để cho ai đó xen vào cuộc sống của mình. Không cần kết hôn để có một người bầu bạn, không cần sinh nở để có những đứa trẻ xinh xắn, kháu khỉnh. Họ không cần tới nhau, nên họ cũng chẳng màng tới chính bản thân mình. Người ta không ngừng tiến về phía trước, và ngay cả khi không biết rằng mình sẽ đi về đâu thì họ vẫn đi nhanh tới độ chẳng kịp nhận ra mình vừa mới bỏ lại điều gì phía sau. Một ai đó đang chờ đợi họ, một ai đó đang ngóng trông họ, một ai đó thực lòng quan tâm đến họ, một ai đó lặng lẽ đứng phía sau, nhìn theo bóng lưng đơn côi của họ dần hoà vào làm một với màn đêm lạnh lẽo chất đống máy móc và kim loại, chấp nhận bị coi là một kẻ lạc hậu đi sau thời đại, sau cùng cũng chỉ để níu giữ một phần những gì còn sót lại của tâm hồn yếu đuối nào đó vừa mới bị cuốn phăng đi bởi vòng xoáy kinh hoàng mà thời đại này sinh ra. Người đó cũng chỉ là một đứa trẻ lạc lối, nhưng lại tự cho rằng mình phải có trách nhiệm cõng trên lưng một đứa trẻ khác rồi lại huyễn hoặc bản thân rằng chỉ có mình – và một mình mình – là gia đình, hay là cả thế giới của đứa bé ấy. Cái giá phải trả của một kẻ mộng mơ bấu víu vào mỏm đá nhô ra phía ngoài rìa sự thật là một cú ngã thịt nát xương tan. Nhưng kể cả khi biết rằng mình đang rơi, tâm trí người đó vẫn chỉ hướng về một điều duy nhất, và điều ấy, không biết nên vui hay nên buồn, lại không phải là chiếc màn hình đã từng là một phần cuộc sống của họ.

Họ nhìn vào màn hình suốt hai mươi tư giờ một ngày không phải vì chẳng một ai tìm đến họ mà chuyện trò. Họ không thể ngừng dán mắt vào những điểm ảnh hiển thị trên màn hình vì chúng là những thứ duy nhất chịu nói chuyện với họ. Số lượng thì nhiều hơn một sợi dây cáp, nhưng lại mong manh hơn rất nhiều. Người ta tỏ ra không muốn nói chuyện với bất cứ ai, thực chất là để che đậy đi nỗi sợ hãi khi nhận ra kì thực mình nhung nhớ giọng nói không được lập trình sẵn như thế nào. Họ muốn bắt đầu một cuộc hội thoại. Một cuộc hội thoại thực sự, giữa con người với con người, không phải thông qua một cái hộp khác, hay một màn hình khác. Nhưng bởi vì đã quá lâu kể từ lần cuối cùng họ thực hiện giao tiếp, nên họ chỉ biết chờ đợi một ai đó chủ động bắt chuyện với mình. Chờ đợi, chờ đợi, rồi lại tiếp tục chờ đợi.

Có một người đã chờ một người tới tận tiết lập xuân.

Không rời mắt khỏi màn hình, Kim Dongyoung lặng yên ngắm nhìn những bông hoa được dựng bằng đồ hoạ rung rung trong gió. Ở một góc nào đó trong phòng, Suh Youngho đang thủng thẳng xử lý cho xong xuôi bữa tối. Dùng chiếc dĩa xắn từng miếng thịt hộp mà bỏ vào miệng, anh nhăn mặt ngậm một lúc chứ chưa nuốt ngay, nhíu mày xác định xem rốt cuộc mình đang cố gắng lấp đầy chỗ trống trong dạ dày bằng thứ gì. Thông tin trên vỏ hộp xem chừng chẳng thể giúp ích gì hơn, và anh chỉ biết rằng mình cần phải tống khứ cho xong chỗ này vào bụng để cơ thể không thiếu hụt một dưỡng chất nào đó. Ở thời điểm này, anh không thể để một chỉ số chưa đạt yêu cầu trên kết quả khám sức khoẻ ngăn cơ hội ngàn năm có một về tay mình. Không ít người mơ tới việc được luân chuyển từ chi nhánh con về công ty lớn và anh cũng là một trong số đó. Bỏ lỡ cơ hội lần này, Youngho sẽ phải chờ đợi thêm vài năm nữa. Khi ấy, tình thế rất có thể sẽ còn khó khăn hơn rất nhiều. Mỗi thời mỗi khác, ngay lúc này khi anh đang ngồi đây, mọi thứ cũng đang từng chút một thay đổi. Một vài năm tới, có khi sẽ chẳng ai cần tới những người như anh nữa.

Youngho không bao giờ quên được đám đông biểu tình bên ngoài toà nhà quốc hội năm ấy khi mà hàng loạt công nhân bị cho nghỉ việc do dây chuyền sản xuất đã được tự động hoá. Suốt nhiều ngày liên tục, họ chạy trên đường phố, đập phá các công trình công cộng, đốt pháo sáng, tấn công những người thi hành công vụ, tìm đủ mọi cách để được lắng nghe, và rồi tạm hài lòng khi người ta giao cho họ những công việc khác. Nhưng rồi thì những công việc ấy cũng chẳng còn nhu cầu về nhân lực nữa vì đã có máy móc làm việc và rõ ràng là máy móc thì luôn hiệu quả hơn, cũng ít tốn kém hơn, nên họ lại bị cắt giảm. Mất việc, họ lại biểu tình, lại phá phách, tệ nạn nổi lên ở khắp nơi. Một số người nghĩ tới chuyện khởi nghiệp. Họ tìm một hướng đi mới, phát triển nhiều loại hình dịch vụ hợp pháp, buôn bán thêm một số mặt hàng mà thị trường đang cần, nhưng không nhiều người thành công. Thế rồi họ lại xuống đường biểu tình. Dần dà, biểu tình biến thành bạo động. Một vòng luẩn quẩn cứ thế tiếp nối, còn công việc dành cho con người thì cứ ngày một ít dần.

Dongyoung cũng là một trong số những người bị mất việc như vậy. Cậu từng là một giám đốc công trình, cho tới khi công việc đó được giao cho người máy thực hiện. Chẳng một nơi nào có nhu cầu nhận thêm người khi họ đang ra sức cắt giảm nhân lực cả. Kể từ đó, Dongyoung ở nhà, và ở nhà thì đồng nghĩa với việc phải ngồi một chỗ vì không có gì để làm. Anh đã lường trước được việc cậu cảm thấy buồn chán nên mua về một màn hình cỡ lớn, nhưng lại không ngờ rằng điều ấy lại khiến mọi việc trở nên tồi tệ hơn. Dongyoung bây giờ thậm chí còn không buồn trò chuyện cùng anh nữa.

Mỗi khi về tới nhà, anh đều thấy cậu đang ngồi trước màn hình. Có nhiều khi, anh cố tình thức thật khuya để xem cậu có chịu về giường hay không, và phát hiện ra rất nhiều đêm Dongyoung thức trắng chứ không chịu nằm xuống mà chợp mắt một lát. Cậu cứ ngồi thu lu ở đó, không nói không rằng, đôi mắt như của người mất hồn hướng về phía màn hình. Trước đây, cậu vẫn thường ậm ừ cho qua mỗi khi anh hỏi về những gì cậu xem suốt một ngày dài như thế, nhưng bây giờ thì đến cả ngoảnh mặt lại nhìn anh, Dongyoung cũng thấy ngại, còn Youngho không thể nói rằng anh không thấy khó chịu khi thấy cậu như thế. Ở nơi làm việc, anh đã rất đau đầu khi phải vật lộn hàng giờ đồng hồ với những thứ anh chưa từng cho rằng mình sẽ phải đụng tay vào. Về nhà, anh mong muốn được ở bên cạnh người mình yêu, kể cho cậu nghe về những gì đang diễn ra ngoài kia, thậm chí là than vãn một vài câu về mấy vị khách hàng khó tính luôn biết cách làm tình làm tội người khác, rồi ôm cậu vào lòng mà chìm vào giấc ngủ. Nhưng anh cảm thấy dường như giữa mình và Dongyoung là một vách ngăn không thể tháo dỡ. Không một ai hay biết từ khi nào mà nó được dựng lên, lại càng không rõ làm thế nào để đánh sập nó mà không vô tình khiến người bên kia bức tường bị thương. Không một ai biết cả, nhưng cũng không thể cứ sống như thế này mãi được.

Youngho có cảm giác Dongyoung đang dần quên mất anh, và anh không muốn điều đó xảy ra. Đã từng có lần, cậu nói với anh rằng cậu chỉ yêu anh bằng một phần tư trái tim thôi. Trái tim có bốn ngăn, toàn bộ những gì liên quan tới gia đình, bạn bè, công việc, sở thích đều ở trong đó, nên dành riêng một ngăn dành cho anh đã là quá nhiều rồi. Khi ấy, Youngho vẫn nhớ rằng mình đã xúc động tới mức suýt chút nữa thì bật khóc trước mặt Dongyoung, nhưng giờ phút này thì anh không dám chắc mình có còn xuất hiện trong cuộc sống của cậu nữa hay không. Thực ra, họ có thể nói chuyện. Họ có thể nói chuyện ngay khi Youngho mở lời. Chẳng có gì khó khăn cả, chỉ là một câu nói để cậu đáp lại, và rồi họ sẽ nói về đủ thứ trên trời dưới biển, giống như trước đây. Không phải anh không nhận ra rằng Dongyoung đã ngừng nói chuyện với anh ngay khi anh thôi việc chào cậu mỗi khi về nhà. Anh không muốn làm phiền cậu, vậy thì cậu có lẽ cũng chẳng muốn phiền tới anh. Nhưng anh không thể cứ như vậy mà hỏi Dongyoung, “em à, dạo này em thế nào” được.

Có những lời không phải là không thể nói ra, nhưng chẳng hiểu sao cứ tới đầu lưỡi là lại lập tức tan biến. Mỗi bận tiến tới gần Dongyoung, anh lại thấy đầu óc mình trống rỗng và thoảng hoặc đâu đây một thứ mùi hương thật lạ kì. Mùi của nước xả vải, và mùi của quần áo được hong khô ngày nắng. Chẳng biết vì lẽ gì, anh không tài nào nhớ ra được mình đã từng ngửi thấy mùi hương ấy ở đâu, hay là vào lúc nào. Chỉ biết rằng, cứ hễ khi nào mùi hương ấy thoảng qua, anh lại thấy nhói đau nơi ngực trái. Anh nhớ, nhưng lại chỉ nhớ được cảm giác của nó mà thôi, chứ tuyệt nhiên không tài nào xác định được nó từ đâu mà đến. Buồn bực, Youngho chẳng thiết tha ăn uống gì nữa. Nhét hộp thức ăn vào tủ lạnh, anh nhanh nhanh chóng chóng đánh răng rồi trèo lên giường. Đưa mắt nhìn Dongyoung, như bị thôi thúc bởi một thế lực không tên, anh thủng thẳng lên tiếng. Tới tận khi nói xong một câu hoàn chỉnh, Youngho mới ngỡ ngàng khi nhận ra mình thực sự vừa mới nói chuyện với Dongyoung. Việc khiến anh trăn trở bấy lâu nay, không dưng được giải quyết chỉ trong nháy mắt.

“Tới đây đi. Ngủ một mình buồn lắm.”

Anh biết Dongyoung nghe thấy tiếng anh gọi, vì hai vai cậu đang so lại. Mỗi khi hoảng sợ, Dongyoung luôn như vậy. Buông một tiếng thở dài, Youngho toan nằm xuống. Nào ngờ, trước con mắt sửng sốt của anh, Dongyoung từ từ đứng dậy. Vì ngồi lâu một chỗ, cậu loạng choang mãi mà không sao đứng vững được. Lo rằng cậu sẽ bị ngã rồi tự làm đau mình, anh vội rời khỏi giường. Vươn tay đỡ lấy người Dongyoung, anh khẽ lắc đầu.

“Để anh.”

Khi thường, không bao giờ có chuyện Dongyoung để anh làm như thế. Nhưng hôm nay, có vẻ như đã thấm mệt, cậu khẽ gật đầu. Nhẹ nhàng nhấc bổng Dongyoung lên, Youngho thong thả đưa cậu về giường. Đèn cảm ứng tự động tắt theo từng bước chân anh. Cuối cùng, trong phòng, chỉ có màn hình là còn sáng. Chỉnh lại gối rồi cẩn thận đặt Dongyoung nằm xuống, Youngho ngả lưng bên cạnh cậu. Tính ra, mặc dù anh đã nói chuyện với Dongyoung và đưa cậu đi ngủ, nhưng Dongyoung vẫn chưa nói với anh một câu nào. Nghiêng người trên giường, Youngho vòng tay ôm lấy người bên cạnh. Ánh sáng xanh từ màn hình hắt lên bức tường trắng phía sau lưng Dongyoung khiến chiếc bóng của cậu như được hoạ lên tường. Anh không nhớ đã bao lâu rồi mình mới được ôm Dongyoung như thế này. Có thể là từ khi cậu không còn muốn nhìn mặt anh nữa, cũng có thể là từ lúc anh quá bận rộn tới mức chẳng còn thời gian mà nghe cậu nói cho hết câu.

Nhưng anh nhận ra, và cũng chỉ vừa mới nhận ra thôi, rằng Dongyoung chờ đợi khoảnh khắc được vùi mình vào lồng ngực anh – như cách cậu đang làm lúc này đây – không kém gì anh mong ước được ở bên cạnh cậu, bình yên và nhẹ nhõm. Mỗi ngày, cậu đều ngồi đó. Cậu ngồi đó để chờ đợi một sự quan tâm nơi anh. Cậu ngồi đó để chờ đợi một lời chào. Không phải là “em dạo này sao rồi?”, mà là “em yêu, anh về rồi.” Dongyoung đã chờ đợi anh quan tâm cậu như cách mà anh vẫn làm từ rất nhiều năm trước đây, theo cách mà anh cho là mình đang quấy rầy cậu mà không thể ngờ rằng lại là điều mà cậu cần tới nhất. Chính vì thế, cho nên ngay khi nghe thấy tiếng anh gọi, cậu đã rời mắt khỏi màn hình để quay về bên anh mà nhìn anh bằng đôi mắt trong veo ngân ngấn nước. Dongyoung đã đợi anh lâu như thế, trong khi anh thầm oán trách cậu vô tâm. Cảm giác tội lỗi cứ thế dấy lên trong lòng Youngho. Chẳng biết làm thế nào, anh cứ nằm yên mà xoa lưng cậu. Cứ ngỡ như mình có rất nhiều chuyện để nói, ấy thế mà ngay khi ôm lấy Dongyoung vào lòng, anh lại chỉ muốn được sống mãi trong giây phút này mà thôi.

Mùi hương trên cơ thể Dongyoung lan toả trong khoảng không xung quanh cả hai. Mùi của nắng mới, của nước xả vải, và của quần áo vừa mới được hong khô. Họ đang sống trong một chiếc hộp, ngày ngày chui vào trong một chiếc hộp khác. Chiếc hộp của họ chứa đựng cả bốn mùa, và có lắm khi, họ không nhận thức được mình đang trải qua mùa nào trong năm. Mọi thứ cứ trộn lẫn vào nhau. Cuộc sống hiện đại chính là như vậy, luôn là một mớ hỗn độn không hơn. Họ không thể nhớ về nhau mỗi khi ngắm nhìn hàng cây thay lá, mỗi khi không gian đượm hương cây cỏ, hay những lúc hoa thắm đua sắc khoe hương. Một khi trái tim đã hướng về nhau, họ không cần phải trông, phải thấy, phải cảm từng ấy điều thì mới thấy trong lòng chộn rộn nỗi nhớ người yêu. Không phải lúc nào cũng nhớ, nhưng lúc nào cũng thương, cho nên dấu yêu chan chứa suốt bốn mùa.

“Anh rất nhớ một phần tư trái tim của anh. Cảm ơn em vì đã trả lại nó nhé.”

“Ngủ ngon, Youngho.”

“Ngủ ngon, Dongyoung.”

 

 

Posted in my johnny, night night (II), Triphenylmethane Project

[Oneshot | Triphenylmethane Project #E131 | #JohnDo] (not) on record (Genève, 1954)

D11_ZjeUgAADjvF

Author: Trịnh Ánh

Requested by: Cà Chua

Special Requirement: từ 9120 đến 9596 chữ

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Character(s): Soldier S (NCT Johnny), Soldier K (NCT Doyoung)

Categories: vietnam war!au; peggy sue (time travel, NOT mary sue); tragedy

Rating: K+

Summary:

“Em giữ áo khoác của anh nhé. Cái áo khoác da ấy.”

“Cứ lấy đi. Mà này, K!”

“Dạ vâng?”

“…Thôi, không có gì đâu.”

“Anh này.”

“…”

“Yêu anh.”

“Yêu em.”

(not) on record (Genève, 1954)

“Em là một chú sói.”

“Sao anh lại nói thế?”

“Vì hổ và sư tử đều rất mạnh, nhưng chỉ có sói là chưa từng xuất hiện trong rạp xiếc để mua vui.”

.

“Nhớ lấy lời anh. Đừng tin tưởng bất cứ ai.”

“Anh đẩy em, nhưng lại giữ lấy em để em không ngã. Riêng chuyện này em đã thấy anh không đáng tin chút nào rồi.”

.

“Em không thể đi cùng anh được ạ?”

“Cơ thể em hẵng còn yếu lắm. Cho tới khi em khoẻ hơn, chúng ta sẽ đi cùng nhau.”

“Anh có dám hứa với em không?”

“Không.”

.

“Em lấy áo khoác của anh nhé. Cái áo khoác da ấy.”

“Cứ lấy đi. Mà này, K!”

“Dạ vâng?”

“…Thôi, không có gì đâu.”

“Anh này.”

“…”

“Yêu anh.”

“Yêu em.”

.

Các cuộc chiến trong lịch sử thường được ghi chép vô cùng cẩn thận. Không phải cho tới tân bây giờ, người ta mới duy trì thói quen ấy. Đã từ rất lâu, bằng một cảm quan nào đó rất khó để miêu tả, những người cổ đại, hay trung đại, đã tâm niệm rằng họ cần phải cho thế hệ sau biết được tất thảy mọi sự, về cách mà họ dựng nước, về cách mà họ giữ nước, về cách mà họ đã đánh trả để không chịu bỏ lại một tấc đất của quê hương. Như một lẽ tất yếu, họ chỉ cho con cháu của mình biết những điều mà họ mong muốn chúng biết, và với chủ trương ấy, phần lớn các cuộc chiến đều được tô hồng, trở thành chiến tranh vệ quốc, nơi mà người lính tràn trề nhiệt huyết xung trận, chiến đấu bằng cả sức trẻ của mình, rồi hi sinh mà không ngại ngần, nghĩ suy. Những người lính ấy không chần chừ nướng mình trong biển lửa để phục vụ cho Tổ quốc, và bắt nguồn từ hình tượng cao đẹp ấy, những người chép sử hi vọng họ có thể khích lệ được tinh thần vì nước quên thân của thế hệ sau, đồng thời cho chúng thấy được vẻ đẹp của lòng ái quốc. Thực vậy, nếu như muốn biết về cuộc chiến dưới một góc độ khác để hiểu rõ mình đã từng bị dắt mũi như thế nào, người ta phải cất công sang một vùng lãnh thổ xa xôi, đọc lại những tài liệu, những ghi chép của họ. Có như vậy, chúng ta mới biết mình đã bỏ lỡi mất bao nhiêu điều, cũng đã bị đánh lừa hết bao nhiêu lần.

Nhưng có một vài cuộc chiến không nhất thiết phải được ghi chép lại. Không phải là bởi vì không một ai biết về nó, hay là nó không đủ tiếng tăm, đáng xấu hổ hoặc gì đó tương tự, mà là tốt hơn hết thì không một ai nên nhớ tới nó cả. Nó chìm vào quên lãng càng lâu thì càng tốt, càng ít câu hỏi được đưa ra xung quanh nó càng nhiều thì lại càng hay. Những người từng góp mặt trong cuộc chiến ấy sẽ hết sức biết ơn khi không một ai chất vấn họ về việc làm thế nào mà họ có thể sống sốt để mà rời khỏi trận địa, hay là họ đã sống ra sao trong suốt thời gian ấy. Một vài người trong số họ không dễ bắt chuyện cho lắm, và hẳn là không có hứng thú đối với các câu hỏi ngớ ngẩn mà mấy tay nhà báo có thể nghĩ tới hòng thu hút sự chú ý của công chúng trên các phương tiện truyền thông, nhất là khi các câu trả lời lại xoay quanh cuộc chiến lớn nhất cuộc đời họ. Nó là một bước ngoặt. Nhiều hơn một sự thay đổi của chính họ, cuộc chiến ấy là một cột mốc để mà từ đó, lịch sử chính thức chia thành hai ngả, một là khi cuộc chiến không xảy ra, và hai là thực tại mà chúng ta đang sống.

Không có một tư liệu nào ghi lại những gì đã xảy ra. Thậm chí, trước khi bắt đầu cuộc chiến, họ còn phải thực hiện một vài thủ tục để từ bỏ quyền lợi của mình, nhằm đảm bảo rằng khi có bất kì một bất trắc nào xảy ra dù chỉ là nhỏ nhất, không một cá nhân hay tập thể nào có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm với họ. Bình thường, tính mạng của họ thuộc về chính phủ. Kể cả khi có phải hi sinh thân mình vì nhiệm vụ, họ vẫn phải nhất nhất tuân theo. Thế nhưng, khi dấn thân vào cuộc chiến mà không một ai biết tới ngoại trừ chính bản thân những người trong cuộc mà hai phần ba trong số họ không dám mơ tới ngày an toàn trở về, mạng sống của họ lần đầu tiên phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định mà họ đưa ra. Chỉ có điều, nếu chẳng may bỏ mạng, sẽ không một ai biết rằng họ từng tồn tại. Gia đình họ cũng không hề biết rằng con trai, con gái mình đã chiến đấu tới tận hơi thở cuối cùng. Tin tức được thông báo với gia đình của các chiến binh đều được kiểm soát rất nghiêm ngặt. Phần lớn nguyên nhân dùng để giải thích cho những cái chết thương tâm của họ đều là tai nạn giao thông, và người thân của họ sẽ được đền bù một khoản tương đối lớn để cảm thấy nguôi ngoai đi phần nào nỗi đau mất đi một thành viên trong gia đình.

Tuy nhiên, không mất nhiều thời gian để những nhà lãnh đạo nhìn ra được khoản tiền mà họ phải dành ra để chi trả cho người nhà của các chiến binh đã khiến cho ngân sách bị thiếu hụt một cách nghiêm trọng tới mức nào. Họ thực hiện những nhiệm vụ tối quan trọng mang tính bảo mật gần như tuyệt đối, nhưng ngân sách của họ thì vốn không hề lớn hơn các bộ phận khác là bao. Chính vì thế, những người đứng đầu đã nghĩ tới một phương án khả thi hơn, vừa giúp giảm thiểu tới mức tối đa các khoản cần phải chi trả, vừa giúp quá trình huấn luyện chiến binh được rút ngắn, cũng như khiến việc thu dọn hiện trường phần nào bớt đi khó khăn. Những cá nhân được lựa chọn để trở thành các chiến binh cho các chiến dịch ma không được ưu tiên về mặt trình độ. Những đứa trẻ không có nơi nương tựa đã được các chuyên gia tìm kiếm và phát hiện tại các trung tâm bảo trợ, đưa về để huấn luyện nhằm trở thành nguồn nhân lực phục vụ cho các nhiệm vụ tối mật.

Nguyên nhân cốt lõi là để tránh thất thoát nguồn vốn, nhưng nguyên nhân được lưu trong hồ sơ thì lại là người ta tìm thấy ở những đứa trẻ mồ côi một tố chất tâm lý đặc thù. Kĩ năng có thể được rèn luyện, nhưng các bản năng được hình thành từ một hoàn cảnh sống nhất định thì lại không thể làm giả được. Bản năng sinh tồn, bản năng tự vệ, bản năng tấn công, bản năng chiến đấu, bản năng thích nghi, tất cả những bản năng của con người những tưởng như chỉ được khơi dậy thì đặt vào một tình huống biệt lập, nay lại hội tụ và thường trực trong cùng một cơ thể, tại cùng một thời điểm, và sẵn sàng trỗi dậy bất cứ lúc nào. Không gia đình, không người thân thích, người ta cho chúng một lí tưởng, và chúng chiến đấu quên mình vì điều ấy. Những đứa trẻ có ý chí quật cường được hun đúc bởi chính số phận của mình, cộng thêm thể lực được rèn giũa liên tục suốt một thời gian dài, dần dần trở thành những chiến binh tinh nhuệ trong hàng ngũ. Một cuộc thay máu lớn đã diễn ra, một cách mượt mà, âm thầm và lặng lẽ. Từng chiến binh được đưa vào trận địa, thể hiện sự xuất sắc và vượt trội của bản thân so với thế hệ trước. Họ nhận được những nhiệm vụ khó khăn hơn, nhiều hiểm nguy tiềm tàng, rình rập hơn, đứng trước cửa tử nhiều lần hơn, và có những kinh nghiệm xương máu về việc đối mặt với cái chết cũng nhiều hơn hẳn những người khác. Đó là cách mà họ đang sống. Và họ sẽ sống như thế, thêm nhiều năm nữa, vượt qua nhiều nhiệm vụ nữa, cho tới khi về hưu, hoặc bỏ mạng.

Bằng cách này hay cách khác, họ trở thành gia đình của nhau. Không phải là dạng thi thoảng cùng nhau đi dã ngoại, hay là đọc truyện trước khi đi ngủ. Cuộc sống của họ không cho phép những giây phút thảnh thơi, an nhàn như thế xuất hiện. Cùng lắm, họ cũng chỉ được ăn tối cùng nhau và trò chuyện dăm ba câu trước khi tiếp tục hành trình của mình mà thôi. Nhưng trong những cuộc tâm tình ấy, người ta thấy rõ họ coi trọng nhau tới như thế nào. Thử nghĩ mà xem, một đứa trẻ không có ai ở bên để chăm sóc, nay lại có một mái nhà. Một người đã quen với bóng tối và nỗi cô đơn, bỗng dưng lại có bạn bè bên cạnh để cùng sẻ chia những vui buồn. Những tưởng rồi sẽ chẳng một ai ngó ngàng gì tới mình, thế mà giờ đây mỗi khi mình bị thương lại có người giúp mình sát trùng, bôi thuốc. Cứ ngỡ như cả đời sẽ độc cô cầu bại, ấy thế rồi một ngày kia lại có những người đồng đội cùng mình ứng phó với hiểm nguy, một ai đó yêu thương mình, chở che cho mình, trở thành một điểm tựa để mình tiến về phía trước và ngắm nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của một người đang chìm đắm trong hạnh phúc, hân hoan. Những đứa trẻ ấy khổ luyện ngày đêm, tuân thủ hàng loạt các quy định nghiêm khắc đến mức hà khắc để trở thành những người giỏi nhất. Chúng phải trải qua những giờ luyện tập địa ngục, một cuộc sống chẳng hề dễ thở khi liên tục phải ganh đua với bạn bè đồng trang lứa để giữ vững vị thế của mình bằng việc hất cẳng những kẻ ngáng đường mình tiến tới vị trí đầu bảng, nhưng sau giờ tập luyện, chúng vẫn coi nhau như người thân. Không gì có thể chia rẽ chúng. Chúng chiến đấu lưng tựa lưng, và trong những giờ phút nguy nan, chúng xả thân để cứu đồng đội.

Ồ không, đừng tưởng thật.

Chúng ta không được phép tin tưởng bất cứ ai. Một mặt, chúng ta tin vào đồng đội. Nhưng một mặt khác, chính họ mới là những người khiến ta đề cao cảnh giác. Ngay khi chúng ta chọn tin một ai đó, chúng ta sẽ bị họ đánh bại. Trong giờ luyện tập bắn súng là như vậy, trong lúc thi đấu để nâng hạng cũng thế, và khi thực hiện nhiệm vụ thì lại càng không. Người duy nhất mà chúng ta có thể tin tưởng là chính mình. Chúng ta phải là người bắn ra phát đạn cuối cùng, cũng là người đầu tiên xác nhận nhiệm vụ đã hoàn thành. Những con soi đơn độc một mình hành động, chỉ tin tưởng chính mình, không cần phải thông báo với bất cứ một ai về nhiệm vụ của mình, rũ bỏ tất cả mọi khái niệm, ngay cả mình từng là ai cũng không còn quan trọng nữa.

Như một lẽ đương nhiên, có rất nhiều nhân vật đứng phía sau để yểm trợ cho họ. Nhưng những nhân vật ấy không hề xuất hiện ngoài thực địa. Một chiến binh phải hiểu rõ, trên chiến trường, hoặc là đối thủ hoặc là họ chấp nhận thua cuộc. Họ không được phép để cho một ai khác thay mình hoàn thành nhiệm vụ mình được giao phó. Họ hợp tác với những người cách họ một màn hình, một đường dây dẫn, một khoảng thu phát sóng, hoặc thậm chí là một khoảng không – thời gian bởi vì họ buộc phải tin vào các thành viên trong đội của mình và đó là yếu tố tiên quyết để thành công, chứ không được để cho một ai dù là thân cận đến mấy được quyền trực tiếp nhúng tay vào những gì mà họ đang gấp rút hoàn thành. Chỉ khi nào làm được điều ấy, mới không đau lòng khi bị đâm sau lưng, mới không khổ sở khi bị phản bội. Vừa tin, vừa không tin.

Những gì mà mình không có thì không bao giờ lo bị người khác tước đoạt. Vốn dĩ không có gia đình, không có người thân, không có bạn bè, vậy thì thấy người chết cũng sẽ không tim đập chân run. Bản thân chưa từng biết thế nào là niềm tin, thế nào là tình đồng đội, sẽ chẳng cần phải sợ một ngày kia sẽ có kẻ đánh lén, khiến mình không kịp trở tay. Chiến đấu khi biết rằng mình chỉ có một mình, tự khắc sẽ cẩn thận hơn. Không có người hỗ trợ phía sau, đằng trước lại chẳng có ai tiền trạm, mở đường, việc gì cũng tự mình thực hiện, đột nhiên sẽ hình thành phản xạ suy tính thật kĩ càng đường đi nước bước rồi mới hành động. Mọi thứ đều là nhờ luyện tập mà thành. Đặt trong hoàn cảnh đặc biệt, yêu cầu mà một chiến binh thực thụ phải đạt được lại càng không giống ai. Những người giỏi nhất biết rõ điều này, và đó mới chính là lí do họ trở thành những cá thể xuất sắc. Những chiến binh trong cùng một đội buộc phải tin rằng sẽ có người cứu mình, nhưng cũng không được phép hành động mà chẳng có một phương án dự phòng nào. Chuẩn bị trước tinh thần để ứng phó trong mọi tình huống chính là cho mình thêm một cơ hội sống. Không có thì cũng ổn cả thôi, nhưng có túi dự phòng thì sống lâu hơn một chút.

Ngặt một nỗi, khó có bài học nào thật sự thấm thía nếu như chúng ta không phải trả giá cho nó, và cái giá phải trả cho việc tin nhầm người thì đắt đỏ vô cùng. Sự an toàn, sự tự do, những điều ấy đương nhiên sẽ bị đe doạ khi ta chọn sai bạn mà chơi. Nhưng chỉ cần nghĩ đến việc mình sẽ chết trong tay một tên tráo trở, không ít người sẽ cảm thấy sôi máu. Tốt hơn hết, người ta nên tránh xa một chiến binh đang tức giận. Không mấy khi một chiến binh mất bình tĩnh. Họ được học cách kiểm soát tình hình, và thông thường thì họ sẽ vận dụng tương đối tốt kĩ thuật này. Tuy vậy, việc kế hoạch ban đầu phải thay đổi vì một tác nhân không ngờ tới chứng tỏ họ đã để lộ sơ hở và tệ hơn cả tệ, sơ hở đó đã bị kẻ khác lợi dụng. Khi đạt tới một trình độ nào đó, việc không lường trước được tình huống không tương đương với việc bạn thiếu tập trung, mà đồng nghĩa với việc kẻ đó có ý xem thường bạn. Một khi bị coi nhẹ, người ta sẽ rất nhanh chóng cảm thấy bị xúc phạm. Và đừng bao giờ có ý định đùa cợt với một người đang bị tổn thương lòng tự trọng. Bởi vì trong tình huống ấy thì cô ta, hoặc anh ta, không hề dễ chịu một chút nào đâu.

Ngày hôm nay, có tổng cộng chín phái đoàn nước ngoài có mặt tại Genève. Để đảm bảo công tác bảo vệ diễn ra thật suôn sẻ, Soldier K đã có trong tay toàn bộ tài liệu về những vị khách đặc biệt quan trọng này. Bất trắc là khó có thể tránh khỏi. Đối với một cuộc gặp gỡ có sự tham gia của nhiều tai to mặt lớn như thế này, xung quanh có bao nhiêu kẻ nhòm ngó, muốn tìm cách phá bĩnh, chỉ lo kể hết ra một lượt thì chẳng ai dám bén mảng tới đây mà dự hội nghị nữa. Nhiệm vụ của Soldier K là giúp cho mọi thứ được tiến hành một cách suôn sẻ, tức là giảm thiểu khả năng xảy ra tình huống xấu xuống đến mức thấp nhất có thể. Rà soát lại một lượt những cái tên mình cần phải ghi nhớ, Soldier K đưa mắt nhìn bao quát toàn bộ khu vực sảnh nhà khách. Anthony Eden, phái đoàn Anh. Bedell Smith, phái đoàn Mỹ. Viacheslav Molotov, phái đoàn Liên bang Xô Viết. Chu Ân Lai, phái đoàn Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Georges Bidault, phái đoàn Pháp. Phumi Sananikone, phái đoàn Vương quốc Lào. Tep Than, phái đoàn Vương quốc Campuchia. Phạm Văn Đồng, phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Duy chỉ có phái đoàn Quốc gia Việt Nam khiến Soldier K thấy cần phải lưu tâm. Ban đầu, theo thông tin mà anh nhận được, Nguyễn Quốc Định sẽ đóng vai trò trưởng đoàn đưa phái đoàn này tới Genève. Tuy nhiên, chỉ ít ngày sau đó, trưởng đoàn đã được đổi sang Nguyễn Trung Vinh và hiện tại thì người đang xuất hiện ở sảnh lại là Trần Văn Đỗ.

Theo kinh nghiệm, đây là tình huống dễ gây ra sai số. Khi đo đạc nhiều lần một đại lượng nào đó, thông thường dù cẩn thận đến mấy, vẫn thấy các kết quả giữa các lần đo được hầu như đều khác nhau. Điều đó chứng tỏ rằng trong kết quả đo được luôn luôn có sai số và kết quả chúng ta nhận được chỉ là giá trị gần đúng của nó mà thôi. Càng tiến hành đo đạc nhiều lần, kết quả càng sai khác, độ sai số sẽ càng lớn. Mặc dù sai số luôn tồn tại một quy luật nhất định, nhưng phải mất một thời gian mới tìm ra quy luật này chứ không thể kiểm nghiệm ngay lập tức. Coi việc thay đổi người của phái đoàn này là các lần đo đạc khác nhau, vậy thì ba người được lựa chọn lần lượt là ba kết quả khác nhau của từng lần đo đạc. Họ đều nắm giữ cùng một vai trò, đó là làm trưởng đoàn của một phái đoàn đàm phán cho hội nghị quan trọng tại Genève. Điều này khiến nhiều người cho rằng, giữa họ không có nhiều sự khác biệt. Để được lựa chọn vào cùng một vị trí, họ phải thuộc cùng trình độ, đảm nhiệm chức vụ ngang hàng nhau, cùng thâm niên công tác, và quan trọng hơn cả, là có cùng tầm nhìn. Tuy vậy, giữa họ vẫn có sự khác biệt nhất định, đây chính là các sai số.

Loại bỏ đi sai số về tiểu sử, nguồn gốc xuất thân, ngoại hình, chúng ta có các sai số về nhiệm vụ mà người đó phụ trách. Việc tung ra hai người đầu tiên rồi sau đó mới thay đổi để người cuối cùng dẫn phái đoàn tới Genève được cho là đòn tung hoả mù, người cuối cùng mới là người quan trọng nhất. Bởi vì theo cách lựa chọn trưởng đoàn thường thấy, người được coi là vượt trội hơn cả sẽ được ưu tiên trước, sau đó thì nếu người này có lí do cá nhân, việc đổi người mới được cân nhắc. Do đó theo thứ tự này, người dẫn đoàn của phái đoàn này tại đây là sự lựa chọn cuối cùng còn sót lại, và không phải là người có năng lực nhất phía họ. Khi cử người tới đây, họ không đưa người giỏi nhất mà lại liên tục thay đổi, vậy thì có khả năng họ vốn dĩ không hề quan tâm kết quả hội nghị ra sao, hoặc thậm chí là cho rằng hội nghị chắc chắn không thể diễn ra. Ý đồ của họ là gì, chưa ai biết, nhưng không thể loại trừ trường hợp xấu nhất là có người định phá bĩnh được.

Nếu như hiện tại, một trong hai hoặc là cả hai nhân vật Nguyễn Quốc Định và Nguyễn Trung Vinh – tức là những người từng được chọn làm trưởng đoàn trước khi phái đoàn Quốc gia Việt Nam đưa ra quyết định cuối cùng – mà xuất hiện tại Genève, anh chắc chắn rằng đội cận vệ sẽ có rất nhiều việc để làm.

Tháo đồng hồ đeo tay nhét vào trong túi, Soldier K nhanh chân bước xuống cầu thang. Anh rảo bước đi một vòng quanh đại sảnh, tỏ ra mình đang cố tình không muốn gây ra quá nhiều sự chú ý, nhưng lại giả vờ như mình vì vội vã nên liên tục cúi đầu xin lỗi, vừa đi vừa giữ tư thế kề sát miệng vào bộ đàm, thành ra chỉ một chốc lát sau, anh đã điểm mặt tất cả những thành phần xuất hiện trong phòng. Ở phía bên kia, hình ảnh và âm thanh được truyền tới qua thiết bị ghi hình nhỏ gắn trên huy hiệu nơi ngực áo Soldier K cũng đã được gửi tới. Mất khá nhiều thời gian để chắc chắn rằng các thiết bị này có thể hoạt động trong thời điểm này của lịch sử, vì họ không thể lợi dụng trạm thu phát sóng để ghi đè mã lệnh. Nhưng không gì là không thể làm được, và họ thì lại có đủ thời gian chuẩn bị cho ngần ấy việc. Các nhân vật có mặt tại đây ngày hôm nay phải được bảo vệ an toàn cho tới tận khi họ lên máy bay ra về. Hội nghị Genève bắt buộc phải thành công, và họ có mặt ở đây là để đảm bảo chắc chắn hiệp định sẽ được kí kết giữa tất cả các bên, trong đó có cả Mỹ.

Ngày hai mươi lăm tháng Một năm 1954, bốn nước Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô gặp nhau tại khu vực do Mỹ kiểm soát tại Berlin nhằm giải quyết vấn đề thống nhất Đông Đức và Tây Đức. Tại hội nghị này, ngoại trưởng Pháp Bidault đã gặp riêng Ngoại trưởng Liên Xô Molotov, Ngoại trưởng Anh Eden và Ngoại trưởng Mỹ Dulles để thuyết phục các nước này đưa vấn đề Đông Dương ra thảo luận tại một hội nghị sẽ được tổ chức. Trước đó, Molotov đã đề nghị với Bidault rằng Liên Xô sẽ giúp Pháp thu xếp đình chiến tại Đông Dương với điều kiện Pháp rút ra khỏi Cộng đồng Phòng thủ châu Âu nhưng bị Pháp từ chối. Hội nghị ở Berlin kết thúc ngày mười tám tháng Hai năm 1954 mà không mang lại kết quả nào về việc thống nhất nước Đức. Tuy nhiên, các bên tham dự đồng ý lời đề nghị của Ngoại trưởng Liên Xô Molotov mở cuộc đàm phán bao gồm năm nước lớn tại Genève để bàn về việc hòa giải và tái lập hòa bình tại Triều Tiên và Đông Dương.

Hội nghị Genève khai mạc ngày hai mươi sáu tháng Tư năm 1954, mục đích ban đầu để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả nên từ ngày mùng tám tháng Năm cùng năm, vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận. Lí do phải đợi cho tới tận ngày mùng tám tháng Năm là bởi vì cho đến tận sáng ngày hôm ấy, kết quả của “Chiến dịch Điện Biên Phủ” (theo cách gọi của truyền thông Việt Nam Dân chủ Cộng hoà) mới được truyền tới Genève. Nội bộ Liên Xô chưa ổn định và nước này có nhu cầu hòa hoãn với phương Tây sau khi ra đi của Stalin. Pháp đang kiệt quệ ở Đông Dương, còn Anh thì tham gia với mục đích vớt vát vai trò đang mai một do thiệt hại từ Thế Chiến II và do đang phải đối phó với phong trào đấu tranh giành độc lập của các nước thuộc địa. Chỉ có Mỹ là tham gia với vai trò duy nhất – nói thế này thì có phần cực đoan, nhưng lại là sự thật mà ai cũng thấy – phá đám.

Sau bảy mươi lăm ngày đàm phán với tám phiên họp rộng và hai mươi ba phiên họp hẹp cùng các hoạt động tiếp xúc ngoại giao dồn dập đằng sau các hoạt động công khai, hiệp định đã được kí kết vào ngày hai mươi tháng Bảy năm 1954, và ngày đó chính là hôm nay. Theo đúng lịch sử ghi chép lại, phái đoàn Hoa Kỳ từ chối ký và không công nhận Hiệp định Genève nhưng ra Tuyên bố nước này “sẽ coi mọi sự tái diễn của các hành động bạo lực vi phạm Hiệp định là điều đáng lo ngại và là mối đe dọa nghiêm trọng đối với hòa bình và an ninh quốc tế”. Trong Tuyên bố của mình, đối với sự chia cắt Việt Nam trái nguyện vọng của hai miền Nam – Bắc, chính phủ Mỹ cũng nêu rõ quan điểm “tiếp tục cố gắng đạt được sự thống nhất thông qua những cuộc tuyển cử tự do được giám sát bởi Liên Hiệp Quốc để bảo đảm chúng diễn ra công bằng”. Kết thúc Hội nghị Genève, trưởng phái đoàn Chính phủ Mỹ tuyên bố ghi nhận và cam kết tôn trọng quyết định của các bên tham gia. Nhưng liền sau đó, chính Tổng thống Mỹ lại tuyên bố: “Hoa Kỳ không tham dự vào những quyết định của Hội nghị Genève và không bị ràng buộc vào những quyết định ấy“. Thượng nghị sĩ Kennedy tuyên bố: “Quốc gia Việt Nam là con đẻ của chúng ta. Chúng ta không thể từ bỏ nó”. Hai ngày sau Hiệp định được kí kết, ngoại trưởng Mĩ đã tuyên bố hỗ trợ Quốc gia Việt Nam để “Ngăn chặn sự bành trướng của Chủ nghĩa cộng sản ở Đông Nam Á”.

Theo báo cáo gửi về Hà Nội của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trưởng đoàn Phạm Văn Đồng nêu rõ ý tưởng giới tuyến quân sự là do phái đoàn Anh khởi xướng. Sau đó, ý tưởng được Pháp và Mỹ ủng hộ. Mỹ cho rằng nên để giới tuyến ở vĩ tuyến 20 còn Pháp cho rằng nên ở vĩ tuyến 16. Cả Pháp và Mỹ đều muốn chia Việt Nam thành hai quốc gia riêng biệt chứ không chỉ dừng lại là giới tuyến quân sự tạm thời. Mỹ từ lâu đã coi miền Nam Việt Nam là địa bàn quan trọng trong chiến lược chống sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản tại Đông Nam Á và đã viện trợ tích cực cho Pháp chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Sau khi Pháp thất bại, Mỹ đẩy mạnh các hoạt động tại Việt Nam. Hội đồng Tham mưu Liên quân Mỹ trước đây phản đối việc Mỹ đảm nhận huấn luyện cho Quân đội Quốc gia Việt Nam thì nay bằng lòng gửi cố vấn quân sự đến Việt Nam và nhấn mạnh phải bảo vệ Quốc gia Việt Nam chống lại sự can thiệp của Pháp. Ngày mười hai tháng hai năm 1955, Pháp rút các sĩ quan huấn luyện khỏi Việt Nam, trong khi Mỹ bắt đầu giúp huấn luyện sĩ quan Việt Nam tại các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Bình Dương, huấn luyện các lực lượng vũ trang của Quốc gia Việt Nam, bí mật đưa một lượng lớn vũ khí và thiết bị quân sự vào Việt Nam; giúp đỡ phát triển các kế hoạch “bình định Việt Minh và các vùng chống đối”.

Việc Hoa Kỳ viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa bị người Cộng sản ở cả hai miền cho rằng đó là hành vi vi phạm Hiệp định do tại Chương III Hiệp định cấm tất cả các bên được tăng quân, tăng vũ khí, thành lập mới các căn cứ quân sự. Cùng với hàng loạt các diễn biến phức tạp khác, Mỹ đã đem quân đánh Việt Nam, và dùng đầu ngón chân để nghĩ cũng ra Mỹ đã thua đau tới như thế nào trong cuộc chiến ấy, và bây giờ thì họ đang muốn quay về quá khứ để sửa chữa sai lầm tai hại của mình. Điều đó có nghĩa là ngày hôm nay, đội của anh có mặt ở đây không chỉ để thực thi nhiệm vụ bảo an, mà còn buộc Mỹ phải kí vào bản hiệp định tại Genève.

Sửa chữa những gì còn có thể vá víu và thu dọn đống rác khổng lồ của lịch sử, đó là công việc của bầy sói ngày hôm nay. Năm 1954 không phải là một mốc thời gian đáng nhớ trong cuộc đời anh. Nói đúng hơn, Soldier K không hề có một kí ức nào liên quan tới quãng thời gian này cả. Nếu như anh có một người cha thì có lẽ ông cũng ra đời vào khoảng những năm năm mươi thật đấy. Chỉ tiếc là anh chẳng có một người nào để gọi là cha cả, cho nên sau cùng, anh đành phải hài lòng với việc đóng vai một người đàn ông thế kỉ trước dựa vào việc ghi nhớ cách mà các diễn viên lặp đi lặp lại trong phim ảnh, tóc vuốt keo, mặc đồ bộ ngay cả khi đi ngủ, lúc nào cũng chỉnh tề, mấy thứ tương tự như vậy. Không phải anh ghét bỏ gì việc ăn mặc hay để đầu tóc như vậy. Mặt khác, loại trang phục cùng cách trang điểm như vậy khiến anh dễ dàng trà trộn vào đám đông hơn hẳn so với khi thường. Ở một nơi mà tất cả mọi người đều ăn vận theo cùng một kiểu, sử dụng một cung cách trò chuyện đầy gượng gạo và khách sáo một cách rất không cần thiết, thật dễ dàng để tìm ra quy luật của mọi thứ. Bắt chước họ, trở thành một phần của họ, và anh sẽ được an toàn. Nhưng Soldier K là một sai số, nên tự dưng mọi thứ đột nhiên trở nên khó khăn hơn hẳn.

Mọi người mặc sơ mi và quần tây, anh chỉ thích mặc áo khoác da, quần bò cùng với giày thể thao. Phần lớn mọi người đều hăng hái ganh đua với nhau trong suốt quá trình luyện tập, để có được thứ hạng cao hơn, hoặc để giành được nhiều nhiệm vụ mà họ cho là “xứng tầm” hơn, một mình anh tìm đủ mọi cách để vượt qua chính chướng ngại của mình thay vì đánh bại một ai đó, bắt đầu từ việc chống đẩy. Họ ưu tiên dùng súng, cũng dành ra hàng giờ liền để luyện tập, anh thì nếu có thể tránh không đụng tới vũ khí thì sẽ né một cách triệt để, thay vào đó, anh học cách ẩn nấp, nguỵ trang và cách biến mọi thứ trở thành vật phòng thân. Trong lúc mọi người đổ xô đi học mật mã quân sự để giao tiếp với máy móc, anh học kĩ năng bổ trợ để không bị mất sự kết nối với con người. Đối với họ, nhiệm vụ là lẽ sống, mà đích đến, là mục tiêu, là cả cuộc sống của họ. Đối với anh, nhiệm vụ giống như chế độ ăn cắt giảm tinh bột dành cho cá cảnh, tức là có cũng được, không có cũng chẳng chết ai.

Tranh thủ lúc không ai để ý, Soldier K lẻn lên phòng. Thực ra, anh không hề có phòng riêng. Thành viên của đội cận vệ được bố trí tại một địa điểm khác, và họ luôn phải có mặt ở đó để triển khai hành động trong thời gian ngắn nếu như có bất cứ vấn đề gì phát sinh. Anh thì không có phòng riêng, nhưng những người khác thì có. Sử dụng chìa khoá vạn năng, Soldier K lần lượt kiểm tra tất cả các phòng. Mới ngày hôm qua thôi, họ đã phát hiện bom hẹn giờ được đặt bên dưới xe lao công khi ngay bên cạnh phòng trưởng phái đoàn Anh, và mặc dù họ đã kịp thời xử lý quả bom, chắc chắn không một ai mong muốn tình huống ấy xảy ra một lần nữa.

Tập trung hết sức để kiểm tra từng phòng một, Soldier K đột nhiên cảm thấy hai vai mình nặng trĩu. Anh muốn làm công việc này. Không phải là lùng sục khắp nơi như chó nghiệp vụ dò mìn, mà anh thực sự muốn sử dụng cỗ máy thời gian để quay về quá khứ. Công việc này khác hoàn toàn so với việc dọn dẹp thông thường. Đối với việc dọn dẹp, người ta chỉ có thể tưởng tượng ra trong đầu về việc chuyện gì sẽ xảy ra sau khi đống rác được tống khứ đi chỗ khác. Nhưng đối với việc dọn dẹp dòng thời gian thì mọi thứ khác hẳn. Anh không cần phải hình dung bất cứ một viễn cảnh nào cả. Anh đã trông thấy nó. Tận mắt mình, anh và những người khác đã biết chuyện gì xảy ra khi mọi thứ được sắp xếp theo đúng tiến trình lịch sử, và kể cả khi không một ai dám cam đoan rằng nếu như một mắt xích bị phá vỡ thì tương lai có đi theo đúng hướng mà mình muốn hay không, họ vẫn buộc phải thử một lần. Có nhiều chuyện phải thử thì mới biết được, và anh cho rằng trong đó có cả chuyện thử làm lại mọi thứ ngay khi có cơ hội. Họ có một cỗ máy lợi dụng sóng từ để dịch chuyển xuyên đại, họ được trao cho cơ hội thử khám phá xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu như xáo trộn những gì thuộc về quá khứ, không có lí do gì họ lại không tìm kiếm một khởi đầu mới. Ngay cả khi rất có thể nếu như lịch sử thay đổi, họ sẽ không được sinh ra. Ngay cả khi như thế.

Ngay cả khi được làm lại mọi thứ một lần nữa để tạo ra một thế giới mà theo quan điểm của một số người là tốt đẹp hơn và đáng sống hơn, như là ngăn chặn một tai nạn thảm khốc hay là kịp thời sơ tán người dân ra khỏi vùng cảnh báo thiên tai, và thường thì không để cho một chiếc máy bay sẽ gặp nạn cất cánh – việc sẽ khiến tâm trạng anh tốt hơn một chút, nhưng việc đi xuyên thời gian rồi thay đổi một số chuyện đã xảy ra luôn có hệ quả của nó. Nói thẳng ra thì là hậu quả. Anh đã từng cứu một tên giết người hàng loạt khỏi một vụ đắm tàu. Quay lại để sắp xếp mọi việc như cũ thì tất cả những người trên tàu phải bỏ mạng, nhưng nếu như cứu lấy họ thì hàng trăm người vô tội chết không nhắm mắt, oan khuất vô cùng. Làm thế nào cũng dở, đến lúc ấy anh mới thấy hối hận gì đã tự mình dính vào rắc rối như vậy. Đó là một trải nghiệm không mấy vui vẻ, và bằng chứng là cho đến tận bây giờ, anh vẫn không thôi ám ảnh vì nó. Cứu hay không cứu, thay đổi lịch sử để những người đáng ra không phải chết được sống lâu hơn một chút, hay phó mặc mọi thứ cho dòng đời xô đẩy, mớ bòng bong ấy cứ không thôi rối ren trong lòng anh.

Soldier K không dám chắc rằng chỉ có một mình mình cảm thấy như vậy. Dù có muốn hay không, anh vẫn phải cộng tác với những người khác nữa và trong số họ hẳn là có ít nhất một người đồng cảm với anh. Khi biết mình vừa tạo ra một mớ hỗn độn, anh đã chợt nghĩ tới ý nghĩa của những gì mình đang làm. Sau cùng, anh đang cố gắng vì điều gì kia chứ?

Không phải là lỗi của em.

Nếu như em cứ cho rằng đó là lỗi của mình, em sẽ bị chính mình bỏ lại phía sau.

Day day thái dương, anh bước chậm dần lại. Tiến về phía tủ đồ của mình, anh ngó quanh một lượt để chắc chắn không có người thứ hai trong phòng rồi lôi chiếc túi xách ra phía bên ngoài. Bên trong túi, chiếc máy dịch chuyển thời gian được đặt thật cẩn thận, phủ bên phía trên là một chiếc áo khoác da. Lướt ngón tay trên vải áo, anh thoáng rùng mình. Lắc đầu vì sự ngớ ngẩn của bản thân, Soldier K dùng cả hai tay mà cầm chiếc áo lên, đoạn vùi mặt vào giữa lớp vải lót bên trong chiếc áo như thể muốn hít hà cho căng lồng ngực hương thơm của da thuộc lẫn với mùi thuốc lá. Salem. Chủ nhân của chiếc áo này luôn hút loại thuốc đó. Mỗi khi thấy lòng mình nặng trĩu, anh lại tìm tới chiếc áo khoác da này. Chạm vào nó, ôm lấy nó, rồi để nó bao bọc lấy thân mình. Những lúc ấy, anh cảm tưởng như mình đang được người kia ôm vào lòng, và ở một nơi nào đó rất gần đây thôi, có thể là ngay phòng bên cạnh, người kia đang chờ đợi anh hoàn thành nhiệm vụ rồi an toàn trở về.

Điều mà một chiến binh lo sợ hơn cả khi đi xuyên thời gian không phải là những hành trình nối tiếp nhau tưởng chừng không có hồi kết, hay những đau đớn về thể xác mỗi khi tiến hành dịch chuyển, mà là đánh mất tâm trí mình giữa sự bao la vô tận của không gian và thời gian. Không nhận ra mình là ai, không biết mình đang ở đâu, không có một nơi để gửi gắm, nương nhờ, không có một người để vỗ về, an ủi, sống như một kẻ lang thang cõi trần, không nhà không cửa, không thân phận. Đó mới là nỗi đau lớn nhất. Giương đôi mắt lờ đờ trông thế gian mà cười đến ngu ngơ, trong khi từ tận thẳm sâu bên trong là tiếng kêu gào điên loạn của một chiếc hồn xác xơ, khát khao được cứu rỗi. Sợ rằng mình sẽ vượt quá giới hạn của sức chịu đựng, anh luôn tự nhắc nhở rằng bằng mọi giá phải hoàn thành nhiệm vụ thật nhanh chóng. Dịch chuyển càng nhiều, sự nhiễu loạn càng lớn. Cứ chơi đùa trước cửa tử như vậy, ắt có ngày phải trả giá đắt. Người ta vẫn nói đi đêm ắt có ngày gặp ma đấy thôi, quay trở về bình an vô sự vẫn là tốt nhất.

Lần này, anh đã rời khỏi chiều không gian thực tại đến bảy mươi lăm ngày. Suốt chừng đó thời gian, đã có lúc một trong những đồng đội của anh quên khuấy đi mất họ là ai. Họ là một chiến binh. Họ là những người được chọn, nhưng chính họ lại đang run sợ. Ngày hôm nay, nhất định cả đội phải quay về an toàn. Nhất định.

K, em là một chỉ huy. Một chỉ huy phải có trách nhiệm với người của mình.

Đúng lúc này, âm thanh bỗng được truyền tới tai nghe. Người đang nói vào micro xem chừng vừa mới chạy hết tốc lực, vì anh vẫn có thể nghe thấy hơi thở ngắt quãng xen vào giữa những tiếng la thất thanh. Điều chỉnh lại tai nghe, Soldier K phủ chiếc áo khoác lên bên trên cỗ máy rồi khoá túi lại như cũ để nhét vào trong tủ đồ. Phải mất một lúc sau, anh mới nghe ra được người kia đang muốn truyền đạt điều gì.

“Một người đàn ông gốc Á, sảnh B1, bom tự chế!”

“Tôi đến ngay đây.”

Đang định quay người bước đi, không hiểu chợt nghĩ ra điều gì, Soldier K nhìn chằm chằm vào cánh cửa tủ khép chặt. Không nói không rằng, anh mạnh tay kéo cánh cửa tủ ra, anh kéo cái túi ra ngoài. Nhặt chiếc áo khoác lên, K thở hắt ra một tiếng rồi nhanh chóng cởi áo vest của mình ra. Vừa mới xốc chiếc áo da lên người, anh thấy một luồng điện chạy dọc sống lưng mình.

Nhớ lấy lời anh. Đừng bao giờ tin bất cứ ai.

Đứng như chôn chân tại chỗ, hai vai K trùng xuống, cánh tay buông thõng yếu ớt đánh rơi chiếc áo vest xuống sàn nhà. Từ phía sau lưng anh, một người đàn ông chậm rãi tiến đến. Tiếng cười khùng khục của người đàn ông vang vọng khắp căn phòng. Khoảnh khắc một bàn tay đặt lên vai mình rồi ghì chặt lấy, Soldier K nhắm nghiền mắt lại. Anh nhận ra người kia là ai. Không cần ngoảnh lại nhìn, anh cũng dễ dàng nhận ra mùi hương trên cơ thể người ấy. Mùi hương rất khó có thể làm giả được.

Salem.

“Áo đẹp đấy, K.”

Mặc cho anh đứng như trời trồng, người kia ôm lấy anh từ phía sau, bàn tay thô ráp cật lực xoa xoa bụng anh. Soldier S – người bặt vô âm tín suốt bao lâu nay – đang ở ngay phía sau anh, cận kề tới mức anh cảm nhận được vỏ kim loại mát lạnh của thứ bom tự chế quấn quanh người anh ta qua lớp vải áo. Tiếng cười điên khùng cứ thế thưa dần, nhưng tiếng rè rè trong tai nghe lại cứ thế tăng âm lượng khiến anh thấy hai tai mình như ù đi. Người kia tựa hồ coi anh như búp bê, cứ thế ôm khư khư không chịu buông. Tựa cằm lên vai anh, giọng nói vô hồn của người kia cứ đều đều vang lên bên tai. Lời nói ra không cảm xúc, nhưng khi truyền tới tai anh lại vô tình khiến anh đau đớn tới mức ngây dại.

“Mình về nhà thôi… về nhà…”

.

Thoái hóa khớp gối không được chữa trị lâu ngày sẽ dẫn đến các hiện tượng như khô khớp, cứng khớp, hạn chế chức năng vận động, khó đi lại, ảnh hưởng đến sinh hoạt và công việc, nếu để bệnh tiến triễn sang mãn tính có thể dẫn đến nguy cơ teo cơ và bại liệt. Chính vì thế, cần phải được điều trị kịp thời khi có dấu hiệu thoái hóa. Tập vật lý trị liệu chính là phương pháp điều trị hữu hiệu dành cho những bệnh nhân thoái hóa khớp gối, giúp cho hệ gân xương dẻo dai, chắc khỏe, giảm các cơn đau, tăng cường chức năng vận động và dần hồi phục lại các cử động. Đứng với chân trái phía trước và chân phải phía sau. Gập khớp gối phải xuống sàn. Giữ nguyên tư thế trong ba mươi giây trước khi thả ra. Làm lại động tác năm lần. Đổi sang chân bên kia. Tay phải vịn chặt vào thành ghế, đứng trên chân trái. Dùng tay trái nắm giữ bàn chân phải, kéo dần gót chân lên phía mông, đếm giữ từ hai mươi đến ba mươi giây rồi thả lỏng lại. Đổi bên. Nằm trên mặt sàng, hai chân giữ thẳng. Mỗi lần từ mười lăm đến hai mươi nhịp, co chân, đùi vào bụng và duỗi thẳng trở về tư thế ban đầu. Áp dụng ngày từ một đến hai lần, mỗi lần luyện tập trong ba mươi phút. Đứng thẳng trên sàn, từ từ dựa lưng vào tường, chân để rộng bằng vai. Từ từ uốn cong đầu gối xuống thấp tạo thành một góc vuông với mặt sàn, giữ cho lưng và xương chậu chống lại các bức tường. Giữ nguyên tư thế trong vòng từ năm đến mười giây. Lưu ý, đừng cúi xuống quá sâu, tránh làm tổn thương đầu gối. Nếu cảm thấy áp lực hay khó chịu ở đầu gối, điều chỉnh lại vị trí. Kéo căng cơ đùi sau. Nằm trên nệm, duỗi thẳng hai chân ra trước. dùng khăn lông dài móc vào mũi bàn chân, thẳng hai tay cầm khăn kéo và hơi gập phần trên thân người tới trước, đếm giữ ba mươi giây rồi thả lỏng lại. Làm tương tự với chân còn lại.

Nếu như em không luyện tập, em sẽ phải ngồi trên xe lăn cả đời. Cho nên, ngồi dậy đi. Anh biết là nó rất đau đớn, nhưng anh tin rằng em sẽ làm được. Em sẽ ổn thôi. Tới một lúc nào đó, em sẽ thấy biết ơn vì mình đã nỗ lực không biết thế nào là mệt mỏi, vì đã gắng hết sức mà ngồi dậy ngày hôm đó, dùng sự quyết tâm để ngoan cường chống trọi với thử thách.

Cố lên.

Tay lành bám vào bàn, ghế hoặc một vật chắc chắn, để hỗ trợ động tác. Tay bệnh có thể vận động được tự do ở bên thân mình. Dao động tay nhẹ nhàng đau theo hướng trước sau, ngang và vòng tròn. Không dao động tay ra sau lưng và tránh bị giới hạn bởi khớp gối. Đưa cánh tay đau vắt chéo trước ngực, phía trước cánh tay đối diện, bàn tay cánh tay không đau bám vào vùng cánh tay trên khuỷu tay bên đau và kéo tối đa về bên lành, làm cho kéo căng cơ deltoid phần sau. Giữ tư thế kéo căng này khoảng ba mươi giây, rồi thư giãn cơ trong ba mươi giây và tập động tác tiếp theo. Không kéo vào đúng khớp khuỷu. Dùng một cây gậy nhỏ, ở phía sau lưng, tay đau nắm ở cuối cây gậy, tay kia cầm vào vị trí gần với tay đau nhất. Kéo cho cây gậy về phía tay lành xa nhất có thể theo chiều dọc, nhưng khớp vai phải không xuất hiện đau. Giữ trong ba mươi giây và thư giãn trong ba mươi giây, rồi tập động tác tiếp theo. Cầm một đầu gậy bằng tay đau, tay kia cầm đầu còn lại. Hai khuỷu tay vuông góc. Di chuyển gậy theo chiều dọc sao cho tay đau di chuyển ra phía ngoài tối đa. Giữ trong ba mươi giây, sau đó thư giãn cơ tay và làm lại lần tiếp theo. Giữ hông thẳng và không xoắn vặn gậy. Nằm nghiêng, vai đau ở bên dưới, cánh tay vuông góc với thân, khuỷu gấp chín mươi độ, đầu đặt trên gối thật thoải mái. Dùng tay khoẻ hỗ trợ xoay tay đau ép xuống giường sao cho không gây đau. Giữ ba mươi giây, thư giãn ba mươi giây, rồi làm động tác tiếp theo. Không co cổ tay và không đè ép lên khớp cổ tay.

Sử dụng một dây thun cột vào tường hoặc một vị trí chắc chắn, cũng có thể tập ở một trung tâm tập thể hình có dây thun hoặc dây lò xo. Đứng cách xa so với vị trí cột dây thun khoảng ba bước chân. Tay đau cầm dây tập và kéo về phía sau với tay sát thân mình. Giữ chắc vai khi tập. Giữ vai chín mươi độ so với thân và cánh tay chín mươi độ so với cẳng tay. Sau đó từ từ xoay khuỷu tay, cánh tay tối đa có thể. Luôn giữ khuỷu tay ngang bằng với vai. Đứng với tay đau cầm băng thun, khuỷu tay vuông góc, cánh tay ép sát người. Xoay, từ từ kéo băng thun sát vào phía trước thân mình, giữ khoảng ba mươi giây, trở lại vị trí ban đầu và chuẩn bị làm động tác tiếp theo. Luôn ép khuỷu tay ở bên thân mình. Tập bằng cách giữ dây thun và kéo ra phía ngoài. Giữ khoảng ba mươi giây, thư giãn và tập động tác tiếp theo.

Nằm sấp, với cánh tay xuôi dọc hai bên thân mình, vai sát mặt giường. Từ từ nâng vai lên khỏi mặt giường cao nhất có thể. Giữ khoảng mười giây, thư giãn và làm động tác tiếp theo. Làm khoảng mười lần. Không nhún vai về phía tai. Từ từ nâng cánh tay với khuỷu tay thẳng, nâng cánh tay tới ngang mắt nếu có thể. Giữ khoảng từ hai đến năm giây, rổi thư giãn trở về vị trí ban đầu. Nằm ngửa trên nệm cứng. Dang tay đau chín mươi độ so với cơ thể và tay gấp khuỷu tay cho cánh tay vuông góc với cẳng tay để các ngón tay hướng lên trên. Vận động từ từ cẳng tay lên xuống, góc tối đa khoảng bốn mươi lăm độ.

Đó là cách em tập luyện để sử dụng khớp bả vai sau khi phẫu thuật. Em không thể bỏ cuộc ngay lúc này được, em hiểu anh đang muốn nói tới điều gì, đúng không? Kể cả khi em có cãi lại anh rằng chẳng ai cần tới em cả, và những gì em làm chỉ là vô nghĩa đi chăng nữa, thì em vẫn cần đến chính mình. Em phải chiến đấu vì chính bản thân em. Không phải vì anh, không phải vì con. Em làm hết sức mình để giành lại quyền làm chủ cuộc sống của mình. Anh không bao giờ muốn phải nói điều này, nhưng có những thời điểm mà cuộc đời cho chúng ta một khoảng chật chội và tù túng tới mức không một ai có thể chen chân vào bên trong để kéo chúng ra thoát khỏ cái hố sâu mà mình không hề tạo ra, nhưng lại vô tình chuẩn bị trở thành nạn nhân sáng giá để bị chôn sống bên trong nó. Khi ấy, chúng ta phải một mình xoay sở, tự thân vận động, và đơn độc khi đương đầu với mọi khó khăn. Chúng ta phải đưa ra những quyết định cho các vấn đề mà trước đây mình chưa từng nghĩ rằng rồi một ngày chúng sẽ phát sinh, và chúng ta phải hành động nhanh tới mức tưởng chừng như không có cơ hội để suy nghĩ thêm một giây đồng hồ trước khi hối hận vì đã không làm gì cả.

Thà rằng hành động để rồi hối hận, còn hơn là hối hận vì đã không hành động. Chúng ta luôn sống như thế, suốt ngần ấy năm. Và chúng ta sẽ sống như thế. Những điều này sẽ không được ghi lại. Ngay cả khi chúng ta có thay đổi lịch sử, làm nên chuyện phi thường, chúng ta vẫn luôn đứng trong bóng tối. Không ai biết tới chúng ta để mà nhớ, nhưng chúng ta lại ghi nhớ từng người một tới mức không bao giờ có thể quên. Tuy thế, kể cả khi chúng ta có đang nghĩ rằng không một ai nhìn thấy nhất cử nhất động mình làm, thì hậu quả của từng việc dù là nhỏ nhất mà chúng ta gây ra cũng sẽ khiến cho toàn bộ tiến trình lịch sử vì thế mà thay đổi. Một cuộc chiến có thể sẽ không xảy ra, nhưng trái đất cũng có thể bị đặt bên bờ vực diệt vong nếu như em giết nhầm một ai đó, hoặc tha mạng cho một kẻ không nên sống lâu hơn trong lịch sử. Chiến tranh thứ giới thứ ba, rồi thứ tư sẽ bị khơi mào, và kẻ phải chịu trách nhiệm thì có tới năm mươi phần trăm khả năng chính là em. Em luôn có cơ hội để quay lại vòng lặp, và làm lại từ đầu. Nói đúng hơn, em chưa từng rời khỏi vòng lặp. Em luôn ở đó. Em luôn ở bên anh và anh lúc nào cũng ở bên em, như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Chẳng biết là phải mất bao lâu, nhưng rồi sẽ có ngày anh nắm lấy tay em, và chúng ta sẽ cùng nhau đi về phía chân trời.

Nhưng cho tới lúc đó, em phải thật khoẻ mạnh. Ở đây, anh cũng đang làm hết sức mình để chờ ngày gặp lại em. Em cũng phải gắng lên.

Chúng ta, rồi sẽ ổn cả thôi.

.

Chỉ mất một vài giây để thuốc gây mê ngấm vào cơ thể S, và trong khi anh đang trong cơn mê man, hội nghị tại Genève đã thành công tốt đẹp. Họ đã không mất nhiều thời gian để tháo bom ra khỏi người S, cũng không bỏ lỡ cơ hội đánh tráo người tham gia kí kết hiệp định, buộc Mỹ phải đặt bút kí vào Hiệp định Genève về vấn đề hoà bình tại Đông Dương. Không lâu sau khi quay trở về thực tại, họ sẽ nhận ra một người lính đáng nhẽ ra đã phải hi sinh trong chiến tranh Việt Nam đã có gia đình và một người con trai. Người con trai ấy sau này đã gây ra một vụ tai nạn giao thông, không gây chết người, nhưng khiến một thanh niên trẻ mang thương tật khá nặng. Kì lạ thay, thông tin về thanh niên trẻ này hoàn toàn không được lưu trong hồ sơ. Theo như nguồn tin mà cánh nhà báo săn được, chàng trai kia là một an ninh mật đang trên đường đi làm nhiệm vụ. Do đó, để bảo đảm tính bảo mật của công việc, danh tính của nạn nhân sẽ được giữ kín. Nạn nhân hồi phục tương đối nhanh chóng. Trong thời gian đó, S cũng đã hồi phục và sẵn sàng quay lại trận địa. Anh ta luôn miệng nói rằng mình có một vài việc cần làm. Chẳng ai hay biết anh ta tính làm gì, nhưng người ta thấy S nghiên cứu rất nhiều hồ sơ của các cựu chiến binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam.

Nhưng những chú sói đơn độc không mấy khi quan tâm tới chuyện của người khác. Họ đơn độc, và họ không tin bất cứ ai. Không phải là vì xung quanh họ không có ai đáng tin cậy để họ chia sẻ mọi điều, mà là vì người vô cùng quan trọng ấy tốt hơn hết không nên biết gì thì hơn. Trà trộn vào phái đoàn Mỹ, Soldier S tiến vào Hội nghị Genève. Mọi sự tập trung chú ý của cận vệ các phái đoàn đều hướng về phía phái đoàn Quốc gia Việt Nam do sự cố thay người đại diện tới hai lần của họ. Lợi dụng điều này, S ẩn mình trong đám đông, chờ cơ hội hành động. Anh ta đã chờ quá lâu, và anh ta không hề nghĩ rằng mình sẽ phát điên. Tuy nhiên, kể cả anh ta có điên hay là không thì những việc mà S sẽ làm không hề được lưu trong hồ sơ.

Như mọi khi.

.

“Em không thể đi cùng anh được ạ?”

“Cơ thể em hẵng còn yếu lắm. Cho tới khi em khoẻ hơn, chúng ta sẽ đi cùng nhau.”

“Anh có dám hứa với em không?”

“Không.”

.

“Em giữ áo khoác của anh nhé. Cái áo khoác da ấy.”

“Cứ lấy đi. Mà này, K!”

“Dạ vâng?”

“…Thôi, không có gì đâu.”

“Anh này.”

“…”

“Yêu anh.”

“Yêu em.”

.

Nạn nhân của vụ tai nạn đó chính là K.

 

 

Posted in my johnny, night night (II), Triphenylmethane Project

[Oneshot | Triphenylmethane Project #E131 | #JohnDo] humanoid (more human than a human)

D1mbigsUcAAHHor

Author: Trịnh Ánh

Requested by: Cà Chua

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Character(s): Johnny, Doyoung

Categories: criminal psychology; sci-fi; character’s death

Rating: G

Summary: 

“Một thiết bị chắc chắn không bao giờ bỏ rơi bạn. Một thiết bị con người hơn cả con người.”

humanoid (more human than a human)

Nhạt nhẽo.

Bằng một cách nào đó, mọi thứ bỗng chốc trở nên nhạt nhẽo đến cùng cực.

Trời đột ngột đổ mưa ngay khi nhân vật chính bắt đầu thốt lên một câu (mà tác giả nghĩ rằng nó có thể) lay động lòng người, khiến một kẻ thiếu kinh nghiệm trong việc đọc sách, xem phim hoặc tiếp cận bất cứ một sản phẩm văn hoá đại chúng nào đó phải thổn thức không thôi, trong khi mới vài phút trước đó, trời vẫn còn trong xanh, những đám mây trắng bông chu du trên bầu trời hệt như một đàn cừu đang nhẩn nha gặm cỏ, và nắng vàng vẫn chiếu xuyên qua kẽ lá mà hoạ nên những bông hoa trên mặt đất. Gió lạnh cứ từ đâu thổi tới khiến người ta phải kéo cao cổ áo mà vẫn không thể ngăn được những cơn rùng mình khi thoáng nhận ra gió có lạnh đến mấy cũng không sánh bằng một góc của băng giá tụ lại nơi lòng người, dẫu cho không ít kẻ thức thời phải nhăn mặt khi nhận ra mới trước đó vài trang giấy, hay tệ hơn, là vài đoạn văn thôi, khung cảnh mà nhân vật bị ném vào đó một cách rất thẳng tay và cực kì không thương tiếc là một ngày hè oi nồng nóng nực. Sấm chớp đùng đùng, mây đen ùn ùn, mọi hiện tượng thời tiết gì đó tự dưng không còn tuân theo bất cứ một quy luật khí tượng nào nữa, và rồi những điều kinh khủng nhất của việc tự mình mâu thuẫn trong một tác phẩm chỉ để có được một vài khung cảnh mang tính thẩm mĩ cuối cùng cũng phải nhường chỗ cho sự xuất hiện của ‘tuyết đầu mùa’ vào Giáng sinh. Xin phép không liệt kê toàn bộ các phần tử trong cùng một tập hợp mang tên những kẻ khốn nạn coi thiên nhiên như một trò đùa, các định luật vật lý, các công thức hoá học chỉ như phù du, phát minh, sáng chế của các nhà khoa học không khác nào giấy vụn và vẻ đẹp của ngôn ngữ chỉ dừng lại ở mức được sử dụng để làm khiến bản thân chúng có vẻ bóng bẩy, hoặc có học thức hơn.

Một bộ phim luôn được xây dựng với cùng một công thức. Người tốt không-quan-trọng-lắm thể nào cũng chết ở phần đầu của bộ phim và nếu như may mắn thì người đó sẽ trở thành động lực lớn lao để người tốt quan-trọng hành động, dẫn tới kết cục của bộ phim đó. Với trường hợp của John Wick, đông lực của anh ta là một con chó và một cái xe hơi, nhưng chú cún bé bỏng ấy là món quà mà người vợ quá cố tặng cho anh ta, và chiếc xe thì gắn bó với anh ta quá lâu, vả lại, cũng không có nhiều người cho rằng John Wick là người tốt với số lượng người đã bỏ mạng vì anh ta, cho nên vụ này không tính. Đáng ngạc nhiên thay, trong rất nhiều các bộ phim, cái chết của một nhân vật nữ chỉ mang tính kích động tinh thần của nam chính, trở thành vết thương lòng của anh ta và từ đó khiến anh ta vùng đứng lên, mạnh mẽ hơn bất cứ ai, liều lĩnh chạy tới hang cọp rồi sử dụng sức mạnh phi thường (chẳng hiểu từ đâu mà ra) để kết liễu nhân vật phản diện mà chính họ đã từng bại trận một cách không thể thê thảm hơn được nữa dưới tay hắn. Vô số bộ phim đã khiến người ta phải thất vọng tràn trề khi đi theo một lối mòn đã in dấu hàng trăm nghìn vết giày của những kẻ lười biếng chỉ muốn ăn sẵn và rủ nhau chạy vào đường cùng vì nghĩ rằng đó hẳn phải là lối tắt. Nhân vật chính diện kiểu gì thì kiểu cũng phải có một xuất thân khó khăn, khốn khổ, mất cả gia đình hoặc gì đó tệ hại hơn thế, bị phản bội, bị đâm sau lưng bởi những người đồng đội mà anh ta hoặc cô ta từng tin tưởng, bị đẩy ra làm con tốt thí, bị gạt sang một bên bởi chế độ hà khắc, bởi hệ thống với vô số sâu mọt đang khiến nó mục ruỗng từ sâu bên trong, và rồi trỗi dậy như một chú phượng hoàng, dùng ánh sáng toả ra từ bộ vảy cháy rừng rực của mình để soi rọi nhân gian.

Nhưng như thế thì vẫn chưa là gì. Một bộ phim được trao giải thưởng hàn lâm chỉ vì đã để một người da trắng lái xe cho một người da màu – thay vì để người da màu lái xe như trước đây – đã trở thành một trò cười khi bị cho là được tôn vinh để củng cố niềm tin của những ông già sống vào năm sáu mươi của thế kỉ trước vào việc nạn phân biệt chủng tộc không còn tồn tại nữa. Lúc nào cũng vậy, phải là một bộ phim được xây dựng nhằm xoá nhoà khoảng cách giữa người da trắng và người da đen, chứ không phải là một bộ phim nhằm ca ngợi tình bạn để minh chứng rằng tình cảm giữa người với người có thể vượt qua mọi ranh giới. Lần nào cũng thế, một bộ phim nói về tình yêu đồng tính chứ không phải là một ấn phẩm ngợi ca tình yêu lứa đôi. Người ta viết lên áp phích quảng cáo những câu hết sức mĩ miều, về việc có một vài thế lực đánh thức con quỷ ẩn giấu tận sâu bên trong trái tim chúng ta, và rất ít phim nói rằng đó chính là bản năng của con người. Trong tất cả các bộ phim, trong tất cả các sách báo, kể cả khi có nhắc tới một tương lai u tối khi người máy thống trị địa cầu, thì con người vẫn luôn tìm ra cách để sinh tồn và đánh bại chúng, trong khi chúng ta vẫn còn bó tay với việc làm thế nào để vệ sinh tủ lạnh và phải nhờ tới công cụ tìm kiếm trên Internet để giải quyết vấn đề.

Ngớ ngẩn. Cực kì ngớ ngẩn. Người ta không nhất thiết phải cứ tới khi mưa gió, giông lốc hay bão bùng thì mới được phép cảm thấy đau khổ, hay là khóc một chút cho nhẹ lòng. Không một điều luật nào ghi rằng chúng ta không được rơi nước mắt khi ngoài kia trời đang nắng chang chang, hoặc khi người khác đang vui cả, càng không có một kẻ nào dám quy định rằng cứ là nhân vật phản diện thì thể nào cũng bị đánh bại dưới tay nhân vật chính diện, thiện luôn thắng ác, và bại binh thì luôn phục hận. Chúng ta chỉ thích nhìn thấy những gì mà chúng ta tin là nó phải như thế mà thôi.

Một thứ thức uống không bán nổi hàng vì có màu sắc kì dị, nhưng ngay khi được cho thêm một chút phẩm màu thì lập tức tiêu thụ được ở hàng trăm quốc gia. Một chiếc áo lông thú thật thì lúc nào cũng được săn đón hơn lông thú công nghiệp và được, hay đúng hơn, là bị những kẻ giàu xổi tự cho mình là hơn người mua về chỉ để trưng diện hoặc thể hiện đẳng cấp rồi hào hứng nhìn những tên thiển cận, nông cạn, ngu muội và dốt nát tung hô mình. Một đám không biết điều chỉ biết đàn đúm, tụ tập, chỉ trỏ và chế nhạo tất cả những ai đi ngang qua chúng mà không hề hay biết một điều rằng trong số đó có cả những kẻ đang trả lương cho chính cha mẹ chúng, hoặc vừa tung một cước vào tên cướp vừa có ý định nẫng chiếc túi xách của ông bà chúng ở bến tàu. Một lô một lốc người cùng nhau đi vây bắt một đứa trẻ ranh vắt mũi chưa sạch chỉ sử dụng một chiếc máy tính xách tay để hàng trăm chuyến bay phải hoãn lại trong nhiều giờ liên tục. Một người nổi tiếng đã dẫn mối bán dâm suốt nhiều năm liền mà không hề bị phát giác, nhưng lúc lòi đuôi lại có tới hơn mười nghìn người kí vào đơn đề nghị người đó được giữ lại trong giới giải trí. Một người Hồi giáo thấy một thanh niên da trắng ngoại đạo đi tới gần mình, bèn dang rộng vòng tay và nở nụ cười rạng rỡ để chào anh ta, sau đó bị chính gã bắn chết cùng bốn mươi tám người khác nữa, toàn bộ cảnh tượng được phát trực tiếp trên mạng xã hội và thậm chí không một ai nghĩ rằng họ cần phải ngăn chặn việc này, vì họ còn bận thông tin với báo chí rằng người Hồi giáo cực đoan ra sao, hay cần phải bị trừng phạt như thế nào. Một người trở thành nạn nhân, và mọi tội lỗi đều đổ lên đầu họ bởi những người thậm chí còn không bao giờ dám thử hình dung mọi thứ sẽ ra sao nếu như cả thế giới sụp đổ ngay trước mắt mình.

Một bộ phim, một cuốn sách nhàm chán không phải bởi vì nó không khai thác tất cả những gì đang diễn ra ngoài kia, mà là bởi vì chúng ta có thể tìm thấy ở đó chính xác những gì đã, đang và sẽ xảy ra. Bởi vì cuộc sống tẻ nhạt nên được đưa vào nghệ thuật cũng không tránh khỏi sự rập khuôn, hay vì chúng ta trông thấy cảnh tượng ấy nhiều đến mức phát nhàm, cho nên chẳng còn bất ngờ thêm được nữa? Bởi vì thứ gì cũng nhàn nhạt, cũng vô vị, hay vì chúng ta từ lâu đã đánh mất trái tim thiện lương cùng tâm hồn trong sạch, thành ra chẳng mấy điều dơ bẩn làm ta thấy buồn nôn?

Đó là lí do mà chúng ta luôn cần tới một người máy. Một thiết bị chắc chắn sẽ không bỏ rơi chúng ta vào những lúc chúng ta cần đến nhất. Một thiết bị sẽ cho chúng ta những lời khuyên đúng lúc, trò chuyện với chúng ta khi chúng ta chẳng còn một ai để trút bầu tâm sự. Một thiết bị sẽ khen ngợi bạn mỗi khi bạn làm tốt, nhẹ nhàng khiển trách bạn khi bạn làm chưa đúng, giúp bạn nấu nướng, dọn dẹp, nhắc bạn đi ngủ đúng giờ và đánh thức bạn mỗi sáng. Một thiết bị không bao giờ quên ngày sinh nhật của bạn, cùng với tất cả các sự kiện khác xảy ra trong suốt cuộc đời bạn, như ngày bạn tốt nghiệp, hay ngày đầu tiên bạn đi làm. Một thiết bị sẽ gắn bó với bạn, không bao giờ khiến bạn phải tổn thương về mặt tinh thần, bảo vệ ngôi nhà của bạn, giúp bạn khám phá thế giới xung quanh, và bạn chỉ cần bỏ ra một khoản tương ứng với một phần mười chi phí mà bạn phải chi trả hàng tháng để bảo trì pin năng lượng mặt trời để sở hữu nó. Một thiết bị chắc chắn không bao giờ bỏ rơi bạn. Một thiết bị con người hơn cả con người.

Chào mừng quý khách đã trở thành khách hàng của Humanoid. Rất hân hạnh khi được phục vụ quý khách. Niềm vui của quý khách chính là phần thưởng lớn nhất dành cho chúng tôi. Theo như yêu cầu của quý khách, chúng tôi đã chuẩn bị một số sản phẩm mẫu để quý khách có thể xem qua và cân nhắc để sở hữu cho riêng mình một Humanoid đáp ứng mọi nhu cầu của quý khách. Hôm nay, chúng tôi đã đem tới đây năm sản phẩm mẫu, bao gồm H01, H02, H03, H04 và H05 để quý khách có thể trải nghiệm thử từng sản phẩm một cũng như có những đóng góp giúp chúng tôi nâng cao chất lượng sản phẩm.

Xét theo đề nghị của quý khách về việc quý khách có nhu cầu tương đối cao về mặt thẩm mĩ, năm sản phẩm mẫu này đều đã được ưu tiên rất nhiều về mặt kết cấu và giao diện. Giống như các sản phẩm trước đó của chúng tôi, các Humanoid này đều là các thiết bị trợ lý ảo được gắn liền với máy tính xách tay hoặc lắp đặt cố định trong nhà riêng có kết nối IoT hoặc xe hơi thông minh. Tuy nhiên, khác với các mẫu sản phẩm đã được ra mắt, với lô hàng mới này, quý khách có thể thay đổi tên, độ tuổi, giới tính cùng giọng nói của Humanoid. Đây là điểm nâng cấp đầu tiên so với các sản phẩm trước. Nhưng nếu như quý khách cho rằng đây là yếu tố duy nhất được đổi mới, thì chắn hẳn quý khách sẽ cực kì bất ngờ trước tiến bộ mới của chúng tôi trong việc nghiên cứu và đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Dựa theo các kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy khách hàng dần dần cảm thấy thiếu thốn ngay cả khi hàng ngày đều duy trì trò chuyện với các Humanoid. Họ cảm thấy các sản phẩm của chúng tôi không thật, và dần dần không còn hứng thú nữa. Họ nhận ra rằng các sản phẩm này chỉ là những thiết bị được lập trình chứ không phải là con người, nên họ không thể tương tác được với các sản phẩm nhiều như họ mong muốn. Để làm vừa lòng khách hàng, lô sản phẩm mới chúng tôi đem tới cho quý khách ngày hôm nay đều đã được cải tiến.

Cụ thể, các thiết bị này sẽ không chỉ phát ra giọng nói giống như thông thường. Quý khách có thể lựa chọn kiểu tóc, màu mắt, màu da, kích cỡ cơ thể, cách ăn mặc cho sản phẩm mà mình mua về. Đính kèm với sản phẩm có một thiết bị đặc biệt để biến đổi thiết bị, chuyển giao hình ảnh xuất hiện trên giao diện của thiết bị từ 2D thành các định dạng 3D và 4D, khiến cho quá trình tương tác trở nên thật hơn bao giờ hết. Về định dạng người thật, chúng tôi đang cố gắng hết sức để từng bước một nâng cấp nhằm duy trì định dạng này trong thời gian dài hơn. Tính đến hiện tại, khả năng duy trì định dạng người thật của Humanoid còn khá là kém. Điều này cũng không thể trách chúng tôi được, vì không gian – thời gian hiện tại đang hết sức nhiễu loạn. Chắc hẳn quý khách cũng đã biết, việc du hành thời gian đang dần trở thành một xu thế, và dẫu cho dù đã áp dụng rất nhiều chế tài xử phạt, thì việc sử dụng máy gia tốc cùng các thiết bị du hành cũng đang gây ra rất nhiều sự cố. Việc nứt gãy khung thời gian cách đây một tháng đã khiến cho hàng loạt công dân của chúng ta mất tích, và chúng tôi cho rằng thông tin về việc một chiều không gian khác được mở ra cũng đang khiến cho quá trình ổn định định dạng của Humanoid gặp nhiều sự cố. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng hết sức. Quý khách đừng lo ngại về việc sản phẩm mà mình mua về không được nâng cấp kịp thời. Vì ngay sau khi chúng ta hoàn thành bản cập nhật mới nhất, toàn bộ các sản phẩm thuộc lô hàng này cũng sẽ ngay lập tức được nâng cấp một cách hoàn toàn tự động.

Xin quý khách cho tôi biết tên của quý khách?

Để tiện cho việc liên lạc sau này, thưa quý khách. Đây là thủ tục bắt buộc.

Johnny.

Dạ vâng?

Johnny.

Tôi hiểu rồi, thưa quý khách. Vậy thì quý khách…

H05.

Ồ, tôi nghĩ rằng quý khách nên thử trải nghiệm sản phẩm để có thể…

Tôi nói là H05.

Quý khách vui lòng nhập mã số căn cước vào đây. Cảm ơn quý khách.

Thưa quý khách, hệ thống báo rằng quý khách… Quý khách từng là một nhân viên tại đây, do đó quý khách không được… Ồ, tôi rất xin lỗi vì tôi không nhận ra anh ngay được. Anh biết đấy, một ngày tôi phải tiếp đón rất nhiều người cho nên nhất thời không thể nhận ra anh. Hơn nữa, so với lần cuối cùng tôi gặp anh thì anh thay đổi nhiều quá. Tôi… Johnny, tôi biết là anh phật ý, nhưng tôi thật sự… Tôi thật sự rất xin lỗi anh. Anh là chuyên viên kĩ thuật, đúng chứ? Tôi nghĩ là tôi đã gặp anh ở dưới phòng kĩ thuật, hoặc là…

Cậu không nhớ tôi.

Không… Nghe này, Johnny, đừng trẻ con như thế… Anh biết đấy, tôi…

Doyoung không nhớ tôi.

Tôi không hề có ý muốn làm tổn thương anh.

Doyoungie… không nhớ tôi.

Johnny, tôi thực sự rất bận. Tôi không biết anh làm thế này là để làm gì, nhưng để khi khác rồi tôi nói chuyện với anh, được chứ? Nếu anh đang khó khăn thì… Tôi có thể đưa cho anh một ít. Thật đấy, tôi không đùa đâu. Tôi có số tài khoản của anh rồi. Lát nữa, tôi sẽ chuyển tiền vào đó cho anh. Đừng lo lắng gì cả, nhé. Còn bây giờ thì tôi thực sự phải đi rồi. Mong anh thông cảm cho tôi.

Đừng… Này, Johnny… Đừng tới gần đây.

Tôi xin anh đấy, tôi có thể giải thích… Tôi không cố tình không nhận ra anh đâu.

Doyoungie không nhớ tôi.

Johnny… Làm ơn…

Doyoungie quên tôi mất rồi. Làm thế nào để em không bao giờ quên tôi bây giờ?

Tôi không… kh-không quên… anh…

Một thiết bị chắc chắn không bao giờ bỏ rơi bạn. Một thiết bị con người hơn cả con người. Em ơi… Làm thế nào bây giờ được nhỉ?

Bỏ… bỏ tay ra…

Một thiết bị sẽ khen ngợi bạn mỗi khi bạn làm tốt, nhẹ nhàng khiển trách bạn khi bạn làm chưa đúng, giúp bạn nấu nướng, dọn dẹp, nhắc bạn đi ngủ đúng giờ và đánh thức bạn mỗi sáng. Không phải rất tuyệt hay sao? Ý tôi là, nếu như em là một Humanoid ấy? Xinh đẹp như thế này, thông minh như thế này, ngọt ngào như thế này, nếu như em là một Humanoid thì tốt quá rồi…

Thì tốt quá rồi.

.

Đã kích hoạt thiết bị.

Đã chọn màu tóc: Đen.

Đã chọn màu mắt: Đen.

Đã chọn chiều cao: 5ft 10.07874in.

Đã chọn cân nặng: 132.27735731lb.

.

Lâu lắm rồi tôi không uống champagne. Lần đầu tiên mà tôi uống thử là khi em mời tôi một ly, trong buổi tiệc của công ty cách đây nhiều năm. Em biết sao không? Chúng nói rằng tôi không có tiền để mua thứ này, mà ngay cả có tiền đi chăng nữa thì cũng chẳng đủ tầm để nhấm nháp một ly champagne. Nhưng em nhìn xem, tôi có thể uống mọi thứ tôi thích, tôi còn có thể ăn tối cùng em nữa. Cổ điển, nhỉ? Nhưng tôi thì lại thích như thế. Tôi thích ngắm nhìn khuôn mặt em. Tôi say mê dáng vẻ hăng say của em mỗi khi làm việc, rồi cả vẻ dịu dàng của em mỗi khi em cúi người mà nói chuyện với những kẻ chẳng ai thèm đoái hoài tới nữa. Em không biết được đâu, những lúc đôi mắt em sáng lên lấp lánh, và đôi môi em mấp máy đầy mời gọi, trông em thực sự mê người. Tôi luôn mong muốn được trò chuyện cùng em. Chúng ta sẽ ngồi đối diện nhau, dưới ánh nến lung linh, cùng nhau nói về tương lai, như cách mà người ta đã làm cả trăm nghìn năm trước, ở một nơi nào đó tốt đẹp hơn. Tiếc rằng, chúng ta vốn dĩ không thể, nhỉ? Chúng ta không thể cứ như vậy gạt tất cả mọi thứ sang một bên và sống theo cách mà chúng ta muốn được. Em xem, bao nhiêu năm nay, chúng ta luôn nói với nhau rằng chúng ta phải cùng nhau tạo ra một thứ thậm chí còn con người hơn cả con người. Nhưng rốt cuộc, để mà làm gì kia chứ? Tạo ra những sản phẩm giống hệt chúng ta rồi giao bán với giá đắt cắt cổ?

Chẳng phải xung quanh chúng ta đang có quá nhiều con người rồi hay sao? Chúng không thể nào giống con người được. Suy cho cùng, chúng ta chỉ đang tạo ra những nô lệ cho cảm xúc của chính mình mà thôi. Một cái máy không bao giờ làm con người tổn thương, nhưng một con người thì có. Tạo ra một thứ giống với chúng ta, trong khi chúng ta thì vốn tồi tệ đến mức không tin nổi. Kì quặc thật chứ, phải không? Bấy lâu nay, chúng ta đang chạy theo điều gì thế? Chúng ta đã làm gì để mà phải chịu đựng tất cả những điều này?

Chào mừng quý khách đã trở thành khách hàng của Humanoid. Rất hân hạnh khi được phục vụ quý khách. Niềm vui của quý khách chính là phần thưởng lớn nhất dành cho chúng tôi. Em có thể nói lại câu đó cho tôi nghe được không? Mà thôi, không cần đâu. Quên đi.

Ngủ ngon nhé, Humanoid.

.

Đã đổi tên thiết bị: Doyoung.

 

Posted in my johnny, night night (II), Triphenylmethane Project

[Oneshot | Triphenylmethane Project #E131 | #JohnDo] catherine wheel (June 4th, 1940)

DyR3iwUUYAAwSzd

Author: Trịnh Ánh

Requested by: unknown

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Character(s): Captain James (NCT Doyoung), John (NCT Johnny)

Categories: World War II – AU, Dunkirk – AU

Rating: K+

Summary:

“Thử nói lại cho tôi, nhiệm vụ của tôi lần này là gì?”

“Ngày mai, ngày hai mươi sáu tháng Năm năm 1940, Đại uý James được lệnh từ Thủ tướng Winston Churchill, chỉ huy ba máy bay tiêm kích Spitfire thuộc Phi Đội 19 của Không lực Hoàng gia Anh, tiêu diệt máy bay tiêm kích của Đức, giải phóng bầu trời, hỗ trợ Lực lượng viễn chinh Anh Quốc di tản từ Dunkirk của Pháp theo eo biển Manche quay về đất liền.”

“Anh trả lời thiếu rồi.”

“…”

“Nhiệm vụ của tôi còn là trở về vào ngày mùng bốn tháng Sáu nữa.”

“…”

“John, nhìn tôi.”

“…”

“Tôi hứa danh dự với anh. Tôi chắc chắn sẽ trở về.”

catherine wheel (June 4th, 1940)

In my kingdom, you have a name.

 

 

Tất cả chúng ta đều có một ngày đen tối trong cuộc đời. Một ngày chúng ta nhìn thấy toàn bộ các hành tinh của Hệ Mặt Trời xuất hiện trên bầu trời vào cùng một thời điểm, và thế giới mà chúng ta từng biết vĩnh viễn biến mất như thể chưa từng tồn tại. Mặt Trăng ăn Mặt Trời, và bầu khí quyển bị xáo trộn khiến nồng độ oxygen trong không khí không ổn định khiến chúng ta không thể hô hấp một cách bình thường. Trong ngày hôm đó, thế gian chính thức chìm vào bóng đêm, một lần và mãi mãi. Chúng ta không nhìn thấy ánh sáng, và trong nỗi hoảng loạn lên tới tột cùng, chúng ta thậm chí còn cảm nhận được adrenaline đang sản sinh trong cơ thể mình. Chỉ cần một ngày thôi, một ngày là đủ. Chỉ cần một ngày để chúng ta đánh mất chính mình trong màn đêm thăm thẳm của cô đơn, đau khổ và sợ hãi. Một ngày đánh dấu sự khởi đầu của những đêm trường giá lạnh khi chúng ta buộc phải nương nhờ vào ngọn lửa sục sôi của nỗi căm hận từ tận sâu bên trong tâm hồn để sinh tồn. Chúng ta sẽ nhận ra, mình đang tồn tại nhờ sự tức giận muốn được báo thù ấy. Nhưng ngay khi có cơ hội rửa hận, ngọn lửa ấy cũng tắt ngấm, và chúng ta một lần nữa rơi vào thương đau khi biết được mình không hề được chào đón bởi chính cơ thể mình. Tệ thật. Tệ thật đấy, khi hiểu ra mọi điều mình làm từ trước đến nay đều vô nghĩa trước sự chết chóc của lòng người.

Nhưng mọi thứ chưa dừng lại ở đó. Đâu thể dừng lại một cách dễ dàng tới như vậy được, khi mà chúng ta chưa phải trả giá cho những điều tồi tệ mà mình đã gây ra. Không dễ dàng để thú nhận rằng mình đã sai, càng khó khăn hơn để không tự thôi miên bản thân và ru ngủ mình trên chiếc ngai vàng của vinh quang được dựng lên bên trên những xác người, trong khi mình đã làm ra đủ thứ kinh khủng và tên tuổi của mình được cứa lên da thịt biết bao người bằng lưỡi lê gắn trên đầu súng. Một người lính không còn cách nào khác ngoại trừ thuyết phục chính mình rằng anh ta đang phục vụ cho lí tưởng của cả một dân tộc. Anh ta, phải thú thực một điều, cảm thấy bất lực với chính khối óc của mình, khi anh ta những mong bản thân cảm thấy tự hào khi đeo chiếc vòng nguyệt quế được kết bởi những quả tim hẵng còn nhịp đập của dân thường vô tội nơi đất nước xa xôi, được thái mỏng tang rồi mạ vàng vòng, nhưng anh ta chỉ mỗi lúc một ghê tởm chính bàn tay nhuốm máu của mình. Nhiều người đã chặt đi đôi bàn tay từng không chần chừ cầm súng mà lăn xả trên trận địa. Nhiều người đã phát điên mỗi khi giật mình thon thót giữa đêm khuya vì một cơn ác mộng, và trong giấc mơ xấu ấy, anh ta thấy đôi mắt của người lính phía bên kia trợn trừng nhìn mình, ai oán, thê lương. Nhiều người đã tự sát. Họ chỉ đơn giản là không thể chịu nổi. Họ không biết phải diễn tả những cơn lốc xoáy trong đầu mình như thế nào, lại càng không mưu cầu một chút cảm thông đến từ những người bị kéo vào cuộc chiến vì sự điên cuồng của một tên đồ tể đầu đội vương miện. Và bởi vì không được một ai thấu hiểu, họ đã đưa ra một sự lựa chọn.

Một sự lựa chọn khó khăn, nhưng sáng suốt. Họ chết.

Đứng trước cửa tử, họ chợt nhận ra đáng nhẽ mình nên chết ngay trên chiến trường. Một cái chết có thể không được oanh liệt cho lắm, nhưng ít nhất thì cũng sẽ chấm dứt dòng suy nghĩ đang bị đánh rối thành một mớ bòng bong trong đầu những người cựu chiến binh đã đi qua một thời máu lửa, đạn bom, và họ sẽ được tôn vinh như người con quả cảm của Tổ quốc. Gia đình họ tự hào về họ, đất nước họ kiêu hãnh vì họ. Nhưng họ đã trở về. May mắn một cách rất không may mắn, họ đã trở về, để rồi bức chết cả gia đình trong sự cục cằn, rồ dại và hung hăng của một kẻ quay về từ cõi chết, trói chân cả một đất nước với trợ cấp chính phủ dành cho cựu chiến binh. Những người đã hi sinh khi chiến đấu, họ là những anh hùng. Những người đã sống sót sau khi chiến đấu, họ chỉ là những kẻ thất bại không thể hoà nhập với xã hội sau mấy mươi năm đằng đẵng tận mắt nhìn thấy nguyên hình, nguyên dạng của cái chết dưới hình thù gớm ghiếc nhất của nó.

Những người còn sống sẽ không bao giờ quên được cách mà đồng đội mình ngã xuống. Họ ghi nhớ chúng, và chúng gần như trở thành một hình xăm trên người, kể cả tìm cách xoá đi thì cũng vĩnh viễn thành sẹo, nhắc nhở họ rằng họ không có quyền quên đi – dù chỉ là một giây thôi – sự thật rằng tính mạng của họ đã được bảo vệ bởi sự hi sinh của những người khác. Trong trận không kích đầu tiên nhắm vào nước Anh, thương vong duy nhất chỉ là một con thỏ. Trong trận không kích thứ hai mà Đức Quốc xã thực hiện, Hitler thậm chí còn có ý định xây dựng một bảo tàng dành cho các dân tộc bị tiêu diệt hoàn toàn trong trận chiến. Những người sống phải trả giá cho những lỗi lầm của mình. Họ phải nhớ về những cái chết. Họ nhìn thấy người chết nhiều hơn người sống. Họ trông thấy nỗi đau khổ nhiều hơn niềm hạnh phúc. Mỗi khi ngẩng đầu nhìn lên bầu trời, họ lại nghe thấy văng vẳng tiếng máy bay chiến đấu với chiếc động cơ ồn ào của nó, và những tiếng bom nổ bám riết lấy họ ngay cả trong những giây phút yên bình nhất, khi họ ngắm nhìn thành phố, khi họ đưa mắt dõi theo một chú chim truyền cành, khi họ ôm lấy người thương yêu vào lòng, và khi họ đặt tay lên ngực trái mình chỉ để biết rằng mình đang còn sống. Họ bị đày ải trong nỗi tiếc thương, và họ đắm chìm trong quá khứ như thể từ khi sinh ra, họ đã chẳng hề biết đến ngày mai. Người thân của họ là những kí ức đầy vơi về một thời tuổi trẻ, còn người tình là những khuôn mặt ám ảnh họ tới tận lúc chết. Khuôn mặt đồng đội mà quá nửa đã bỏ mạng, khuôn mặt đen nhẻm vì bám thuốc súng của những người khác quốc tịch, khác màu da, khuôn mặt của cái chết.

Một áp lực vô hình đè nặng lên cơ thể họ, nhưng lại khiến họ đau đớn hệt như bị đập vỡ từng khớp xương. Người ta khuyên nhủ họ, nói rằng họ buộc phải để lại quá khứ sau lưng. Người ta nói với họ rằng chỉ có hiện tại mới là quan trọng nhất, và nếu như họ cứ sống mãi với thực tại đã qua, hay cho rằng cuộc đời mình đã chấm dứt thì họ không bao giờ bù đắp được cho chính tổn thất tinh thần của mình. Thế nhưng, người lính chỉ đau đớn mà đưa mắt nhìn những người chưa từng phải bước vào một cuộc chiến nào, cũng không cần phải giết chóc để tìm đường thoát thân kia. Họ dùng sự câm lặng mà kể về nỗi bất lực khi bị giam hãm trong chính chiếc lồng sắt của day dứt, ăn năn và hối hận. Họ dùng cơn giận dữ như một cách để giải phóng nỗi đau lớn hơn sức chịu đựng của con người, một nỗi đau mà chỉ những ai bắt buộc phải lựa chọn giữa việc lùi lại phía sau để chết với tiến về phía trước để chết một cách bi thảm hơn, những ai rơi vào tình thế không thể làm gì khác ngoại trừ mặc kệ vết thương đang sưng tấy của mình, những ai từng là một người lính mới có thể thấu hiểu. Những người lính, hoặc là gào thét như kẻ điên, hoặc là câm lặng như một kẻ tàn phế, nhưng lại mang cùng một nỗi đau. Nỗi đau quên mất mình là ai. Đối với họ, đôi tai ù đi vì tiếng nổ cùng ngực trái căng tức vì lực ép từ một trái bom là một phần của họ, là chính họ, và họ chẳng là gì cả nếu họ rời bỏ vị trí của mình. Vị trí của một tên đồ tể, vị trí của những nạn nhân cuối cùng trong cuộc chiến.

Họ đã phải nhìn thấy quá nhiều, và những kí ức ấy nghiền họ nát vụn như một bánh xe Catherine trong màn tra tấn khiếp đảm thời Trung Cổ. Họ chẳng là ai cả. Họ không phải cỗ máy giết người, nhưng cũng không được coi là một con người. Họ cũng chẳng phải chính họ. Thật ra, họ chẳng hiểu nổi mình được sinh ra vì điều gì. Hàng ngày, họ vẫn ăn uống, vẫn nghỉ ngơi, vẫn chiến đấu. Giống như những người bình thường khác, họ trông thấy cuộc sống xung quanh. Chỉ có điều, nếu như người ta ngắm nhìn cảnh vật và tận hưởng sự diệu kì bên trong cuộc sống, họ chỉ nhìn thấy những khuôn mặt. Đôi tai họ bị lấp đầy bởi tiếng súng máy, tiếng động cơ, tiếng cánh quạt máy bay, và tiếng cười của những người đã sớm giã từ cuộc sống ở tuổi đẹp nhất của đời người. Những thước phim mà họ mang về từ trận địa ghi lại khoảnh khắc cuối cùng của một sinh linh, hình ảnh một cái xác bị kéo lê trên mặt đất, và cũng có đôi khi, là cái chết của người mà họ yêu nhất.

Những tấm hình được họ nâng niu và trân trọng, những tấm hình được đặt trong triển lãm về cuộc chiến, được lựa chọn làm tư liệu về thời kì đen tối nhất của nhân loại, lại vô tình là tấm hình cuối cùng mà người nhiếp ảnh gia – cũng là một người lính – kịp chụp lại trước khi chiếc máy bay của người mình yêu thương tiếp đất. Lần cuối cùng giương ống kính chụp ảnh người đã từng, vẫn đang và luôn luôn là sự sống của mình, thật không ngờ, lại đau thương đến thế.

.

“K5054 khởi hành từ sân bay Eastleigh đến căn cứ đã hạ cánh an toàn. Đại uý Summers vừa mới bàn giao chiếc máy bay cho đơn vị thử nghiệm của chúng ta.”

“Vậy là chẳng mấy chốc, chúng ta cũng sẽ được bay thử nó?”

“Tôi cũng mong thế đấy, nhưng tính ra thì kể ra thì chẳng hào hứng tới mức ấy.”

“Sao thế? Tôi cứ tưởng Đại uý rất hâm mộ K5054?”

“Cánh mỏng quá.”

“Tức là…?”

“Nếu cánh mỏng như vậy, khi bay lộn vòng ở tốc độ cao thì lực khí động học áp lên cánh tà sẽ làm xoắn đầu cánh theo hướng ngược lại hướng lệch, không bay nổi đâu.”

“Đại uý có nhắc tới chuyện đó với người thiết kế không?”

“Tất nhiên là có rồi, nhưng ông ta lại bảo rằng nếu như tôi chưa từng chế tạo ra một chiếc máy bay được Bộ Hàng không tài trợ kinh phí thì đừng có mà vênh váo.”

“Rồi Đại uý nói gì với ông ta? Không có chuyện Đại uý chịu im lặng để cho người khác khinh thường mình như thế đâu nhỉ?”

“Tôi bảo ông ta rằng nếu như ông ta chưa từng ngồi trên một chiếc máy bay và lơ lửng ở độ cao hàng nghìn feet thì đừng nên nói gì cả.”

.

“Anh đang làm gì thế?”

“Tôi chỉ đang ghi nhật kí thôi.”

“Nhật kí?”

“Đại khái là ghi lại những chuyện xảy ra trong ngày ấy.”

“Để làm gì thế?”

“Để mỗi khi tôi nhỡ quên một việc gì thì đều có thể mở nhật kí ra để tìm lại. Có ích lắm đấy, nếu như Đại uý là một người hay quên. Tôi chỉ ghi lại những chuyện thực sự quan trọng thôi, vì nếu cái gì cũng ghi lại thì giấy đâu cho đủ. Dĩ nhiên, tự mình ghi nhớ vẫn luôn là tốt nhất rồi, nhưng thi thoảng có cơ hội điểm lại những gì đã xảy ra cũng thú vị lắm đấy.”

“Vậy thì tốt hơn hết là anh đừng để nó rơi vào tay người khác.”

“Tôi nhớ rồi.”

“Nhưng mà này, nếu như anh ghi lại tất cả những gì đã xảy ra thì tôi chắc cũng xuất hiện trong nhật kí của anh nhỉ?”

“Có chứ, ngày nào tôi cũng gặp Đại uý mà.”

“Tôi có được biết là anh đã viết gì về tôi không?”

“Mỗi ngày, tôi đều viết vào nhật kí rằng tôi được làm việc với một người cực kì tuyệt vời, bằng chứng là người đó chịu trách nhiệm bảo vệ bầu trời của tôi.”

“Anh nói rằng anh chỉ ghi lại những chuyện quan trọng thôi, nhỉ?”

“Đúng rồi.”

“Điều đó có nghĩa là, chuyện liên quan tới tôi là chuyện quan trọng với anh?”

“Rất quan trọng, thưa Đại uý.”

.

“Anh có mang theo quyển số không? Anh ghi lại giúp tôi: Ngày hôm nay, mùng bốn tháng Tám năm 1938, Phi Đội 19 tại căn cứ Không quân Hoàng gia Duxford tiến hành bay thử chiếc Spitfire đầu tiên được đưa vào phục vụ cho quân đội.”

“Tôi sẽ ghi chú là Đại uý đã lái chiếc máy bay đó nhé?”

“Tuỳ anh thôi.”

“À, tôi có thứ này cho anh.”

“Gì thế?”

“Một cuốn sổ, để Đại uý ghi lại những gì mình thích. Giống hệt quyển của tôi đấy, vì tôi không rõ Đại uý thích loại nào cả. Xin lỗi Đại uý nhé.”

“Không sao đâu. Tôi thích lắm. Tôi sẽ… sử dụng thật cẩn thận. Cảm ơn anh.”

.

“Chúng ta sẽ tham gia vào cuộc di tản người của ta ở Dunkirk. Theo công lệnh, bắt đầu từ ngày hai mươi sáu tháng Năm, Lực lượng viễn chinh Anh Quốc phải rút lui khỏi Dunkirk bằng cách vượt qua eo biển Manche. Thủ tướng đã đích thân yêu cầu chỉ huy của bên đó phải làm mọi cách để giải cứu càng nhiều quân nhân càng tốt. Họ đang vừa chống trả, vừa mở đường tháo chạy theo đường biển. Tàu dân sự đang được huy động để lên đường giải cứu quân đội, và chúng ta được lệnh tiến hành bảo vệ họ từ trên không.”

“Dự kiến có thể di tản được bao nhiêu?”

“Sức ép từ phía kẻ thù rất lớn. Tôi được thông báo rằng họ dự kiến sẽ cứu được bốn mươi lăm nghìn binh lính trong vòng hai mươi tư giờ đồng hồ, nhưng đây là một con số không tưởng, thưa Đại uý.”

“Vì sao anh lại nói thế?”

“Bởi vì ngày hôm nay, xác nhận chỉ có tám nghìn quân nhân được di tản thôi. Bốn mươi lăm nghìn người trong vòng hai ngày gần như là không thể.”

“Ai nói với anh rằng chúng ta không thể?”

“Thưa Đại uý, ngay cả Tướng Brooke còn nói rằng bây giờ chỉ có phép màu thì mới giải cứu được lực lượng viễn chinh. Tôi nghĩ… Dù kết quả có ra sao thì chúng ta cũng đã cố gắng hết sức mình rồi. Thú thực, tôi đang lo lắng vô cùng, thưa Đại uý. Nếu như chúng ta đổ lỗi cho mình vì không thể cứu được tất cả mọi người, thì…”

“Hiện tại, có bao nhiêu lính đang cố thủ tại Dunkirk?”

“Theo tôi biết thì là khoảng bốn trăm nghìn người, thưa Đại uý.”

“Bốn trăm nghìn người, dự kiến cứu thoát được bốn mươi lăm nghìn người, vậy mà anh lại cho rằng chúng ta được quyền thoả mãn với con số ấy hay sao?”

“Nhưng, thưa Đại uý…”

“Chúng ta đã lên đường chưa?”

“Chưa, thưa Đại uý.”

“Vậy thì anh lấy lí do gì để nghĩ rằng chúng ta không làm được? Thậm chí chúng ta còn chưa khởi hành, nhưng anh lại nói rằng chúng ta đã cố gắng tới giới hạn của mình. Chuyện gì vậy, John? Từ bao giờ mà anh lại bi quan tới như thế? Ngay cả khi tôi suy sụp vì phải đối mặt với cuộc chiến, anh vẫn là người đến bên cạnh để động viên, cổ vũ tôi. Anh đã tiếp thêm cho tôi rất nhiều sức mạnh, là người tôi đặc biệt tin tưởng, vậy thì cớ gì mà tới lúc này anh không dám nhìn thẳng vào mắt tôi? John! Nhìn tôi này, John!… Anh đang lo sợ. Tại sao thế?”

“Bởi vì… Bởi vì Đại uý sẽ là người lái chiếc máy bay ấy.”

“Ý anh là…”

“Ngày mai, anh sẽ tới Dunkirk và đối đầu với quân Đức mà không có tôi.”

“Anh giận tôi à?”

“Sao tôi phải giận anh?”

“Chuyện tôi không giao nhiệm vụ cho anh đi cùng tôi.”

“Không, tôi không… Chỉ là…”

“Thế thì vì sao anh lại…”

“Tôi đã viết vào trong cuốn sổ rằng anh sẽ trở về. Tôi đã bỏ cách một vài trang để viết đoạn nhật kí ấy. Đại uý, tôi thật sự…”

“Anh viết đoạn đó vào ngày bao nhiêu? Ý tôi là, ngày mà anh viết vào nhật kí rằng tôi sẽ trở về ấy, là ngày bao nhiêu?”

“Ngày mùng bốn, tháng sau.”

“Hôm nay là ngày hai mươi lăm tháng Năm. Ngày mai tôi lên đường, là ngày hai mươi sáu. Tôi nhất định sẽ trở về an toàn vào ngày mùng bốn tháng Sáu, năm 1940. Tôi hứa với anh. Anh yên tâm rồi nhé.”

“Nhưng mà, tôi vẫn thấy…”

“Thử nói lại cho tôi, nhiệm vụ của tôi lần này là gì?”

“Đại uý…”

“Nói lại giúp tôi với, để tôi còn ghi vào sổ.”

“Ngày mai, ngày hai mươi sáu tháng Năm năm 1940, Đại uý James được lệnh từ Thủ tướng Winston Churchill, chỉ huy ba máy bay tiêm kích Spitfire thuộc Phi Đội 19 của Không lực Hoàng gia Anh, tiêu diệt máy bay tiêm kích của Đức, giải phóng bầu trời, hỗ trợ Lực lượng viễn chinh Anh Quốc di tản từ Dunkirk của Pháp theo eo biển Manche quay về đất liền.”

“Anh trả lời thiếu rồi.”

“…”

“Nhiệm vụ của tôi còn là trở về vào ngày mùng bốn tháng Sáu nữa.”

“…”

“John, nhìn tôi.”

“…”

“Tôi hứa danh dự với anh. Tôi chắc chắn sẽ trở về.”

“…”

“Anh không tin tôi à?”

Cô ấy sẽ tự hào về Đại uý.”

“Anh đang nói tới ai kia?”

Spitfire.”

.

Tất cả chúng ta đều có một ngày đen tối trong cuộc đời. Ngày đen tối ấy sẽ mở ra một thời kì của chết chóc và diệt vong. Chỉ cần một ngày là đủ rồi.

Một ngày đen tối sẽ bắt đầu như thế nào? Rất nhiều người đã đặt câu hỏi như thế. Trong hình dung của nhiều người, một ngày đen tối sẽ mở đầu bằng việc bạn mở cửa trước nhà mình và một con rồng phun lửa hòng thiêu sống bạn trong tích tắc. Một số khác thì thực tế hơn một chút, họ cho rằng một ngày không thể nào tồi tệ hơn nữa nếu như một chuỗi những điều xúi quẩy cứ liên tiếp xảy ra: đặt bàn ủi trên áo quá lâu khiến chiếc áo mà bạn thích nhất chỉ còn công năng duy nhất là đem đi làm giẻ lau, quên không đóng cửa sổ nên mưa hắt vào trong nhà, vô tình làm hỏng chiếc áo chỉ-có-thể-giặt-khô mà bạn vắt lên thành ghế và chiếc ghế kia lại vô tình để gần cửa sổ, cao hứng mời bạn bè đi ăn trưa và nhà hàng duy nhất trong vùng đóng cửa để sửa chữa cái gì đó mà bạn cũng không rõ là cái gì trong khi mới buổi sáng thôi, khi bạn đi ngang qua thì nó vẫn còn mở cửa. Một ngày đen tối có thể đáng nhớ một cách rất không tích cực. Nó không đơn giản là lên kế hoạch đi dã ngoại và trời đổ mưa, nên bạn quyết định dựng lều ngay trong nhà để không lãng phí món bánh kẹp ngon tuyệt mà mẹ đã chuẩn bị cho mình. Không phải lúc nào bạn cũng xoay chuyển được tình thế một cách dễ dàng tới như thế. Trong nhiều tình huống, những điều tưởng chừng như hết sức xui xẻo bỗng chốc lại trở thành điềm lành, ví dụ như bạn tới sân ga muộn hai phút, và sau đó nghe tin chuyến tàu ấy bị lật sau khi khởi hành được năm phút đồng hồ. Nhưng với phần lớn trường hợp, xui xẻo là xui xẻo. Chúng ta không thể biết được khi nào thì một ngày đen tối sẽ ập tới. Không một tín hiệu nào báo trước cho điều ấy, và việc bước nhầm chân lúc ra khỏi nhà chỉ là một lời bào chữa tạm chấp nhận được mà thôi.

Vậy là, chúng ta không thể biết được khi nào thì một ngày không thể tồi tệ hơn sẽ diễn ra trong cuộc đời mình. Chính vì không biết trước được điều ấy, nên việc duy nhất chúng ta làm được chính là sống cho thật tốt để không bao giờ phải nuối tiếc một điều gì khi mình không còn sức lực để mà cố gắng nữa. Chúng ta xui xẻo khi bước nhầm chân ra khỏi nhà, khi có một ai đó vỗ một bên vai mình, khi nhìn thấy một con mèo đen chạy ngang qua, khi sinh ra nhầm cơ thể, khi sinh ra nhầm gia đình, khi sinh ra nhầm đất nước, khi sinh ra nhầm niên đại, khi sinh ra nhầm thời đại. Chúng ta xui xẻo khi sinh ra nhầm cuộc chiến. Những người lính, nhìn nhận theo một cách nào đó, là những tên bá đạo khốn nạn và xui xẻo nhất quả đất. Đây không phải chỉ là một lời nói đùa đâu. Hãy thử tưởng tượng, một thanh niên trai tráng, khoẻ mạnh, rắn rỏi, dũng cảm, kiên cường, hiên ngang, bất khuất, biết bắn súng, biết lái xe tăng, biết lái máy bay, biết dò mìn, biết gỡ bom, biết đủ mọi thể loại trên đời, rời quê nhà để tiến ra mặt trận mặc dù biết mình khó có ngày trở về và cũng biết tỏng việc mình nằm lại trên chiến trường sẽ xé nát con tim của một ông bố, bà mẹ, một người phụ nữ hay một người đàn ông khác nhưng vẫn bất chấp tất cả mà lên đường nhập ngũ, cống hiến cả tuổi trẻ để mà nằm gai nếm mật, chịu đựng mọi gian khổ, hi sinh cả hạnh phúc, và rồi bỏ mạng. Không phải quá bá đạo, quá khốn nạn nhưng cũng quá xui xẻo rồi hay sao? Khi rời đi, họ là những thanh niên trẻ trung phơi phới và trong một số thời kì, họ chỉ là những đứa trẻ cố tình khai gian tuổi để được nhận vào quân đội. Nhưng khi chiến đấu, họ là những người đàn ông và điều ấy thật hơn bất cứ sự thật nào.

Không một ai có thể đánh bại một người lính ngoại trừ suy tưởng của chính bản thân anh ta. Một khi tâm trí của người lính không bị bẻ gãy, anh ta sẽ trở nên bất bại. Nhưng anh ta không thể. Anh ta không thể coi như chưa từng có chuyện gì xảy ra, quay trở về nhà sau khi cuộc chiến kết thúc và sống tiếp như thể mình chưa từng bị thương, chưa từng nhìn thấy đồng đội thiệt mạng, hay chưa từng nghe thấy tiếng bom nổ ngay bên ngoài căn cứ. Anh ta không thể đơn thuần cảm thấy may mắn vì đã được trở về, nằm ngủ trên chiếc nệm êm ái ở nhà mình và không phải chịu đựng bất cứ một di chứng nào từ sự thảm khốc của chiến trường. Nhưng khi đang chiến đấu, người ta không có thì giờ mà nghĩ ngợi nhiều như thế. Giây trước giây sau có thể vì một phút lơ đễnh mà kéo cả đội vào chỗ chết, ai mà nghĩ được rồi mai đây mình sẽ ra sao nếu như sống sót trở về. Hơn thế nữa, đối với một người lính, chiến đấu một cách quả cảm như những anh hùng cho tới giây phút cuối cùng chính là chiến thắng. Có đôi khi, người ta không nghĩ nhiều về những vinh quang mà họ sẽ đem về cho đất nước mình. Người ta cần đủ dũng khí để cầm súng mà đấu tranh, và động lực để một người bình thường làm nên những điều phi thường, có lẽ chỉ là sự bình yên của một ai đó mà thôi.

Không một ai có thể đánh bại một người lính chừng nào ý chí của anh ta còn hướng về đất liền. Ở đất liền, anh ta có một cuộc sống. Một cuộc sống thật đẹp đẽ, thật tươi vui. Có thể ở nơi đó, anh ta không thực sự có nhiều lúc thảnh thơi, ngơi nghỉ. Nhưng có một điều gần như là chắc chắn, đó là anh ta yêu cuộc sống nhiều hơn anh ta nghĩ. Trước lúc lên đường, anh ta hiếm khi nghĩ tới mảnh sân trước nhà, và hẳn là chẳng bao giờ cho rằng sẽ có lúc mình thèm nghe giọng nói của mẹ tới nhường ấy. Thế mà ở trong quân ngũ, hay ngay khi đang ẩn nấp sau một bức tường đổ, nỗi nhung nhớ lại cứ như vậy mà trào dâng. Anh ta muốn trở về. Anh ta nhớ nhà đến mức rơi nước mắt. Nhưng nếu như phải lựa chọn giữa việc quay lại quê hương với một ngày mai không còn tiếng bom trên chính mảnh đất ấy, có lẽ họ không cần tới một giây để mà suy nghĩ đâu, bởi vì ngay khi chào tạm biệt nơi mình gắn bó suốt bao năm tháng, họ đã tìm ra câu trả lời rồi.

Chẳng phải ngẫu nhiên mà Đại uý James trở thành một phi công. Sợ độ cao, nhưng lại thách thức giới hạn cao nhất của mình đã bảo vệ bầu trời, anh nỗ lực điên cuồng để trở thành một thành viên của Phi Đội 19 rồi tiến tới chức Đội trưởng là bởi anh không muốn trực tiếp cầm súng chiến đấu. Ngồi trên con chim sắt, lướt qua đất liền và mặt biển, điều khiển bộ súng máy hòng bắn rơi một con chim sắt khác, việc ấy khiến anh phần nào bớt đi cảm giác tội lỗi. Anh chỉ đang thực hiện nhiệm vụ của mình, hỗ trợ cho các đồng đội dưới mặt đất, đảm bảo họ không bị tấn công từ trên không. Mỗi khi không hiểu nổi mình đang chiến đấu vì điều gì, James lại nghĩ tới những người bạn, những người anh em của mình vào sinh ra tử ở nơi mà họ gọi là địa ngục. Họ chưa từng bỏ cuộc. Họ đang vì một điều gì đó mà ngoan cường. Chính vì thế, anh có trách nhiệm phải bảo vệ những người đàn ông đầy nghĩa khí ấy. Trên đất liền, đồng đội anh đang quên mình. Trên mặt biển, dân tộc anh đang kiên trì. Vậy thì trên không, anh cũng phải cho họ thấy sự gan dạ của mình.

Người ta dành cả đời để tìm kiếm lẽ sống của mình. Họ vẫn sống đấy, nhưng nhiều khi không tài nào lí giải được mình đang sống để thực hiện sứ mệnh thiêng liêng nào. Với một vài người, tại một vài thời điểm trong đời, chỉ cần biết được mình còn đang sống là được rồi. Nhưng với một số khác, tại một vài thời điểm khác, họ nhận thức được rằng mình sẽ làm nên lịch sử. Rất có thể, họ không có được cơ hội để chứng kiến kết quả của việc mình sẽ làm. Cơ hội nhìn thấy khoảnh khắc của thời đại vốn không có nhiều, và họ thì không đủ may mắn để tranh cướp được một chỗ quan sát cận cảnh. Tuy vậy, vào chính xác khoảnh khắc đó, họ biết rằng mình cần phải hành động như thế. Đột nhiên, họ biết mình đang sống vì điều gì. Họ sống, để đảm bảo giây phút ấy thành sự thực.

Khoảnh khắc biết được mình sẽ không thể trở về đất liền được nữa có thể sẽ khiến một người lính đau đớn tới mức có cảm giác như mình đang vỡ vụn. Người lính ấy bỗng dưng nhớ ra ở một nơi nào đó, chắc hẳn có người sẽ vì sự ra đi của mình mà đau lòng. Chết. Cái chết nào có phải chỉ cướp đi mạng sống của một người không thôi đâu. Chết còn là tước đoạt lẽ sống của một người khác nữa. Nhưng trong rất nhiều trường hợp, xui xẻo là xui xẻo. Chúng ta xui xẻo khi bước nhầm chân ra khỏi nhà, khi có một ai đó vỗ một bên vai mình, khi nhìn thấy một con mèo đen chạy ngang qua. Một người lính xui xẻo khi sinh ra nhầm cơ thể, khi sinh ra nhầm gia đình, khi sinh ra nhầm đất nước, khi sinh ra nhầm niên đại, khi sinh ra nhầm thời đại. Họ xui xẻo khi sinh ra nhầm cuộc chiến. Để hiện thực hoá một điều gì đó lớn lao hơn tính mạng của bản thân mình, người lính cần dùng cả tính mạng để mà đánh đổi. Sự hi sinh lớn nhất của một người trên trận địa, kể cả khi có là trên mặt đất, trên biển hay trên trời, đều không phải là từ bỏ mạng sống. Sự hi sinh lớn nhất của người lính chính là biết chắc chắn sẽ có người khóc thương mình, nhưng vẫn nuốt nước mắt vào trong và làm người ấy tổn thương bằng cách lao đầu vào chỗ chết.

Vì đất nước? Không. Đại uý James không nghĩ rằng mình đang chiến đấu vì một điều gì đao to búa lớn tương tự như thế. Anh chiến đấu vì gia đình mình. Anh chiến đấu vì một người không nao núng trước cái chết đang ngày đêm miệt mài dùng ống kính của mình để mà ghi lại những khoảnh khắc đi vào lịch sử của cuộc chiến. Chiếc Spitfire sắp cạn nhiên liệu. Đồng hồ đo nhiên liệu bị hỏng. Cửa kính bị kẹt, anh không thể nhảy dù ra khỏi máy bay. Sau khi bắn rơi bốn chiếc tiêm kích của quân địch, cô ấy xem chừng đã mệt mỏi và rệu rã lắm rồi. Một lát nữa thôi, chiếc máy bay cuối cùng của Không quân Hoàng gia Anh sẽ rơi xuống eo biển Manche sau khi bị một máy bay của Đức Quốc xã bắn hạ. Đại uý James không ngờ mình sẽ tận hưởng chuyến bay cuối cùng tại Pháp. Một cái chết ở đất nước lãng mạn nhất thế giới, quả thật là hết sức nên thơ. Trước khi chết, người ta vẫn thường như vậy. Nhớ về những năm tháng đã qua, bùi ngùi một chút, đại khái thế. Anh thấy lướt qua trong đầu mình thật nhiều ý nghĩ. Đã là chuyến bay cuối cùng rồi, anh cũng không còn sợ độ cao như trước đây nữa, nhưng cảm giác không thở nổi trong lần đầu tiên cất cánh vẫn vẹn nguyên như thể mới ngày hôm qua thôi, anh lái thử chiếc Spitfire đầu tiên được giao cho Phi Đội 19 ở Duxford. Hồi hộp, nhưng bừng bừng khí thế.

Thiết bị liên lạc với trung tâm vẫn chưa hỏng. Chỉnh lại tai nghe, Đại uý James mỉm cười. Thì ra là như thế. Thì ra, giây phút biết được mình chiến đấu vì điều gì lại hùng tráng đến như thế. Anh thấy mình như một anh hùng. Một anh hùng không mặc áo choàng, nhưng lại thành công ngăn chặn cuộc không kích nhắm vào bốn trăm nghìn người, và không phải xấu hổ khi đứng trước bốn trăm nghìn gia đình nơi hậu phương đang ngóng trông ra tiền tuyến. Họ sẽ được về nhà, một phần nhờ có anh.

John, lại phải xin lỗi anh rồi.

.

“Nếu như anh chụp ảnh tôi, linh hồn của tôi sẽ đi theo anh cả đời đấy.”

“Vừa hay, tôi cũng muốn ở bên Đại uý cả đời.”

“Anh nên viết câu này vào nhật kí.”

“Còn Đại uý thì nên tự mình ghi nhớ câu này.”

.

“Tôi sẽ đi cùng tàu của dân thường để tới Dunkirk.”

“John, đừng ngớ ngẩn như thế.”

“Tôi có linh cảm rằng đó sẽ là cuộc di tản lớn nhất trong lịch sử, cho nên tôi nhất định không để lỡ giây phút huy hoàng ấy đâu.”

“Đã vậy, anh nhất định phải chụp ảnh chiếc Spitfire của tôi đấy.”

“Tuân lệnh, thưa Đại uý!”

.

“James, Spitfire #1, Phi Đội 19, Không quân Hoàng gia Anh, căn cứ Duxford. Nhiệm vụ di tản Dunkirk đã hoàn thành. Báo cáo, hết.”

Tất cả chúng ta đều có một ngày đen tối trong cuộc đời, nhưng không phải hôm nay.

 

Posted in my johnny, night night (II), Triphenylmethane Project

[Oneshot | Triphenylmethane Project #E131 | #JohnDo] callot soeurs

D1SefdzU8AAVxl-

Author: Jacob

Requested by: Thạnh

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Character(s): Mr. Edwards, the noble-man (NCT Johnny); Kim (NCT Doyoung); Perrie Edwards (Johnny’s niece)

Categories: angst, romance

Rating: G

Summary:

“Kim luôn muốn mặc nó… Trong ngày cưới, của chàng… với ta…”

callot soeurs

Nếu như tất cả phụ nữ đều tháo bỏ chiếc áo chẽn ngực cùng bộ khung váy khổng lồ kia ra khỏi người, học cách đánh xe ngựa để có thể đi tới bất cứ đâu tuỳ ý và ít nhất biết cách để tự vệ trong tình huống khẩn cấp, thì phụ nữ sẽ không khác gì đàn ông. Đó là lí luận của cánh nam giới, còn Perrie Edwards thì không nghĩ như vậy.

Một người phụ nữ đã chết đuối khi bị ngã xuống nước và không thể cựa quậy được do chiếc váy lồng sắt cồng kềnh, còn một người khác thì bị vướng váy vào nan hoa xe ngựa rồi bị kéo lê trên mặt đường. Ở Santiago, khí ga trong nhà thờ bị hở và gây ra vụ hỏa hoạn, mọi người đã cố gắng chạy ra ngoài nhưng độ rộng của chiếc váy crinoline khiến nhiều người mặc kẹt ở cửa thoát hiểm. Cả nghìn người đã phải bỏ mạng chỉ vì một chiếc váy. Một người phụ nữ đột ngột tử vong vì hai chiếc dây thép gắn trên áo chẽn ngực đâm xuyên vào tim. Một nam diễn viên khi đang diễn kịch trên sân khấu trong vai nữ – bởi vì không một ai cho phép phụ nữ đứng trên sân khấu – thì bỗng nhiên đột quỵ và qua đời. Nguyên nhân là chiếc áo chẽn ngực quá thắt chặt vòng eo, làm gẫy xương sườn và những chiếc xương sườn gãy đâm vào nội tạng. Chiếc áo chẽn ngực bóp nghẹt vòng một, vòng hai dẫn đến trình trạng khó thở. Ngoài việc gây khó khăn trong việc hô hấp, trang phục này còn có nguy cơ làm gãy xương sườn và dồn ép nội tạng quá mức dẫn đến hiện tượng chảy máu trong. Nhưng ngay cả các bác sĩ cũng không hề khuyên vợ mình ngưng nhét cơ thể vào chiếc áo chẽn ngực khủng khiếp ấy. Họ còn bận làm một việc khác, đó là tròng một chiếc cổ cứng vào áo sơ mi, để chiếc cổ áo cắt đứt lưu thông máu và hô hấp, rồi chết ngạt trong lúc ngủ nếu vô tình quên không tháo nó ra.

Chúng ta cần phải đạt được quá nhiều tiêu chí để được coi như một con người, nhưng để được công nhận là một người phụ nữ, những tiêu chuẩn được đặt ra thậm chí còn khắt khe hơn. Nàng đang sống trong một thời đại sẽ được người đời sau mãi mãi nhớ đến như một bước lùi trong lịch sử, khi mà người phụ nữ không khác mấy chiếc áo cổ cồn được hồ cho thật cứng của người đàn ông, không có tác dụng nào khác ngoài để trang trí và tăng sự sĩ diện. Phụ nữ sẽ không được coi là phụ nữ nếu như họ không biết cách trang điểm, thành ra ai nấy đều trắng toát như sứ vì trát mĩ phẩm lên mặt, nhưng nếu họ đỏm dáng thì lập tức bị cho là lẳng lơ. Làm người đã khổ, làm phụ nữ còn khổ hơn thế. Nàng đã từng nhiều lần bị xem thường chỉ vì là một người phụ nữ. Họ cho rằng, nàng không thể sống mà thiếu đàn ông, và gía trị của một người phụ nữ nằm ở chỗ ả có cưới được một người chồng tốt hay không. Perrie ngán ngẩm mỗi khi nghĩ tới hàng tá tiêu chuẩn mà mình phải tuân theo. Nàng không thích mặc váy phồng, càng không thích vấn tóc, nhưng nàng sẽ ăn mặc như vậy nếu như mẹ nàng không nói rằng nếu nàng bất tuân, đàn ông sẽ không hứng thú với nàng.

Nàng không mấy khi loé lên trong đầu ý nghĩ mình thực sự cần một người đàn ông trong đời với tư cách là một người chồng, nếu như có-một-người-chồng tức là đồng nghĩa với việc có ai đó để mình dựa dẫm, nương tựa hoặc bất cứ điều gì tương tự mà người ta luôn ra rả bên tai nàng. Thật phiền, hết sức phiền. Một người đàn ông có thể kiếm ra tiền, nàng cũng có thể. Nàng là một thợ may, và công việc ấy giúp nàng đủ sống mà không cần phải dựa vào ai, có một cơ ngơi tương đối khang trang, một vài người giúp việc tận tâm, nàng không cần một người đàn ông để tận hưởng cuộc sống của mình. Một người đàn ông có thể sửa chữa đồ đạc trong nhà, nàng cũng thừa nhận rằng mình có thể là một thợ sửa mái nhà không thạo việc, nhưng là một tay thợ mộc không đến nỗi tồi. Một người đàn ông có thể đi tới bất cứ đâu anh ta muốn, và nàng vừa mới tự mình đánh xe tới nhà một người họ hàng. Rời khỏi nhà vào lúc sáng sớm rồi tới nơi an toàn vào giờ ăn trưa, nàng cúi đầu cảm ơn người đàn ông giúp mình cho ngựa ăn, đoạn thong thả chỉnh lại chiếc mũ lông chim trên đầu.

Không mấy khi nàng đội chiếc mũ này, chỉ trong những dịp cực kì đặc biệt như hôm nay, nàng mới mang theo mũ. Khác với những cô gái khác, nàng thích được tắm mình dưới ánh nắng. Thiên nhiên luôn khiến nàng thấy khoan khoái vô cùng, và nàng chẳng thể nào hiểu nổi những kẻ luôn nói rằng mình yêu nắng, nhưng cứ thấy mặt trời soi rọi trên đầu là lập tức lấy mũ ra đội. Đúng là vào giữa trưa, nắng rất hại và người ta có lí do để đội mũ, nhưng vào một buổi sáng mùa xuân, sẽ là một tội ác nếu cứ ru rú trong nhà để thêu thùa, may vá.

Đóng cửa tiệm may một ngày, cho phép gia nhân nghỉ ngơi, nàng một mình đánh xe tới đây. Suốt cả quãng đường, nàng đã nghĩ tới trong đầu một vài lí do nghe có vẻ chính đáng để né tránh việc phải tới thăm người chú từ lâu đã đánh mất khái niệm bước chân ra khỏi nhà của mình. Không cố ý tỏ ra khiếm nhã, nhưng nàng luôn cảm thấy buồn cho người chú của mình và đó mới là lí do khiến nàng không muốn gặp ông chứ chẳng phải là bởi một lẽ ghét thương gì. Tính ra, ông chú là người họ hàng mà nàng yêu quý hơn cả. Khác với những người khác, chú chẳng hề đưa ra một tiêu chuẩn nào rồi bắt ép cô cháu gái của mình phải thuận theo cả. Không một cái nhíu mày nào từ ông khi nàng cắt ngắn váy lên tới đầu gối để tiện cho việc chạy nhảy ngoài đồng cỏ. Không một cái lắc đầu nào từ người chú đáng kính khi Perrie cưỡi ngựa, trèo cây, chơi đánh trận giả với lũ trẻ con hay cãi nhau tay đôi với một tên đốn mạt định lừa tiền một người bán bánh ngọt. Không một lời trách móc nào khiến nàng tổn thương, chỉ vì nàng muốn được đi học lên cao thay vì kết hôn với một người giàu có. Chính ông cũng đã nói với nàng rằng, đàn ông không khác gì món tráng miệng được dọn ra sau khi người ta đã xong xuôi khai vị cùng món chính. Ai cũng yêu món tráng miệng, ai cũng mến mộ đàn ông, nhưng không nhất thiết phải ăn khi người ta đã no, và một người phụ nữ lại càng chẳng cần tới một trụ cột khi nàng đã làm chủ được cuộc đời mình.

Không cần phải kết hôn với một người giàu có khi mà bản thân cháu đã làm giàu được cho mình, ông chú đã nói với nàng như thế đấy. Nhưng ông chú của nàng rất nhạy cảm. Có lẽ, tuổi tác đã khiến ông trở nên như vậy. Ông nhìn thấu được tâm tư nàng và ngay khi nhận ra nàng tới tận đây chỉ vì thương hại, ông sẽ mời nàng ra khỏi nhà. Nàng cũng không có ý định che giấu sự thương cảm ấy, vì thú thực, một người đàn ông chết dí trên một chiếc xe lăn và sống cuộc đời cô độc trong toà lâu đài nguy nga tráng lệ luôn khơi gợi thẳm sâu bên trong nàng một nỗi xót xa khó đặt tên. Nhưng cuối cùng, với tất cả sự nỗ lực, nàng quyết định ngày hôm nay, mình sẽ không viện cớ để mà cáo lui sớm như mọi khi nữa.

Nàng mới nghe tin Kim qua đời, và nàng biết rằng người chú của mình không thể chống đỡ được trước tin dữ ấy.

.

Ngài quý tộc ngồi rụt cổ trên xe lăn, hai vai so lại khiến cho cái đầu như được đặt trực tiếp lên phần thân, hoặc cùng lắm là chỉ được nối với thân bởi một sợi dây mảnh tới mức không nhìn kĩ thì không trông thấy được. Miệng méo xệch khiến cho một nửa mặt như bị kéo xệ xuống. So với lần gần nhất mà người cháu gái tới chơi, ông gần sọp hẳn đi. Thân người to lớn vạm vỡ lúc này đây như đang bơi trong chiếc áo lụa thêu theo kiểu Trung Hoa. Ông ta ngồi một mình, quay lưng lại với cửa sổ, đờ đẫn nhìn lên bức tường treo đầy những bức tranh được lồng trong khung mạ vàng. Căn phòng được chiếu sáng bởi ánh nắng hắt vào từ bên ngoài. Ban ngày, không một ngọn đèn nào được thắp lến. Sáng nay, ông đã dặn dò gia nhân phải lau chùi cả toà lâu đài. Một cuộc tổng vệ sinh đã được tiến hành trong toà tháp của ông. Từ trên xuống dưới, tất cả đều phải thật sạch sẽ, tinh tươm. Không một hạt bụi nào được phép vương lại trong toà tháp, ông đã ra lệnh cho họ như vậy. Dĩ nhiên, cái thói cẩu thả của những kẻ cho rằng mình được trả tiền để tỏ ra tôn kính với một ông già lẩm cẩm đáng thương không cho phép họ làm được một việc gì nên hồn, thành ra ông tỏ ra khó chịu ra mặt khi nhìn thấy chiếc bình cổ không hề được lau chùi cho đàng hoàng. Nhưng ông không thể yêu cầu họ quá nhiều. Không phải bởi vì ông không muốn phàn nàn và làm hỏng một ngày của ai đó chỉ vì sự phiền phức của mình, mà là bởi vì một năm trở lại đây, việc mở miệng ra để trò chuyện đối với ông không khác mấy một cực hình.

Bên trong toà lâu đài, không khó để bắt gặp hình bóng đất nước ở phía bên kia bán cầu. Những bức tượng tráng men màu được đặt thật cẩn thận bên trong hộp kính, những bình sứ xanh bóng loáng, đĩa sứ vẽ hoa văn bắt chước theo phong cách sứ nhà Minh, bộ ấm tách trà gốm thanh hoa, đồ gỗ khảm, tranh sơn mài, ngà voi, ghế và tủ được trang trí với chim muông, hoa lá, tất cả đều được làm một cách hoàn toàn thủ công, cầu kì và tinh xảo. Gấm, vóc, lụa, áo banyan phỏng theo hoạ tiết in trên gấm Trung Hoa, bộ sưu tập váy Callot Soeurs được thêu tay được bảo quản thật cẩn thận. Toàn bộ không gian tầng một được trưng dụng để bày biện, trang trí với đèn lồng, đồ gỗ, gương đồng, lọng che, hình nhân, tượng sứ. Ngài quý tộc không thể ngừng lại. Ông không thể ngừng sưu tập chúng, vì Kim. Mà không, cũng có thể là vì ông. Có lẽ, ông làm mọi điều đều là vì chính mình.

Kim không sống ở đây. Chàng đã có thể sống ở đây, bên cạnh ông, nhưng chính ông đã không để điều ấy được phép xảy ra. Những ánh mắt soi mói, những lời xì xào bàn tán, ông không thể chịu đựng được tất thảy những điều ấy. Vinh dự, trách nhiệm, dũng khí, kỉ luật, ông đã được nuôi dạy để trở thành một nhà quý tộc thực thụ. Nhưng ông cũng được dạy rằng mình không được phép tôn sùng vật dục, phải biết gánh vác trách nhiệm, quý trọng danh dự và dám hi sinh vì đất nước. Ông không thể cứ như vậy mà chạy về phía Kim như cách mà Kim dám từ bỏ mọi thứ để lặn lội đi hết một vòng địa cầu vì người đàn ông chàng yêu, để rồi chỉ nhận lại sự xua đuổi. Ngài quý tộc nhớ những năm tháng ấy. Những năm tháng ông góp mặt trên chuyến tàu Viễn Đông, đi tới vùng đất xa xôi, quê nhà Kim, và tận mắt nhìn thấy một thế giới thật khác. Ở vùng đất ấy, nơi mà những phép tắc, những lễ nghi hà khắc hơn những gì ông có thể hình dung, có một người bước tới gần ông, cúi rạp người chào ông, và nói rằng ông có thể thoải mái khi lưu lại nơi này. Một người không hề giống với bất cứ ai mà ông từng được gặp gỡ. Rạng rỡ, tươi mới, duyên dáng. Kim khiến ngài quý tộc liên tưởng tới một chú sẻ nhỏ, và sự lanh lợi của chàng đã làm trái tim chàng trai trẻ khi ấy phải rung động.

Kim không phải một người Trung Hoa. Chàng là người Cao Câu Ly, một đất nước có diện tích khiêm tốn hơn, cũng nằm ở phương Đông. Sự dịu dàng, nho nhã của chàng pha trộn với khí phách quật cường của Kim đã khiến ông phải choáng ngợp. Ngay cả khi đem so sánh với những người sống xung quanh chàng, Kim vẫn vô cùng khác biệt. Ông chưa từng được chứng kiến một người đàn ông nào phương Đông nào cảm thấy bực dọc khi nghe một người đàn ông khác to tiếng với vợ mình và gọi bà ta là đồ thất học. Chưa từng. Luôn luôn độc đáo, luôn luôn bản lĩnh, Kim đã vì ông mà tới đây chỉ để được ngắm nhìn toà lâu đài mà ông lúc nào cũng nhắc tới với một sự tự hào. Kim mang tới đất nước xa xôi này những sản vật của quê hương chàng, và chàng không bao giờ quên mỉm cười ngay cả khi mệt mỏi tới độ đi lên cầu thang cũng cần người dìu dắt, trong khi ông thì tìm cách nói khéo với chàng để chàng rời đi ngay ngày hôm sau. Ông biết hậu quả. Ông nhìn thấy hậu quả của việc nói với mọi người rằng Kim là người mình yêu say đắm và cả việc ông tiễn Kim ra bến tàu sau khi bảo với chàng rằng họ không thể ở bên nhau.

Kim rời đi. Kể từ đó, họ không liên lạc. Vả lại, muốn thư từ cũng thật có. Kết thúc chiến tranh nha phiến, Trung Hoa bế quan toả cảng. Thương nhân không thể tới Trung Hoa, một nhà quý tộc như ông lại càng không có cớ gì mà đặt chân tới mảnh đất trù phú phía Đông ấy nữa. Thương nhớ chàng, ông bắt đầu sưu tập những món đồ Trung Hoa. Ngắm nhìn chúng, trái tim nhà quý tộc cũng vợi bớt thương đau. Thế nhưng, điều ấy vẫn chẳng thể thay đổi sự thật rằng Kim không sống trong toà lâu đài này. Nhìn những món đồ ấy, ông luôn liên tưởng tới chàng. Nhưng bằng một cách nào đó, Kim đã trở thành một nỗi ám ảnh. Ông không cần tới những áo lụa, những bình gốm để cảm thấy mình nhung nhớ chàng tới phát điên. Lao vào kiếm tìm, ông trang hoàng toà lâu đài của mình để không gian xung quanh mang đậm hơi thở của nơi mà Kim đã dành cả cuộc đời để yêu. Nhưng sự thật là Kim gần như biến mất khỏi cuộc đời ông, và khi ông hay tin thì đã ba tháng trôi qua kể từ khi Kim thực sự từ biệt cuộc đời, một lần, mãi mãi. Kim ra đi khi ông chưa kịp nói một lời từ biệt.

Ngài quý tộc cười khùng khục. Ông chưa từng sống cho chính mình lấy một lần trong đời. Sinh ra như một quý tộc, lớn lên như một quý tộc, điều ấy đồng nghĩa với việc ông phải cúi đầu xin lỗi tên đao phủ nếu mình vô tình giẫm vào chân hắn trong chính buổi hành quyết của mình. Có đôi khi, ông ngưỡng mộ cô cháu gái mình. Perrie luôn là Perrie. Cô bé không học múa mà nhất quyết đòi học cưỡi ngựa năm nào, lớn lên vẫn cương quyết không chịu lấy chồng, chỉ muốn đi học. Cháu gái ông chưa từng khiến ông phải thất vọng, trong khi ông lại khiến chính người mình yêu hơn cả phải rơi nước mắt vì mình.

Yếu ớt đặt tay lên bàn tay cô cháu gái đang đặt trên vai mình, ngài quý tộc khó nhọc mỉm cười. Cô bé không thể nhìn thấy, nhưng ông biết, cô có thể nghe thấy niềm vui trong giọng nói của mình.

“Đừng bao giờ thay đổi nhé, Perrie.”

Không cần ngoảnh lại, ông cũng đoán được cô bé đang nhấc vạt váy của mình lên mà săm soi. Hôm nay, vì được mời tới chơi nhà, Perrie đã mặc một bộ váy trắng dài chấm gót. Hẳn là lúc này, cô nhóc đang cảm thấy khó chịu lắm. Lại mỉm cười, ông cựa mình trên ghế. Tìm một tư thế thoải mái hơn, ông thều thào một cách khó nhọc, thoáng chốc cảm thấy mình già đi tới chục tuổi.

“Cháu luôn khiến ta nhớ tới cậu ấy. Xinh đẹp, kiên cường, có chính kiến, và đặc biệt. Cháu và Kim lúc nào cũng mạnh mẽ, cho nên cả hai mới là những nhà quý tộc thực thụ chứ không phải ta.”

Bỏ tay ra khỏi tay Perrie, ngài quý tộc đưa tay ôm lấy ngực trái. Cơn đau ập tới bất ngờ. Mỗi khi xúc động, ông lại thường như vậy. Trái tim này vẫn không thể chấp nhận nổi sự thật rằng Kim đã đi xa lắm rồi. Ông không bao giờ tưởng tượng nổi Kim sẽ ra đi trước mình. Chỉ đơn giản là không thể tưởng tượng nổi. Thấy ông oằn mình chịu đựng đau đớn, Perrie vội vàng ngồi thụp xuống bên cạnh xe lăn mà xoa xoa ngực cho ông. Ông thấy tai mình ù đi, chỉ nghe loáng thoáng tiếng cô cháu gái lớn tiếng gọi người tới giúp. Bật cười, vị quý tộc già giữ chặt lấy bàn tay Perrie. Trông thấy vẻ lo lắng của cô, ông nói khe khẽ. Khuôn miệng méo xệch đi khiến ông không thể nói cho tròn tiếng, nên Perrie phải ghé sát lại phía ông mà lắng nghe. Run run trỏ tay về phía chiếc váy Callot Soeurs treo trên giá để đồ ở góc phòng, ông lập cập nói từng chữ một.

“Kim luôn muốn mặc nó… Trong ngày cưới, của chàng… với ta…”

Nhà quý tộc lịm đi, đôi mắt lờ đờ nhắm chặt lại. Lúc này, gia nhân mới chạy tới. Sững sờ đứng bật dậy, Perrie loạng choạng bước lùi về phía sau. Thời đại này không phải đang tìm cách giết chết phụ nữ, hay đàn ông.

Thời đại này đang tìm cách giết tất cả chúng ta.

 

Posted in my johnny, night night (II), Triphenylmethane Project

[Oneshot | Triphenylmethane Project #E131 | #JohnDo] the wolf lives in the forest

B67A2319

Author: Trịnh Ánh

Requested by: Cà Chua

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Character(s): Beorhtheim (NCT Doyoung), Ansfrid (NCT Johnny), Paley & Laris (Doyoung’s grandparents), Aymer & Brigid (Doyoung’s parents), Sigurd (Doyoung’s brother) and some Norse Mythology’s characters

Categories: before-the-Ragnarok!au; mystery; anywhere but here

Rating: PG

Summary: “Chúng cho rằng, ngươi không đủ tỉnh táo. Ngươi chỉ cười khẩy, nói rằng chúng không đủ mộng mơ.”

 

 

 

 

the wolf lives in the forest

Viết cho em.

 

 

 

I know I hung on that windswept tree,

Swung therefor nine long nights,

Wounded by my own blade,

Bloodied/or Odin,

Myself an offering to myself:

Bound to the tree

That no man knows

Whither the roots of it run.

None gave me bread,

None gave me drink.

Down to the deepest depths I peered

Until I spied the Runes.

With a roaring cry I seized them up,

Then dizzy and fainting, I fell.

Well-being I won

And wisdom too.

I grew and took joy in my growth:

From a word to a word

I was led to a word,

From a deed to another deed.

—The Poetic Edda (ca.a.d. 1200)

.

 

Desiderata,

Go placidly amid the noise and haste, and remember where peace there may be in silence. As far as possible, without surrender, be good terms with all persons.

Speak your truth quietly and clearly; and listen to others, even the dull and ignorant, they too have their story.

Avoid loud and aggressive persons, they are vexations to the spirit. If you compare yourself with others, you may become vain and bitter; for always there will be greater and lesser persons than yourself.

Enjoy your achievements as well as your plan. Keep interested in your career, however humble; it is a real possession in the changing fortunes of time.

Exercise caution in your business affair; for the world is full of trickery. But let this not blind you to what virtue there is; many persons strive for high ideals; and everywhere life is full of heroism.

Be yourself.

Especially, do not feign affection.

Neither be critical about love; for in the face of all aridity and disenchantment it is as perennial as the grass. Take kindly the counsel of the years, gracefully surrendering the things of youth.

Nurture strength of spirit to shield you in sudden misfortune. But do not distress yourself with imaginings. Many fears are born of fatigue and loneliness. Beyond a wholesome discipline, be gentle with yourself.

You are child of the universe, no less than the trees and stars; you have a right to be here. And whether or not it is clear to you, no doubt the universe is unfolding as it should. Therefore be at peace with God, whatever you conceive Him to be, and whatever your labors and aspirations, in the noisy confusion of life keep peace in your soul.

With all its sham, drudgery and broken dreams, it is still a beautiful world.

Be careful. Strive to be happy.

– Max Erhmann, 1927.

.

The aurochs is proud and has great horns;

it is a very savage beast and fights with its horns;

a great ranger of the moors, it is a creature of mettle

 

Ur (drizzle) proceeds from brittle iron.

The reindeer often runs on icy snow.

Wealth is a comfort to all men

yet must every man bestow it freely,

if he wishes to gain honour in the sight of the Lord

fé (wealth) causes trouble among relatives;

the wolf lives in the forest.

.

Gửi tới con sói đơn độc của chín thế giới,

Hương quế, hương bưởi, hương quýt, hương bạc hà, hoắc hương Ấn Độ, hương da thuộc, hương vanilla, oải hương, hương hổ phách, hương thuốc lá quấn và hương gừng. Mùi hương của ông ngoại lúc nào cũng mạnh mẽ và tràn đầy khí phách. Hương bạch đậu khấu, đậu tonka, hương cam bergamot, oải hương và tuyết tùng. Hương thơm trên áo quần bà ngoại thật phức tạp, nhưng lại nhẹ nhàng và duyên dáng. Hương rượu whisky, hương mạch nha, hương gia vị, hương gỗ sồi. Mùi hương của bố thật độc đáo, thật lạ kì, nhưng cũng thật thân thương. Hương chanh, hương hoa cam, hoa hồng, hương lục bình, xô thơm, phong lữ, tuyết tùng, rồi hương đậu tonka, xạ hương và hổ phách. Trên người mẹ, thứ hương thơm được lưu lại không chỉ có sự mãnh liệt của ông ngoại mà còn có cả nét tinh tế của bà ngoại, cho nên hương thơm của mẹ vô cùng tươi mát mà vẫn thanh lịch, yêu kiều. Hương phong lữ, xô thơm, hương thảo và trầm hương. Mùi hương trên cơ thể anh trai thật đậm, thật rõ, cũng thật ngọt ngào. Ngươi cất tiếng khóc chào đời giữa biết bao hương thơm trái ngọt như thế, và chính những hương thơm tuyệt diệu ấy sẽ đi theo người cho đến cuối cuộc đời. Ngươi không biết, mà có thể là ngươi biết nhưng lại chẳng hề nói ra, nhưng mùi hương trên cơ thể ngươi cũng hết sức đặc biệt. Thật kì lạ. Ngươi mang trên mình hương thơm của một giò lan Nam Phi chính cống, thứ quà tặng mà người chú lúc nào cũng ham mê đi đây đi đó mang về Bắc Âu. Ngươi còn mang theo hương mận mirabelle, hương của rêu, của sồi.

Ngọt ngào, cổ điển, sang trọng, quý phái và tự do. Dù muốn hay không, cuộc đời ngươi vẫn cứ gắn liền với những cuộc phiêu lưu. Bởi vì điều ấy không do ngươi tự mình quyết định. Mọi thứ đều được ràng buộc bởi định mệnh, và ngươi phải hết sức trân quý món quà mà các vị thần dành cho mình. Mỗi người, ngay từ khi được sinh ra đã mang trên vai mình trọng trách được các vị thần giao phó. Ông bà ngươi, cha mẹ ngươi, anh trai ngươi, ai nấy đều đã nhận nhiệm vụ của mình từ lúc lọt lòng, chỉ là họ không biết rằng điều ấy ngay từ đầu đã được ấn định mà thôi. Hoặc là chấp nhận nó và nhận được sự bảo hộ của Đấng Tối Cao, hoặc là khước từ nó để rồi đón nhận cái chết tang thương dành cho những kẻ dám trái lại ý thần linh, điều này hẳn là ngươi đã tỏ tường rồi. Đây là một đặc ân. Ngươi sẽ ghi nhớ được thời khắc mà ngươi chào đời. Không nhiều người có được ân huệ này, nhưng ngay khi vừa mới lọt lòng và nhìn thấy thế giới, ngươi sẽ trông thấy cả cuộc đời mình trước mặt.

Có lẽ, ngươi không thích thú với điều ấy cho lắm. Trong suốt những năm tháng đầu đời, ngươi không lúc nào không kêu khóc. Ngươi khóc thương cho chính bản thân ngươi. Bằng đôi mắt trần tục, ngươi đã phải nhìn thấy quá nhiều tang tóc, tai ương. Quá nhiều thứ đang không ngớt quấy rầy sự tĩnh lặng thẳm sâu bên trong tâm hồn ngươi, chọc phá thứ bình yên hão huyền mà ngươi luôn mộng tưởng. Khác với những nhân loại khác, ngay từ khi mọi thứ được khởi động, ngươi sẽ hiểu được mình muốn gì và cần gì hơn cả. Bởi một lẽ ngươi nhìn thấy hết tất thảy mọi sự, ngươi sẽ tránh được hòn đá ngáng đường mình, cũng sẽ né được những tai hoạ sắp sửa ập xuống đầu. Ngươi hiểu rằng, rồi tới một lúc nào đó, loài người sẽ hiểu được vì sao ngươi chỉ cần đến bình yên. Tiếc cho ngươi. Sẽ không một giây phút nào ngươi có được sự yên ả của một mặt hồ không gợn sóng, và ngươi sẽ trách cứ thần linh vì lẽ gì lại đày đoạ ngươi như vậy, nhưng rồi ngươi sẽ sớm hiểu ra mọi sự mà thôi. Ngươi sáng dạ, các vị thần đã thấy được điều ấy ở ngươi.

Cháu trai của Paley và Laris, con trai của Aymer và Brigid, em trai của Sigurd. Ngươi được đặt tên là Beorhtheim. Người bảo vệ Ánh Sáng, chào mừng ngươi đã đến với Midgard. Tuy rằng, ngươi không thể một sớm một chiều nhận ra ý nghĩa của việc mình được sinh ra, cho rằng sự ra đời của mình là mầm mống của tất thảy mọi tai hoạ, rồi sự hiện hữu của mình là một lời nguyền và có đôi khi, ngươi tìm cách chống lại tạo hoá bằng cách tự kết liễu chính mình, nhưng rồi ngươi sẽ hiểu. Ngươi sẽ biết mình đến với Midgard để phục vụ cho điều thiêng liêng nào. Ngươi phải mạnh mẽ. Không còn sự lựa chọn nào khác dành cho ngươi cả. Không nhất thiết vào bất cứ thời điểm nào, ngươi cũng phải tràn đầy nhuệ khí. Ngươi được phép yếu đuối, thi thoảng thôi, và tới lúc cần phải kiên cường, ngươi sẽ nhận được tín hiệu của thần linh. Đó có thể là khi ngươi không còn ai nương tựa, hoặc chẳng còn gì để mất nước. Để phụng sự các vị thần, ngươi không thể nao núng, chần chừ. Nhưng trước khi đủ dạn dĩ để thực hiện sứ mệnh của mình, ngươi có quyền được khóc, và xem ra, ngươi đã tận dụng một cách tối đa quyền lợi của mình.

Ngươi đang sợ. Tới tận bây giờ, ngươi vẫn hoảng sợ khi phải tận mắt mình trông thấy quá nhiều điều. Mà đâu chỉ bị ép buộc phải mắt thấy tai nghe những gì khủng khiếp nhất, điên cuồng nhất, tàn khốc nhất và cũng đáng ghê tởm nhất của thứ cặn bã mang tên “loài người”, ngươi còn phải cảm nhận nỗi đau đớn xé nát cõi lòng của từng cá thể trong số chúng. Mới chỉ mấy tháng tuổi, nhưng ngươi đã tường tận nỗi tủi hờn của thập vạn chúng sinh. Ông bà, cha mẹ, anh trai ngươi vẫn còn đó, nhưng ngươi lại rõ hơn ai hết thảm cảnh mất cả gia đình. Ngươi thậm chí vẫn còn được ẵm ngửa, chưa biết nói, chưa biết đi, nhưng đã biết thế nào là nhân tình thế thái, thế nào là đói ăn, thế nào là chạy giặc, thế nào là tan cửa nát nhà, thế nào là thịt nát xương tan. Ngươi nhìn sâu vào đôi mắt phẫn uất của những kẻ nhìn thấy nhà mình bị thiêu rụi, ngươi cảm nhận cơn tức giận của một tay cùng đường mạt lộ đến mức chẳng còn đường lui, bị dồn ép tới nước phải quyên sinh. Ngươi hiểu thế nào là hư vô, và rồi mọi sự vui buồn đều chỉ như một màn sương, có có không không, nhưng cả chúng sinh lại cứ lao vào kiếm tìm chúng. Ngươi đã thấy, đã nghe, đã cảm, và ngươi sợ vì điều ấy thì âu cũng là lẽ thường tình mà thôi. Bởi vì, trong những đêm trường giá lạnh ấy, ngươi đã nhìn thấy chính mình đơn côi lê bước trên con đường mòn dẫn tới nơi chẳng-là-đâu-cả kia mà. Ngươi khóc váng lên, và trong cơn hoảng loạn ấy, ngươi lại càng trông thấy nhiều điều hơn thế nữa. Ngươi những mong có lấy một ai đó kéo ngươi ra khỏi những bi kịch ấy. Ngươi lí luận rằng, mình không đáng phải chịu đựng sự trừng phạt ấy. Ngươi bị bức tới mức suýt chút nữa thì phát điên vì những tiếng la thất thanh, những tiếng gào thét đinh tai nhức óc, những tiếng rền rĩ than khóc, những tràng cười man dại và những tiếng kêu cứu, cầu xin. Chúng ở ngay trong đầu ngươi. Tất cả âm thanh của Midgard đều vang vọng trong cái đầu bé nhỏ của ngươi, và chỉ cần chạm tay vào một ai đó, ngươi sẽ biết được người ta sẽ lìa đời như thế nào.

Khi mẹ ngươi ôm ngươi trong vòng tay, ngươi chứng kiến Brigid – ôi, Brigid đáng yêu – ngã xuống vì một mũi tên đi lạc. Aymer, cả Aymer quả cảm nữa, cha ngươi sẽ tử trận trong một cuộc chiến không cân sức với loài Bjorn, nhưng Aymer sẽ ra đi như một người lính vì bảo vệ đất nước mà không ngại ngần xả thân, và tiếng tù và của chàng sẽ lưu vào sử sách như một khúc tráng ca sẽ không bao giờ được lặp lại một lần thứ hai trong lịch sử Midgard. Cha mẹ ngươi đều được đưa tới Valhalla. Tại đây, họ sẽ được tận mắt mình chứng kiến ánh sáng rực rỡ của vùng Gladsheim, con dê Heidrun và hươu đực Eikthyrnir tha thẩn gặm lá cây Laerad. Bầu sữa của Heidrun chảy ra món rượu mật ong là thức uống dành cho các chiến binh tại Valhalla. Từ sừng hươu Eikthyrnir, những những giọt nước nhỏ xuống Hvergelmir, trở thành suối nguồn. Hàng ngày, họ sẽ được đánh thức bởi tiếng gáy của con gà trống Salgofinir. Aymer và Brigid sẽ được nhìn thấy cây Glasir với tán lá bằng vàng, con sói treo ở cửa tây và con đại bàng bay lượn trên thánh điện. Aymer và Brigid khi còn sống hẳn là không bao giờ hình dung nổi, Andhrimir lại là đầu bếp cho mình. Đầu bếp của các vị thần sẽ thiết đãi cha mẹ ngươi rượu mật ong từ con dê Heidrun, món thịt lợn rừng Saehrimnir làm trong chiếc vại Eldhrimnir. Cuối đời, Aymer và Brigid được an yên.

Paley và Laris, những xạ thủ xuất sắc nhất, những chiến binh với đôi chân gần như không chạm đất mỗi khi chạy băng băng trên trận địa, đã chiến đấu giáp lưng mà không hề run sợ trên vùng đất của các yêu tinh ánh sáng Áflheim, vùng đất của các yêu tinh bóng tối Svartálfaheimr, thế giới người lùn nơi Nidavellir và vùng đất của những người khổng lồ Jotunheim. Paley và Laris yêu dấu sẽ bị cột vào những hòn đá được mài nhẵn để chất lên máy bắn đá, để rồi bị hất văng về phía đồng loại mình. Sự trả đũa, các vị thần đã gọi sự kiện ấy như vậy. Người của các ngươi gửi các chiến binh anh dũng tới vùng đất thánh, cho nên sau khi thắng trận, những vị thần đã phụng mệnh Đấng Tối Cao mà gửi trả lại cho các ngươi đội quân thiện chiến của mình.

Ngươi đã cầu xin các Valkyrie để Paley và Laris được tới cung điện Folkvang. Những người chết khi đi xâm chiếm nước khác thì đến Valhalla của thần Odin, còn các chiến binh hi sinh khi bảo vệ đất nước và gia đình thì sẽ được đến Folkvang của nữ thần Freya, cho nên ngươi đồ rằng ông bà mình xứng đáng được đứng trong hàng ngũ các chiến binh được che chở bởi tình yêu thương và sự tôn trọng của các vị thần. Beorhtheim đáng thương ơi! Ông bà ngươi đâu phải là những chiến binh của Asgard? Nhưng các Valkyrie vẫn là phụ nữ, mà phụ nữ thì thật dễ mủi lòng. Theo ý nguyện của ngươi, Valkyrie sẽ đưa Paley và Laris tới Asgard để làm chiến binh cho các vị thần. Họ sẽ trở thành các Einherjar. Ông bà ngươi sẽ luyện tập chém giết lẫn nhau để lúc nào cũng sẵn sàng ra trận, nhưng đến cuối ngày đều sống lại và ăn uống vui vẻ trong vùng đất của thần Freya. Hãy vui lên, Beorthheim! Ông bà ngươi mỗi ngày đề được ăn thịt hai con dê của thần Thor, hai con dê này sau khi giết thịt, nếu không đụng tới xương và da thì ngày hôm sau hồi sinh. Họ cũng được uống rượu làm từ sữa con dê cái Heidrun, rồi được các Valkyrie rót rượu và ngồi cùng một bàn tiệc với thần Odin nữa kia. Ngươi nên thấy mừng vui mới phải. Paley và Laris sẽ được đi qua cây cầu vồng lửa Bifröst mà tới với Asgard quanh năm sung túc. Ngươi chớ có nên lo lắng nhiều mà xao nhãng nhiệm vụ. Ông bà ngươi sẽ được sống trong nhung lụa và được tôn xưng như những chiến binh thực thụ.

Còn Sigurd, anh trai ngươi nữa. Ai cũng yêu thương Sigurd. Trần đời, sao lại có một thường dân với đôi mắt sáng trong và thuần khiết tới như vậy! Sigurd, than ôi, Sigurd! Anh trai ngươi đã băng qua Gjallarbrú và gặp Mogud sớm hơn ngươi tưởng nhiều. Tới khi ngươi kịp nhận ra, thì Sigurd đã ra khỏi hang Gnipahellir phủ bởi máu được Garmr canh giữ mất rồi. Giờ này, chắc hẳn Sigurd đã đến trình diện trước sảnh Eljudnir để nhận phán quyết từ Hel. Chàng trai với mái tóc nâu mềm mại xoăn tít, người thợ mổ cá lành nghề nhất Midgard, lúc nào cũng hết sức dễ thương và đỗi đãi mọi người bằng sự hào hiệp, cuối cùng cũng phải rời khỏi nơi chôn rau cắt rốn mà tiến tới vùng đất của cái chết. Nhưng trái tim dũng cảm của Sigurd sẽ luôn được tưởng nhớ. Ngươi lại muốn cầu cạnh các vị thần để Sigurd được đưa tới một nơi sáng sủa hơn Helheimr, nhưng mọi sự đâu có dễ dàng tới như vậy. Sigurd không phải là một chiến binh, chàng chỉ là một người trần mắt thịt. Nhưng thiết nghĩ, chắc hẳn sự thành tâm của ngươi đã lay động ngay cả các vị thần, cho nên sau cùng, Sigurd anh trai ngươi đã được đưa tới Vanaheimr để phò tá các vị thần Vanir. Anh trai ngươi sẽ sống tiếp một cuộc đời bình yên nơi vùng đất của gió, không phải lo nghĩ một điều gì.

Ngươi chất vấn các vị thần, rằng nếu như đã biết từng đường đi nước bước trong cuộc đời mình, vậy thì còn sống để mà làm gì cho vất vả. Thật vậy, ngươi cũng có cái lí của ngươi. Cái lí của một kẻ còn quá trẻ để hiểu được nguyên tắc vận hành của cuộc sống. Ngươi đã nhìn thấy những gì chắc chắn sẽ xảy đến, cho nên ngươi sẽ phải sống cho tới ngày chúng diễn ra. Khó khăn, phải không? Ngươi đã dần dần giác ngộ điều ấy, cho nên ngươi không còn khóc lóc nữa. Đó là lí do mà ngươi được các vị thần lựa chọn. Ngươi hiểu chuyện, và ngươi không biết thế nào là đầu hàng. Không một gian khổ nào có thể đánh bại được ngươi, chừng nào ngươi vẫn còn mỉm cười mà bước vào điện thờ các vị thần, quỳ xuống để cảm tạ vì các Vanir đã cho gia đình ngươi một cuộc sống đủ đầy. Trước đây, ngươi mong mỏi có một ai đó hiểu thấu mình. Một ai đó, dẫu là ai đi chăng nữa thì cũng không quan trọng, miễn là có một người biết được nỗi nhức buốt khi đi lạc vào mê cung của cõi người trầm luân khổ ải, để mà thông cảm cho ngươi, để mà thương xót cho cuộc đời ngươi, cho những gì mà ngươi đã phải chịu đựng trong âm thầm và lặng lẽ. Nhưng rồi một ngày kia, ngươi như bừng tỉnh khỏi giấc mộng dài. Ngươi ngẩng đầu nhìn lên trời cao, và sững sờ khi nhận ra đêm đen không còn che phủ mặt đất cùng cỏ cây, hoa lá và muông thú nữa. Bóng tối cũng không còn ngự trị trong trái tim ngươi. Ngươi đã hiểu được một lẽ mà trên đời này, e rằng ngay cả những triết gia cũng phải mất cả đời để nghiên cứu, đó là mong ước người khác cũng phải chịu đựng nỗi khổ của mình thì thật hết sức quá quắt. Ngươi biết thế nào là khổ, nên ngươi mong người ta không còn phải đau như mình đã từng nữa. Ngươi thật đáng mến, Beorhtheim ạ. Con trai của Aymer, ngươi xứng đáng có được nhiều hơn những gì mà ngươi mơ ước.

Giống như những nhân loại khác dưới vòm trời Midgard, ngươi lớn nhanh như thổi. Chẳng mấy chốc, một cậu bé con đã trở thành một thiếu niên. Ngươi theo ông ngoại tập bắn cung. Ngươi theo bà ngoại, học cách tạo ra những bộ giáp vừa nhẹ, vừa bền. Ngươi theo cha lên rừng đốn củi, săn bắt. Ngươi theo mẹ ra đồng gieo trồng, gặt hái. Ngươi theo anh trai tới trường, đọc sách, học chữ nghĩa, học võ. Ngươi theo những người già cả trong làng, nghe họ kể chuyện thần thoại, nghe họ ngâm sử thi, và bên ánh lửa bập bùng của những ngày đông giá rét, ngươi nướng những con cá hồi tự mình bắt được trên than hồng, lắng tai nghe họ chơi đàn, nghe họ hát dân ca. Cuộc sống những tưởng không hề yên ả, vậy mà lại có những giây phút quá đỗi bình dị như thế đấy. Ngươi biết rõ, mình không được bình yên lâu hơn nữa, cho nên từng khoảnh khắc đều được ngươi hết sức trân trọng. Trong làng, không một thiếu niên nào ham học như ngươi. Có thể ngươi không thật sự tháo vát, không thật sự nhanh nhẹn, kể ra mà nói thì chẳng được lanh lợi gì cho cam. Ngươi thích ngồi một chỗ mà ngắm nhìn gió thổi mây bay, mà trăn trở vì những điều chưa tỏ, và ngươi yêu thích thơ ca, nhạc hoạ tới mức nhiều khi quên mất cả giờ ra đồng vì mải mê chép một đoạn nhạc đàn hay bình phẩm nốt một chương sử thi. Thế nhưng, một khi thấy cái mới, cái mình chưa từng được tiếp xúc, ngươi lao vào học với tất cả sự háo hức. Những tưởng, thời gian sẽ bào mòn sự hấp dẫn của tri thức đối với ngươi, nhưng dường như càng lúc ngươi càng hiếu học hơn xưa kia. Tuy rằng, ngươi ít khi nào muốn tay chân mình vướng bận, bởi lẽ chân tay mà chưa được giải phóng khỏi cái cuốc, cái xẻng thì đầu óc khó mà lượn lên cung trăng cho được, nó sẽ bị trói gô lại như con ngựa, bị nhốt lại như con bò, con dê, bị cột chặt dưới mặt đất, không thể bay bổng, mơ mộng. Ấy thế mà, chỉ cần là công việc được giao cho mình, dù có gian nan tới chừng nào, ngươi cũng cố gắng hết sức mà vượt qua.

Khác với những đứa trẻ đồng trang lứa, ngươi khi trầm lặng để nghĩ suy thì cạy răng không nói một lời. Ngươi không ham chạy nhảy, nô đùa, ngươi thích ngồi trong phòng đọc sách bên trong toà tháp cổ, chạm tay vào những phiến đá mát lạnh mang dấu ấn của một thời không bao giờ chìm vào quên lãng, lướt tay trên mặt bàn gỗ sồi được bào nhẵn nhụi, và thả hồn mình vào những trang sách ngả màu thời gian. Ngươi không ngại đọc, cũng không ngại xem ca kịch. Có vẻ, ca kịch chính là sợi dây duy nhất kết nối ngươi với những đứa trẻ khác. Sự hồ hởi của người mỗi khi vụ gặt kết thúc và cũng là thời điểm mà các sân khấu được dựng lên thật khiến cho người nghệ nông (cách gọi vắn tắt của một người nghệ sĩ nông dân, trong vụ gặt thì là nông dân, mùa màng bội thu thì lại trở về làm nghệ sĩ) phải xúc động. Ngươi nhiệt thành lắm, và ngươi cũng thơ ngây lắm. Ngươi chăm chú xem các vở diễn, cùng khóc cùng cười với nhân vật. Ngươi luôn là người đầu tiên ngồi ở hàng ghế khán giả, nhưng lại là người cuối cùng luyến tiếc cúi chào từng người nghệ nông rồi tha thẩn về nhà, đôi chân cứ như bị ai đó níu giữ, chẳng hề muốn rời đi. Những sầu bi, những hạnh phúc, những hỉ, nộ, ái, ố của từng diễn viên khiến ngươi tìm lại được xúc cảm của mình. Từ bấy lâu, ngươi luôn có cảm giác như mình đang sống cho một ai khác chứ chẳng phải mình. Nhìn thấy nhiều quá, nghe thấy nhiều quá, thành ra trong đầu đứa trẻ Beorhtheim khi ấy, mọi thứ thật hỗn độn. Có nhiều khi, ngươi nhận nhầm kí ức của người khác thành của mình. Chẳng thể phân biệt rạch ròi mọi nhẽ, điều ấy khiến trái tim ngươi rỉ máu, và sự bất lực lên đến tột cùng ấy đã được hoá giải khi ngươi tìm đến với kịch nghệ. Thật vậy, người nghệ nông hoá thân thành nhân vật, hay có khi là thật nhiều nhân vật khác nhau, hôm nay là tướng sĩ, ngày mai có thể là thủ lĩnh của một cát cứ địa phương, nhưng người nghệ nông chẳng thể trở thành binh lính hay người đứng đầu đạo quân khởi nghĩa được. Ngươi cũng vậy. Ngươi nhìn thấy và nghe thấy thật nhiều, cốt là để tâm hồn ngươi phong phú hơn, ngươi hiểu được nhiều điều mà người ta dễ có khi phải dành cả đời để hiểu, chứ không phải là đánh mất chính mình trong nỗi đau của kẻ khác.

Ngươi đã thực sự lớn khôn. Những năm tháng gắn bó với ngôi làng nhỏ, nơi mà người ta chỉ biết đến hát ca, nhảy múa và sống một cuộc đời thiện lương đã nuôi dưỡng tâm hồn ngươi, khiến ngươi trở nên dịu dàng. Ngươi chuyên tâm học hành, và mỗi lúc một cởi mở hơn. Ngươi chủ động bắt chuyện với mọi người xung quanh, không ngại ngần giúp đỡ hàng xóm láng giềng. Ngươi không chỉ biết chúi mũi vào việc học, ngươi làm được nhiều điều hơn thế nữa. Tới năm mười lăm tuổi, ngươi tìm hiểu về văn tự cổ, và đó là cách mà ngươi giao tiếp với các vị thần. Phép màu, quyền năng, sức mạnh, ngươi chiếm lĩnh tri thức, biến chúng trở thành của mình, và ngươi bóc tách được từng ý tứ trong những câu thơ cổ của người Viking khi xưa. Những kẻ khác thấy ngươi thật quái dị, và cũng nhiều khi, ngươi cũng cố tình tỏ ra mình không giống ai để thoả mãn cái tôi bé như gan thỏ của họ, nhưng ngươi biết rõ những gì mà mình đang làm. Ngươi tin vào thần thoại. Ngươi biết các vị thần tồn tại, bởi vì ngươi đã trông thấy mọi thời khắc huy hoàng nhất, bi tráng nhất của chín thế giới. Ngươi thao thao bất tuyệt hàng giờ liền về thế giới mà ngươi biết, chỉ để những kẻ mông muội và thiếu đức tin kia biết rằng chúng chẳng thể nào là cái rốn của vũ trụ được. Midgard chỉ là một phần của cây sinh mệnh.

Chúng cho rằng, ngươi không đủ tỉnh táo. Ngươi chỉ cười khẩy, nói rằng chúng không đủ mộng mơ. Ngươi kể cho chúng nghe rằng, cây tần bì Yggdrasil mọc ra từ xác của Ymir – sinh vật đầu tiên của vũ trụ, được tạo nên khi ngọn lửa của Múspellsheim làm tan chảy băng giá của Niflheim và dòng băng tan ấy chảy vào vực thẳm vô hạn Ginnunga-gap hòa vào sông băng Élivágar – và quá trình các vị thần xây dựng thế giới. Ngươi bảo chúng rằng, máu của Ymir tạo thành biển và hồ, sọ tạo thành vòm trời được bốn người lùn Nordri, Sudri, Austri và Vestri chống giữ ở bốn phương, óc trở thành mây, xương tạo thành núi, những con giòi trong cái xác chết tạo thành người lùn. Ngươi chỉ cho chúng hay, ba vị thần Odin, Vili và Ve đã tạo ra con người đầu tiên từ những cây gỗ trên bãi biển. Odin ban cho loài người cho linh hồn và trí thông minh, Vili ban cho cảm xúc, còn Ve thì ban cho giác quan và ngoại hình. Loài người sống ở vùng đất giữa đại nguyên mênh mông là Midgard, tức Trung Địa. Tộc Jotuns thường xuyên quấy phá nên các vị thần dựng những ngọn núi khổng lồ từ lông mày của Ymir để ngăn cách giống loài khổng lồ này với loài người. Thế nhưng, chúng chẳng hề mảy may đoái hoài. Chúng cho rằng, công việc mà ngươi đang làm là vô bổ, tốn thì giờ. May mắn thay, chính ngươi cũng đã lường trước được điều ấy. Như mọi khi, ngươi bình tĩnh nhìn nhân gian mà mỉm cười.

Ngươi yêu tri thức, nhưng ngươi còn yêu cuộc sống của mình nhiều hơn. Ngần ấy năm ròng rã lạc lối trong chính suy tưởng của mình đã là quá đủ, cho nên ngươi sẽ không sa đà vào việc học mà bỏ rơi tâm hồn mình.

Beorhtheim, kể cả khi ngươi không hề nhận ra, thì bản thân ngươi thực sự đã từng có lúc mơ ước về một gia đình bình thường, vợ chồng sống nương tựa vào nhau, cùng nhau làm lụng, cùng nhau vui vẻ nói cười, và đàn con thì lớn lên thật khoẻ mạnh, rắn rỏi. Ngươi chắc là chẳng nhớ nổi tất thảy những điều ấy đâu, vì kí ức của ngươi và những người mà ngươi chạm tay tới mỗi lúc một trộn lẫn. Càng về già, ngươi lại càng lú lẫn hơn. Nhưng dù có thế nào đi chăng nữa, các vị thần cũng đã nhìn thấu ước mơ giản dị kia, và để giúp đỡ ngươi, kẻ phàm trần duy nhất mà Đấng Tối Cao tin yêu, nữ thần Frigg đã cho ngươi gặp được người mà ngươi sẽ yêu thương và cũng yêu thương ngươi suốt cả cuộc đời mình. Ngươi đã xin với thần Frigg để nàng ban cho ngươi một người đàn ông, và Ansfrid xuất hiện trong cuộc đời của ngươi theo cách ấy. Ngươi có nhớ không? Câu nói mà ngươi đã nói? Hay là, câu nói mà ngươi sẽ nói nhỉ? Bởi vì ngươi chưa từng thực sự trải nghiệm nó, ngươi chỉ nhìn thấy tương lai của mình, thành ra mới ngộ nhận rằng mình đã cất giữ những kí ức như thế mà thôi. Khi ấy, lúc đứng trước mặt Ansfid, ngươi đã mỉm cười và nói một câu như thế này:

“Ta biết là nhất định chàng sẽ đợi được ta.”

Vậy đấy. Ngươi đã nói với Ansfrid như thế. Ansfrid ngày còn trẻ kể ra cũng thật lạ lùng. Gã chẳng nói chẳng rằng, cứ như vậy mà đi theo ngươi về nhà. Từ đó, các ngươi sống bên nhau. Nói là không sóng gió thì thật quá lời, nhưng bảo rằng không bình yên, không hạnh phúc thì còn vô lý hơn. Mỗi buổi sáng, Ansfrid sẽ đi câu cá từ sớm. Gã câu cá hồi trên sông băng, và ngươi thì quả quyết rằng thật khó tin khi một người đàn ông ít khi nào chịu ở yên một chỗ lại có một sự nhẫn nại tuyệt vời đến như vậy. Ansfrid đào một cái hố lớn trên mặt sông đóng băng, cần mẫn chọn mồi thật ngon, thật béo mà ngoắc vào lưỡi câu, sau đó thả xuống hố băng mà kiên nhẫn chờ đợi. Ansfrid có thể theo dõi luồng cá hết sức tài tình, thành ra gã chẳng bao giờ tay không về nhà cả. Sau khi bắt được cá, Ansfrid sẽ bắt tay vào chế biến chúng. Ngươi luôn thích mê mỗi khi thấy Ansfrid vào bếp, bởi lẽ gã chỉ làm những món khoái khẩu của ngươi mà thôi. Ngươi đặc biệt thích món Gravlax, còn gã thì nhìn ngươi ăn uống ngon miệng đã cảm thấy no bụng. Những miếng cá hồi hẵng còn tươi nguyên được thái lát mỏng tang theo đúng thớ thịt, tưởng chừng như chỉ cần bỏ một miếng vào trong miệng là lập tức cảm nhận được vị ngọt của cá đang tan ra nơi đầu lưỡi. Gia giảm chút muối, chút đường, mù tạt ngọt và khoai tây nghiền, và ngươi đã ăn ngon lành mà chẳng phàn nàn lấy nửa câu, dù rằng ngươi vô cùng sốt ruột khi phải ngồi đợi Ansfrid rời khỏi bờ sông để quay về nhà.

Ngươi và Ansfrid chắc chắn sẽ có lúc cãi vã. Hai ngươi đôi khi sẽ khắc khẩu vì những chuyện trời ơi đất hỡi, nhưng rồi cuối cùng cũng lại làm hoà. Ngươi không giận được ai lâu, còn Ansfrid thì thương ngươi tới mức chỉ cần thấy ngươi đau lòng, trái tim gã cũng lập tức rỉ máu. Gã thức giấc thật sớm để nấu nướng cho ngươi. Đến cả động tác dùng lưỡi dao mà gạt miếng bơ vào chảo, gã cũng thực hiện bằng rất nhiều tình yêu thương. Sau khi ngươi thức giấc và ra ngoài vườn để chăm chút mấy khóm hồng, hoặc cho hai chú mèo một bữa ra trò, gã sẽ tiến vào phòng ngươi. Vì sở thích của ngươi, gã làm cho ngươi một chiếc nệm lót đầy cỏ mới cắt, để ngươi được ru vào giấc nồng trong hương thơm của cỏ cây, hoa lá. Mỗi ngày, Ansfrid đều phải thay cỏ trong nệm một lần. Gã si mê hương thơm trên cơ thể ngươi, và một lần nữa, lại là vì ngươi, gã yêu cả mùi ngai ngái của cỏ tươi phảng phất trên áo quần ngươi. Gã cho rằng, ngươi thật thuần khiết. Trong mắt gã, ngươi xinh đẹp như một vị thần. Làm gì có kẻ phàm trần nào sánh được với vẻ kiêu sa cùng trí tuệ ưu việt của ngươi, gã đã nói như thế đấy. Dù rằng, gã biết như vậy là phạm thánh, nhưng Ansfrid vẫn chẳng thể nào thôi trầm trồ mỗi bận thấy người cười rộ lên hài lòng vì món bánh nướng ăn cùng kem tươi mà ngươi đã dậy thật sớm để chuẩn bị, hay món thịt viên mà ngươi lần nào cũng tấm tắc khen ngợi. Gã yêu người một cách chân thành, không vụ lợi, vì gã được các vị thần cử tới để bảo vệ ngươi. Cũng giống như ngươi, gã cũng phụng sự cho các vị thần.

Tráng miệng bằng bánh ngọt và quả mọng, ngươi tạm biệt Ansfrid rồi lên tàu. Ngươi còn công việc trên thành phố, và Ansfrid thì cũng chẳng khi nào được rảnh rang. Trong lúc gã lo việc nhà, ngươi đứng trong giảng đường, ngẩng cao đầu hơn bất cứ ai. Ngươi làm công việc mà mình thích nhất trên đời. Ngươi nói về những vị thần. Ngươi yêu những kí tự Rune cổ xưa tới độ đặt tên hai chú mèo nhà mình là Fehu và Uruz để chúng luôn được sống trong no đủ và khoẻ mạnh. Ngươi yêu từng lời mình nói ra.

Ngươi kể cho những kẻ u mê ấy nghe về Ragnarök và giao kèo không minh bạch giữa nữ thần Frigg và Hel. Ngươi kể cho chúng nghe chính xác những gì mà người đã (hay nói đúng hơn, là sẽ) nhìn thấy một khi ngươi và Ansfrid chuyển tới sống trong lâu đài Fensalir của Frigg, nơi dành riêng cho các cặp vợ chồng yêu thương nhau, sinh sống sau khi chết. Mặc nhiên, người không quan tâm thì bỏ ngoài tai mọi người ngươi nói, còn những kẻ thực lòng yêu thần thoại thì tìm mọi cách để phản pháo ngươi. Nhưng ngươi nào có màng tới những điều ấy. Ước muốn thuở ấu thơ, có một người lắng nghe mình lại trào dâng trong trái tim non trẻ của ngươi. Ngươi những mong sẽ có người biết được sự thật, biết được những gì chắc chắn sẽ xảy đến, để bảo vệ Midgard, nơi sinh sống của những người mà ngươi yêu thương. Đây chính là nhiệm vụ mà ngươi phải dành cả đời mình để theo đuổi. Ngươi phải ngăn chặn Frigg và Hel, trước khi họ khơi mào một cuộc khiến kinh hoàng khiến cho thế giới mà ngươi biết sụp đổ.

Một hôm Balder – con trai cả của nữ thần Frigg – nằm mơ thấy mình sẽ chết. Chàng lập tức đến nói với mẹ mình. Frigg lo lắng vô cùng, bèn gọi vạn vật tới và bắt chúng phải thề rằng không được làm hại Balder. Nhưng cây tầm gửi còn quá nhỏ, cho nên Frigg không bắt nó phải thề. Tên khổng lồ Loki rất ghét Balder, cho nên hắn liền biến thành một người phụ nữ và lừa Frigg tiết lộ rằng Balder có thể bị hại bởi cây tầm gửi. Loki lập tức làm một mũi tên bằng cây tầm gửi và lừa vị thần mù Höðr – một người con trai khác của Frigg – bắn vào anh mình. Frigg cùng Odin cố gắng hồi sinh Balder bằng cách phái thần Hermódr xuống địa ngục để thương lượng với Hel, nhưng Loki một lần nữa bày kế để hại họ. Khi Hel, con gái của Loki, bảo rằng nếu vạn vật trên thế gian đều khóc thì Balder mới được hồi sinh, Loki đã biến thành một cô gái khổng lồ tên Thokk ngồi trong hang đá và không khóc. Vì thế Balder không được sống lại. Đây chính là một trong ba sự kiện chính dẫn tới Ragnarök. Khi Skoll và Hati, hai con sói vốn là con của Fenrir và phù thủy sói trong rừng Jarnvid, đuổi kịp và giết chết mặt trời mặt trăng, thế giới không còn ánh sáng dần chìm trong đêm tối triền miên và bão tuyết. Fimbulvetr, hay mùa đông liên tiếp bắt đầu. Trong mùa đông đầu tiên, hàng loạt thảm họa thiên nhiên như động đất, núi lửa phun, sóng thần sẽ diễn ra. Con gà trống Fjalar ở trong rừng Galgvigr xứ Jotunheim sẽ cất tiếng gáy, và tên khổng lồ Eggther sẽ gảy thụ cầm cất lời ca về sự kết thúc của thế giới. Trong mùa đông thứ hai, những cuộc chiến lớn của loài người sẽ diễn ra và một con gà trống vô danh với bộ lông đỏ máu sẽ cất tiếng gáy ở Helheim, báo hiệu cho người chết về sự bắt đầu của Ragnarök. Trong mùa đông thứ ba, một trăm ngày trước khi Ragnarök xảy ra, con gà trống Gullinkambi với bộ lông vàng như ánh mặt trời, sẽ cất tiếng gáy trên nóc cung điện Valhalla để báo hiệu cho các vị thần. Khoảnh khắc mà Yggdrasil quằn quại trong ngọn lửa thì cũng đồng nghĩa với việc hồi kết của thế giới đã tới. Sau chín ngày kể từ khi Ragnarök kết thúc, mặt đất lại nổi lên, đã được thanh lọc và trở nên xanh tươi như thời viễn cổ. Có một người đàn ông và phụ nữ được gọi là Lif và Lifthrasir, đã trốn trong Hoddmimis Holt của Mimir, được nuôi dưỡng nhờ hơi sương mát lành và sống sót qua ngày tận thế. Những linh hồn của người công chính từ lâu đài Gimli sẽ trở lại mặt đất, cùng với hai người họ gây dựng lại toàn bộ loài người. Thần Balder và người vợ Nanna rời khỏi Helheim, tập hợp lại những vị thần còn sống và trở về Idavoll, nơi là trung tâm của Asgard khi xưa. Magni và Modi nhặt được cây búa của cha. Các vị thần sẽ đến lâu đài Gimli trên tầng trời Vidblainn, để dần dần xây dựng lại thế giới mới, nơi không còn chiến tranh hay thiếu thốn. Như vậy, Ragnarök không chỉ là một ngày tận thế mà đó còn là một sự khởi đầu của một trật tự thế giới mới, đẹp đẽ hơn và hoàn thiện hơn.

Nhưng Ragnarök là một cuộc chiến, và một cuộc chiến luôn để lại hậu quả tàn khốc. Bất kể là chính nghĩa hay không chính nghĩa, nó cũng đã đặt dấu chấm hết cho cuộc sống của hàng triệu triệu người, trong số đó có Ansfrid, và ngươi thì không muốn điều ấy xảy ra. Ngươi tìm đủ mọi cách để thuyết phục mọi người tin ngươi, nhưng làm gì có ai tin ngươi kia chứ? Hel, người phụ nữ với đôi mắt giống như người chết, nửa thân dưới thì lở loét ghê rợn đến nỗi ngay cả những vị thần cũng không dám nhìn, còn người bình thường vô phúc nhìn thấy ả thì ngay lập tức máu đông lại và chết ngay lập tức. Ai mà dám tin rằng ngươi đã thực sự nhìn thấy Hel trong cung điện Fensalir mà vẫn an toàn trở về kia chứ? Trước khi Ragnarök nổ ra, người trần sẽ bước vào thời đại suy tàn. Chiến tranh xảy ra liên miên, đạo đức con người trở nên đồi bại, nhân luân không còn và lúc ấy thế giới người chết của Hel bỗng trở nên đông đúc lạ thường, “Quyển sổ thiên mệnh” với số trang dày chưa từng có tiếp nhận liên tục các linh hồn tội lỗi nơi trần thế. Lúc ấy, Hel, nữ hoàng của địa phủ, ngồi sau tấm màn của mình – vốn chỉ được mở ra để Hel gặp và phán xử các oan hồn người chết – đang cất tiếng cười man rợ đến ghê người. Ả cười cho sự phồn vinh của vương quốc mà ả cai trị cũng như để mở đầu cho một cuộc chiến khủng khiếp sắp sửa xảy ra, cuộc chiến Ragnarök. Thế nhưng, Frigg, vị thần duy nhất được Odin cho phép ngồi trên ngai vàng Hlidskjalf, vị thần có thể nhìn thấy mọi việc xảy ra trên thế gian lại hẹn Hel tới cung điện tưởng như chỉ có hạnh phúc cùng sinh sôi nảy nở kia để giao kèo với ả. Ngươi nổi giận. Thần Frigg là vị thần duy nhất nhìn thấy được tương lai, còn ngươi, ngươi cũng là nhân loại duy nhất được trao cho quyền năng tiên đoán mọi sự. Ngươi thấy mình có quyền tức tối khi biết được chuyện Frigg trông thấy viễn cảnh cây Yggdrasil bị thiêu rụi bởi ngọn lửa hung tàn, nhưng vẫn yêu cầu Hel tha cho con trai mình và giao cho ả một phần ba cơ ngơi của Asgard. Được nước lấn tới, Hel chắc chắn sẽ chiếm lấy vùng đất của các vị thần và từ đó thâu tóm cả chín thế giới, nhấn chìm tất cả trong đêm đen địa ngục.

Không phải là ngươi không hiểu tâm tư của một người làm mẹ. Như bao người mẹ khác, Frigg thương con trai hơn tất thảy mọi thứ. Nhưng nếu như tình thương ấy kéo theo sự trả giá của biết bao nhiêu sinh linh khi họ buộc phải góp mặt trong một trận chiến kinh hoàng trên phạm vi chín thế giới, thì tình thương ấy liệu có được chấp nhận hay là không đây? Ngươi thương Frigg, nhưng nếu như Frigg chỉ biết nghĩ tới bản thân mình, thì ngươi cũng cho rằng mình có tư cách để ích kỉ. Ngươi không nghĩ tới bất cứ một điều gì, ngoại trừ Ansfrid. Rùng mình, ngươi nhận ra nếu như trận chiến xảy đến, ngươi sẽ phải khoanh tay đứng nhìn Ansfrid ngã xuống. Mà đâu chỉ có một mình Ansfrid, mà ông bà ngươi, cha mẹ ngươi, anh trai ngươi, tất cả đều phải bỏ mạng. Họ đều được tới Asgard sau khi vương quốc được xây dựng lại, nhưng điều ấy thì có nghĩa lí gì khi phải kinh qua ngần ấy đau đớn, và rồi nhìn thấy thế giới của mình hoá thành tàn tro?

Ngươi như một con sói đơn độc. Chạy một mình trong rừng giữa đêm tối, ngươi đuổi theo Skoll và Hati, cắn chết chúng để chúng không thể giết mặt trời cùngg mặt trăng. Để trừng phạt ngươi, các vị thần đã cướp đi Ansfrid cùng Fehu và Uruz của ngươi. Đau khổ, phẫn uất, ngươi tìm đến tận cửa cung điện Valhalla mà kêu gào, nhưng không một ai đáp lời thỉnh cầu của ngươi. Tức mình, ngươi tìm tới Hel. Ngươi muốn thương lượng. Ngươi sẽ dẫn đường cho ả tới Asgard. Frigg đã chơi khăm ngươi, nên ngươi quyết không để yên. Ansfrid của ngươi, mối tình của ngươi, hạnh phúc của ngươi. Nỗi căm hận ấy, thực không bút nào tả xiết.

Thần Heimdall thổi chiếc tù và Gjalarhorn. Âm thanh của chiếc tù và thần thánh lớn đến mức mọi nơi trong chín thế giới đều nghe thấy. Thần Odin dẫn dầu các vị thần với đội quân Einherjar của Valhalla tiến thẳng đến cao nguyên Vigrid nằm giữa Asgard và Jotunheim. Freya lật ngược cung điện của nàng là Sessrumnir – vốn là một con tàu khổng lồ – sẽ chở các đạo quân, băng qua đại dương, tiến thẳng về phía đông. Toàn thể loài Elves, người lùn và cả con người cũng tham gia chiến đấu. Loki sẽ thoát ra khỏi sự trừng phạt, tạo ra một liên minh với tộc người khổng lồ. Surt, vua của Muspelheim và Hel chế tạo ra con thuyền Naglfar từ móng tay và móng chân người chết nhằm chở hết đội quân của chúng. Loki và Hrym thay phiên nhau lái con tàu đến miền chiến địa Vigrid, nơi mà thần Freya đã chờ sẵn. Surt và những tên khổng lồ lửa sẽ phá hủy cây cầu Bifröst nhằm ngăn cản bước chân các vị thần.

Freya là vị thần đầu tiên ngã xuống trên chiến trường. Surt với thanh gươm Laevateinn “sáng hơn ánh mặt trời” tiến đến tử chiến cùng vị thần. Cả Surt và Frey đều chết, lửa từ thanh kiếm bị gãy phun ra đốt cháy cây Yggdrasil. Con sói Fenrir được giải thoát khỏi Gleipnir. Nó sẽ nuốt các vì sao vào bụng và lửa phun ra từ mắt, mũi, miệng của nó. Odin, cưỡi trên lưng con chiến mã Sleipnir, mình mặc bộ giáp vàng chói, tay vung ngọn giáo Gungnir xông thẳng vào giữa chiến trường, giết vô số kẻ thù. Tuy nhiên, ngài sẽ thất bại trước Fenrir và bị nó nuốt chửng. Vidar, con trai của Odin, sử dụng một đôi giày đặc biệt do chính mẹ chàng khâu, đứng giữa hai hàm của con sói rồi xé toạc họng của nó, trả thù cho cha. Con sói với bộ ngực vấy máu người Garm, xông thẳng vào thần Tyr và giết chết Ngài dù chính nó cũng mất mạng. Thần Thor quyết chiến đến cùng với mãng xà Jormungand và giết chết nó. Tuy thế, Ngài đã thấm quá nhiều hơi độc của nó nên chỉ đi được chín bước rồi chết. Thần Heimdall vũ trang bằng thanh gươm Hofund, lao vào giao đấu với Loki và cả hai đều vong mạng bởi lưỡi kiếm của đối phương. Các vì sao rơi rụng lả tả, mặt đất chìm xuống đáy đại dương.

Yggdrasil quằn quại trong ngọn lửa. Hồi kết của thế giới đã đến, và ngươi biết điều ấy. Ngươi biết điều ấy ngay từ khi vừa mới sinh ra. Khi ngươi nằm trong vòng tay mẹ cha, khi ngươi tập bắn cung với ông bà ngoại của ngươi, khi người đọc sách cùng anh trai bên trong toà tháp cổ, và khi ngươi ôm lấy Ansfrid vào lòng, ngươi đã nhìn thấy lửa giận của chính mình huỷ diệt mọi sự sống trên Yggdrasil. Ngươi trông thấy kết thúc của người mình yêu, nhưng ngươi vẫn không thể thay đổi được điều ấy. Một con sói đơn độc chẳng thể làm được điều gì. Một con sói đơn độc nhuộm bộ lông của mình bằng máu của chín thế giới. Nhưng ngày hôm nay, ngươi vẫn sống. Ngươi vẫn nhìn về phía trước, bằng cặp mắt xuyên đại tường minh tất thảy.

Be careful. Strive to be happy.

Ngươi phải cẩn thận với chính mình, nhưng ngày hôm nay, ngươi phải hạnh phúc. Kể cả khi sự hung tàn của một kẻ đã mất đi người mình yêu nhất có biến ngươi trở thành một mồi lửa, ngươi cần phải dám sống. Ngươi đang yêu hết mình. Sau này, kể cả khi không nhớ được một cái tên, và những kí ức chỉ còn là một mớ hỗn độn, ngươi vẫn sẽ nhớ rằng mình đã từng yêu Ansfrid tới mức quét sạch chín thế giới. Ngươi vẫn sẽ nhớ rằng, mình đã nhắc Ansfrid hãy ngăn mình lại. Ngươi vẫn sẽ nhớ rằng, Ansfrid đã không làm như theo lời ngươi nói. Ngày hôm nay, ngươi phải ngủ thật ngon, vì có thể ngay ngày mai, ngươi đã lao tới cửa Helheimr mất rồi, và những ngày tháng sau ngày mai, giấc ngủ sẽ trở nên xa xỉ.

Cảm ơn ngươi vì đã chịu đựng. Sẽ thật tốt nếu như ngươi hoàn toàn lạc lối, nhưng bởi vì ngươi đã biết hết mọi điều, nên dẫu cho dù xung quanh chẳng có lấy một điều gì tốt đẹp, vẫn mong rằng ngươi hãy yêu thương bản thân.

Ngươi, tốt hơn hết cũng hãy yêu lấy mình hơn một chút.

Con sói đơn độc của Midgard,

Beorhtheim.

 

Posted in my johnny, night night (II), Triphenylmethane Project

[Oneshot | Triphenylmethane Project #E131 | #JohnDo] murder inc (Chicago, 1925)

D059_lOV4AAc12R

Author: Trịnh Ánh

Requested by: Đông An

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Categories: mafia!au, angst, character’s death

Rating: NC-17

Summary: 

“Chàng há miệng để gã đút vào từng thìa súp loãng. Chàng nằm yên để gã dùng khăn bông thấm nước ấm mà lau rửa cho mình. Chàng cam chịu để gã xích vào giường. Để cai thuốc, tất nhiên. Mọi thứ đều mới mẻ, với cả Charlie và gã. Gã nhận ra mình thích chăm sóc cho Charlie. Không giống với việc nuôi một con chó, hơi khó tin một chút, nhưng gã thực sự từng nuôi một con chó và tên nó là Flower. Không hề giống. Việc chăm sóc cho Charlie thật sự rất khác.

Chàng rất… con người.”

 

 

 

 

murder inc (Chicago, 1925)

Viết cho Đông An.

 

 

 

 

Mặt đường loang loáng như được bôi mỡ. Sau cơn mưa, những vũng nước đọng lại trên vỉa hè khiến mặt đường trở nên trơn trượt. Đóng sập cánh cửa xe lại phía sau, gã đàn ông loạng choạng suýt chút nữa thì bước hụt chân. Quờ quạng hai cánh tay trong không trung, chỉ mất một vài giây để gã đứng vững trên vỉa hè, vậy mà trong tích tắc đồng hồ ấy, mồ hôi sau lưng gã đã vã ra đầm đìa như tắm, thấm ướt cả lớp áo may ô trong cùng. Kể ra, để mà túa được mồ hôi gáy trong tiết trời lạnh căm căm như thế này thì cũng thật tài tình, nhưng điều gì lại không thể xảy ra ở đây kia chứ? Đây là Chicago cơ mà. Tại thành phố này, không gì là không thể xảy ra.

Đổ mồ hôi giữa ngày đông tháng giá cũng chẳng có gì là lạ. Nếu như suốt ba trăm sáu lăm ngày, ngày nào cũng là ngày đổ máu, thì cư dân sống trong thành phố bờ Tây nước Mỹ này chắc hẳn sẽ sớm quen với việc một người đàn ông mặc áo măng tô đen tròng bên ngoài chiếc ghi lê tiệp màu cùng sơ mi được ủi phẳng phiu, áo vest được cài cúc cẩn thận và cà vạt hàng hiệu, đầu đội mũ phớt mềm, tay cầm ca táp, chân đi đôi giày da bóng lộn, bước đi xiêu vẹo chân nam đá chân chiêu trên vỉa hè. Thực ra, gã còn đem theo một chiếc khăn dạ và đôi găng tay da, nhưng có lẽ là đã nhớ nhớ quên quên mà bỏ lại trên xe mất rồi. Dáng vẻ của một người say đặc sệt trên tấm lưng to như tấm phản của gã đàn ông và cái đầu lúc lắc của gã. Mái tóc được chải bóng mượt bên dưới chiếc mũ cũng chẳng khiến gã trông khá khẩm hơn một thằng nát rượu là bao. Một thành phố lúc nào cũng say mèm chẳng dễ bị một tên bợm rượu làm cho bất ngờ.

Và một khẩu súng. Một khẩu súng lục ổ xoay ngay bên hông. Không được phép bỏ qua khẩu súng, bởi vì nếu như ai đó vô tình bỏ qua nó, có thể nó sẽ cảm thấy buồn và chủ nhân của nó sẽ giúp nó giải quyết nỗi buồn bằng cách vuốt ve thứ hình trụ xinh đẹp trơn nhẵn và thơm mùi kim loại của mình rồi xả đạn vào mặt ai đó. Nói một cách hình ảnh thôi. Chẳng ai có vấn đề gì đối với một người đàn ông mang theo một khẩu súng để tự vệ khi đi đi lại lại trong một thành phố mà người ta có thể bị bắn chết bất đắc kì tử bất cứ lúc nào. Tuyệt vời! Một đất nước tự do kéo theo một thành phố phóng khoáng và một đám người nhung nhúc như dòi bọ đang ra sức gặm nhấm thức ăn đến mức béo mầm lên, rơi lộp độp xuống đất, quằn quại trong cơn đê mê rồi chết trong hạnh phúc hệt một lũ phê thuốc. Khoan đã, liệu chúng có phê thuốc không nhỉ? Mà thôi, điều đó kể ra cũng chẳng quan trọng đến thế.

Ở đây, chẳng có gì là quan trọng cả. Gái gú, rượu chè, thuốc, súng, đàn ông, đàn bà. Không có gì mới mẻ. Ngày nào mà mặt trời chẳng mọc ở đằng Đông? Chừng nào cái thành phố chết tiệt này vẫn còn xuất hiện nhan nhản những kẻ ăn vận lịch lãm quá mức để đậy đượm cho kín thứ mùi gây gây của xác thối toả ra từ nhân cách bị sâu mọt ăn vãn của mình cùng vài tên tâm thần cầm súng chạy nhông nhông ngoài đường thì chừng đó chúng ta không có gì để mà phải bận tâm. Có lẽ, chỗ thịt thối chỉ tổ vỗ béo lũ kền kền mà thôi, nhưng người dân Chicago thì tuyệt nhiên chẳng phải kền kền. À ừ thì tất nhiên là ai cũng muốn sống ở một nơi mà mình có thể ngủ thẳng cẳng trên giường tới tận sáng mà không phải lo lắng sẽ có một tên sừng sỏ nào đó đạp tung cánh cửa mới được thay bản lề nhà mình và gào lên đòi nộp tiền bảo kê, nhưng thi thoảng nhìn xuống đường thấy một lũ đần chửi bới nhau kể ra cũng vui mắt đáo để. Người ta chỉ nói một cách châm biếm thành phố này mà thôi. Hoặc nhạo báng cuộc đời cơ cực nhưng vô cùng hạnh phúc (nhờ có rượu, rất nhiều rượu) cho nên vô tình lại hạnh phúc một cách rất chi là cơ cực của mình.

Được rồi, quay lại với gã đàn ông kia. Vậy là gã đang đi trên đường, sau khi rời khỏi một chiếc xe. Gã nhớ rằng gã đã vẫy một chiếc tắc xi ở ngay chỗ ngã tư sau khi chật vật mãi mới có một chiếc xe dừng lại giữa đêm hôm thế này. Gã đã trả tiền, hay nói đúng hơn là dúi tiền vào tay người đàn ông tội nghiệp kia để ông ta đồng ý đưa gã tới tận đây. Tiếp theo, gã xuống xe. Phải, phải lắm. Gã không thể nhớ nhầm được. Nếu như gã không nói chính xác địa chỉ thì có lẽ khuôn mặt người tài xế tắc xi đã chẳng tái xanh tái xám như vậy, cho nên gã đoan chắc mình đã bật ra khỏi miệng – một cách tương đối khó khăn vì lưỡi gã đang sưng lên, thành ra miệng gã cứ đầy đầy như đang ngậm một cục thịt trong miệng và gã cho rằng Charlie sẽ không lấy làm vui lòng khi gã dùng chiếc lưỡi này mà quét một vòng ngay phần thân dưới nóng bỏng, mà thôi bỏ qua đi – tên con phố mà mình muốn tới. Gã được đưa tới đúng địa chỉ mà mình yêu cầu, gã xuống xe, nhận ra mình đã đưa tiền rồi cho nên không cần phải dây dưa với người tài xế đang hoảng loạn tìm cách phóng thật nhanh ra khỏi nơi mà ông ta không bao giờ muốn đặt chân tới (hay lăn bánh xe tới, nói một cách hình ảnh thôi), rồi gã bắt đầu đi bộ.

Đêm đã về khuya, nhưng đường vẫn rất đông người qua lại. Tưởng như bây giờ thành phố mới vừa thức giấc. Các cửa hiệu, các hàng quán tấp nập người ra ra vào vào. Nhếch mép cười nhìn ngọn đèn đường, gã bật cười ngô nghê như kẻ điên. Hôm nay, gã sẽ được ngủ trên chiếc giường của mình và điều ấy khiến gã đến là thích chí.

Hôm nay, gã cho xe dừng lại ở ngay đầu đường. Điều này đồng nghĩa với việc gã sẽ phải đi bộ một đoạn khá là xa. Cũng tầm khoảng ba hay bốn khối nhà thôi, nhưng là xa đối với gã. Không hiểu vì sao, hôm nay gã thấy mình cứ như người trên mây trên gió, đến bước đi còn không vững. Gã mệt nhoài, đầu thì đau như búa bổ còn chân cẳng thì rã rời. Ai đó đang túm lấy gã, ghì gã xuống nền đất mà vặn xoắn từng khớp xương. Gã không say. Họng gã vẫn khô rang, và gã chưa uống lấy một giọt rượu nào. Dù sao đi chăng nữa, gã vẫn là một thằng đàn ông biết nghe lời. Charlie chỉ cho phép cả hai uống một chút cognac, hoặc vodka, hoặc bourbon, hoặc bất cứ thứ gì mà gã đem về căn hộ, bởi vì một chút men sẽ khiến gã hăng máu hơn chút đỉnh lúc làm tình. Nghĩ tới đây, gã thấy phấn chấn hơn một chút.

Thi thoảng, gã cũng thấy tự đắc khi thả con mãnh thú bên trong mình ra và để mặc cho nó thoả sức tung hoạch trên cơ thể người tình. Đàn bà ấy à? Gã không ham. Gã yêu người tình bé nhỏ của gã. Chàng không đĩ thoã. Mà nói như vậy thì cũng không được đúng cho lắm. Chàng rất đĩ. Nhưng chỉ với một mình gã mà thôi, chứ không dạng chân ra cho thiên hạ đâm chọc. Đấy là điểm mà gã yêu nhất ở Charlie. Chàng sống ở một thế giới thật khác biệt. Thế giới ấy có một chiếc giường êm ái, một cái lò sưởi bập bùng củi lửa suốt ngày đêm, một cái siêu nước bằng đồng, mấy hộp đậu Hà Lan đóng hộp trong tủ bếp, ngũ cốc và yến mạch. Thế giới ấy có một ngôi nhà. Và quan trọng nhất là chàng không phải loại dễ dãi. Nhớ đến người tình, gã lại rảo bước, nhưng hình như càng cố bước nhanh hơn thì cơ thể gã lại càng đổ rạp xuống như con rối gỗ bị lỏng chốt cố định cẳng chân, hoặc vớ phải một tay múa rối lóng ngóng, có mỗi việc của mình mà cũng làm không nên hồn.

Xoa xoa bàn tay không cầm ca táp vào vạt áo, gã lần tìm chiếc hộp thiếc đựng xì gà trong túi mà tìm mãi chẳng thấy đâu. Không bỏ cuộc, gã đổi ca táp sang tay bên kia rồi tiếp tục mò mẫm hòng tìm thuốc lá mà cũng chẳng thấy đâu. Thậm chí, gã còn đứng hẳn lại bên cạnh cột đèn đường mà săm soi túi trong túi ngoài của mình. Thế là gã cứ hết đổi ca táp sang tay phải rồi lại qua tay trái, mỗi lần thọc tay vào trong túi áo, túi quần là cả người gã lại nghiêng hẳn qua một bên, nhìn qua không khác mấy bị bẻ làm đôi. Mắt gã vẫn nhìn chằm chằm về phía trước mặt để chắc chắn rằng mình không vô tình va quệt vào ai khi đi đường, và việc gã cố gắng mở mắt thật to đã cho thấy một nỗ lực phi thường trong việc cố gắng về nhà thật an toàn của một trong những tên tội phạm được hợp pháp hoá của Chicago, kẻ cung cấp hai phần ba số rượu đang được tiêu thụ và dẫn mối cho một nửa đám gái điếm trong thành phố. Tuy vậy, gã không hề để ý rằng rất nhiều người đi hai bên đã phải né hắn ra một chút để tránh bị nửa thân trên đổ nghiêng như một thân cây sau đêm bão của gã chạm vào. Người ta không muốn làm phiền gã. Thực vậy, chẳng ai dám làm phiền gã cả. Cũng chẳng một ai trong khu phố dám tới gần Charlie kể cả khi người tình của gã rất dễ thương. Họ e ngại rằng nếu như nói gì không phải phép hoặc có sự cố không ai mong muốn xảy ra, thì gã sẽ không rút khẩu súng lục kia ra mà nã đạn vào cả nhà họ, mà sẽ tìm ra một phương thức khác chắc chắn tàn bạo hơn và máu lạnh hơn để dồn họ vào đường cùng.

Bản chất của gã chính là như vậy. Nếu như có thể tránh được cọp thì cả đời người ta chẳng dại gì phải vào rừng. Tiều phu và thợ săn liều mạng lên rừng chỉ bởi vì đó là cần câu cơm của họ mà thôi, chứ hổ thì họ vẫn sợ một phép.

Nhưng gã tức. Gã tức mình lắm. Làm thế nào mà hộp xì gà mới ngay đây thôi, chính tay gã đã nhét vào trong túi áo khoác trước khi rời khỏi đại bản doanh, nhưng bây giờ tìm mãi mà hộp xì gà vẫn như đang chơi trò cút bắt cùng gã. Nhưng bây giờ gã không có thời gian để mà chơi đùa. Gã cần phải thật tỉnh táo để đón nhận những gì sắp sửa, và đó là lí do mà gã cần tới một điếu xì gà, một điếu thuốc lá tự quấn, hoặc một thứ gì đó giúp đầu óc hắn được trấn tĩnh. Trong lúc lần mò tìm thuốc, gã nhận ra bàn tay mình đang run bần bật như người mắc chứng kinh phong. Điều đó khiến gã chẳng thể nào hài lòng được. Rõ ràng là gã chẳng bệnh tật gì, đang khoẻ như vâm, ấy thế nhưng từ lúc lên xe cho tới tận bây giờ, gã cứ thấy mình như gầy sọp hẳn đi. Hai má gã hóp lại khiến xương gò má như mỗi lúc một nhô cao hơn, da cũng sạm đi trông thấy, quầng thâm dưới mắt hiện rõ, và đôi mắt lờ đờ lúc nào cũng trông như đang ngái ngủ của gã đàn ông không sợ trời, không sợ đất hôm nay lại sưng húp lên, tưởng như không mở ra nổi. Gã không có tâm trạng để mà soi gương, nhưng gã có thể hình dung ra bộ dạng tả tơi ấy. Gã còn lạ gì vẻ hốc hác của những kẻ ốm bệnh. Vài năm trước thôi, Charlie cũng tìm tới gã trong dáng vẻ tiều tuỵ ấy.

Nhớ đến Charlie, gã thôi không lộn túi trong túi ngoài ra mà tìm thuốc nữa. Gã vớ được một bao diêm trong túi áo. Lắc lắc mấy cái, gã không nghe thấy tiếng lạo xạo. Tiện tay quẳng bao diêm rỗng không vào thùng rác đặt bên vệ đường, gã lững thững bước đi, ánh mắt vô hồn lẩn khuất giữa kẽ hở của những vai người và đầu người nhấp nhô liên tục trước mặt. Ai nấy đều hối hả. Chẳng ai biết họ đang bận rộn vì điều gì, bởi vì người ta đang quá tất bật nên chẳng có thì giờ để mà hỏi han nhau đôi điều. Né tránh nhau, người ta coi như trốn được khỏi biết bao phiền phức. Không một mối liên hệ, không mối chút ràng buộc, xem ra thành phố này luôn đón chào những kẻ cô đơn nhất trên thế giới đổ dồn về đây. Người ta không có bạn bè, không có gia đình, thậm chí còn không có cả người quen. Đến cả đi mua bánh mì cũng lấm lét như đi ăn trộm, những kẻ sống trong khu phố này là vậy, cứ thế cắm cúi bước đi trên phố đông, nhác thấy bóng dáng nhau cũng tựa hồ như chẳng hề quen biết, lướt ngang qua đời nhau mà chẳng làm phiền nhau lấy một giây cho màn chào hỏi giờ đây đã dần biến thành một sự thừa thãi. Charlie cũng đã từng sống như vậy, và gã cũng thế. Căn hộ của Charlie chỉ cách căn hộ của gã tầm khoảng vài bước chân lên xuống cầu thang, nhưng tần suất họ chạm mặt nhau không thực sự nhiều tới mức khiến gã ghi nhớ việc có một người sống một mình ngay gần khu vực của mình. Không nhiều người dám bén mảng tới gần gã, nhưng Charlie có lên tiếng chào gã một lần. Lần đầu tiên gã thực sự đứng lại mà nói chuyện với người kia là khi gã đột nhiên nổi cơn hứng thú muốn tìm hiểu xem chàng trai nom có vẻ thân thiện rất không Chicago kia là ai.

Một sinh viên đại học, giọng nam trung của dàn đồng ca trong nhà thờ, biết làm bánh, biết nấu nướng và dọn dẹp nhà cửa, có thể đem quần áo tới tiệm giặt là hàng ngày nếu như trong túi có đủ tiền xu, không ngại chen lấn xô đẩy trong cửa hàng tạp hoá để mua đồ giảm giá, một năm chỉ tới nhà một người họ hàng xa sống cách Chicago hai giờ đồng hồ đi xe chắc cũng tầm khoảng ba lần, một lần vào kì nghỉ xuân, một lần vào kì nghỉ hè và một lần vào Giáng sinh. Làm thế nào mà một sinh viên đại học lại nằm vật trước cửa nhà gã trong tình trạng sắp chết tới nơi, gã không hỏi và cũng không có nhã hứng bới móc chuyện của người khác, nhưng gã đã tới quán rượu nơi Charlie làm thêm và quậy một trận. Khá vui, cũng tạo điều kiện cho đàn em của gã vận động một chút coi như giãn gân giãn cốt.

Gã không lấy làm bất ngờ khi tay chủ quán rượu béo tốt ấy có ý định lôi kéo nhân viên của mình vào con đường nghiện ngập. Một lần, thử cho biết, hẳn là thằng cha có chiếc mũi hếch cùng đôi mắt ti hí như mắt lươn ấy đã nói như thế. Hoặc cũng có thể là Charlie bỗng dưng cảm thấy buồn chán thôi. Nhưng khi nghe đàn em báo lại rằng chính miệng tay chủ quán kia đã khai ra rằng hắn đã chuốc thuốc Charlie bằng cách bỏ vào thùng nước dành cho nhân viên thì gã đã giật sập cả cái quán ấy rồi. Đằng nào thì từ lâu, tên kia đã là cái gai trong mắt gã, thôi thì coi như vẹn cả đôi đường. Vấn đề khiến gã lo lắng khi ấy không phải là thu xếp chuyện quán rượu ra làm sao, mà là sức khoẻ của Charlie. Chàng rất yếu, và chàng cần được bảo bọc trong lớp chăn thật dày. Như một đứa trẻ sơ sinh. Một đứa trẻ đến là to xác.

Thời điểm đó, gã muốn Charlie chuyên tâm hồi phục nên đã thuê một bác sĩ giỏi nhất trong thành phố để theo dõi sát sao tình trạng của người kia. Gã nào có cơ hội mà chăm người ốm bao giờ. Chính gã cũng không nhớ nổi lần cuối cùng mình đổ bệnh là khi nào. Kí ức cứ mờ mờ như trốn sau màn sương, cố tình trêu ngươi gã, nhưng có lẽ từ nhỏ gã đã là một đứa nhóc ít khi biết đến mùi ốm rồi. Cứ như thể từ dưới đất mọc lên vậy, bà già nhà hắn đã phải cảm thán như thế mỗi khi trông thấy hắn. Và rồi bà để tôi tự sinh tự diệt rồi chẳng buồn tưới tắm cho cái cây con mà bà đánh từ vườn nhà người khác về để trồng trong sân nhà mình, chà, một người mẹ không thể tuyệt vời hơn được nữa. Bởi vì chưa từng phải săn sóc một ai, gã – một kẻ vốn đã quen với việc ở một mình – thấy có chút lạ lẫm khi trên giường của mình xuất hiện thêm một người khác.

Một người gầy rộc đi vì đói thuốc, yếu ớt đến mức đã từng không đủ sức mà nhấc một quả cam, đôi môi khô không khốc liên tục bong tróc, nằm trên giường nhà gã, xấu hổ đến mức không dám cả đưa mắt nhìn gã. Chàng há miệng để gã đút vào từng thìa súp loãng. Chàng nằm yên để gã dùng khăn bông thấm nước ấm mà lau rửa cho mình. Chàng cam chịu để gã xích vào giường. Để cai thuốc, tất nhiên. Mọi thứ đều mới mẻ, với cả Charlie và gã. Gã nhận ra mình thích chăm sóc cho Charlie. Không giống với việc nuôi một con chó. Hơi khó tin một chút, nhưng gã thực sự từng nuôi một con chó và tên nó là Flower. Không hề giống. Việc chăm sóc cho Charlie thật sự rất khác.

Chàng rất… con người. Gã chỉ có thể diễn tả như vậy mà thôi. Một con chó sẽ không khóc khi được chủ nhân ve vuốt thân thể hay luồn tay vào mái tóc xơ cứng của mình, nó cũng không nức nở vì nhục nhã khi không thể tự mình ăn uống hoặc vệ sinh thân thể mà không cần nhờ tới người khác. Chó, chúng thấy hạnh phúc khi được quấn quít bên chủ của nó. Còn Charlie, chàng không thấy vui khi quấy rầy gã. Hiện tại, Charlie của gã đã khoẻ mạnh trở lại. Đó là cả một quá trình. Không rõ vì cớ gì, gã lại thấy hài lòng khi tháo xích cho Charlie và thử bế ẵm chàng lên như người ta âu yếm trẻ nhỏ, rồi trầm trồ khi nhận ra chàng đã nặng cân hơn tuần trước một chút.

Từ khi bắt đầu khoẻ lại, Charlie nhận làm việc nhà giúp gã. Thực ra, gã không thấy phiền hà cho lắm khi thỉnh thoảng vào bếp nấu nướng. Gã có dư tiền, nhưng lại thích sống một mình trong căn hộ tầm trung. Cũng là ở một mình đấy, nhưng dọn tới một ngôi nhà nguy nga tráng lệ mà ở một mình, gã sợ rằng mình sẽ bị chính khoảng không gian xung quanh mình bóp chết. Gã thích tận hưởng cuộc sống theo cách riêng, thành thử ra ban đầu gã không thích việc có ai đó phụ trách toàn bộ việc nhà giúp mình. Tuy nhiên, vì Charlie luôn thấy áy náy nếu như chỉ ở không ăn bám gã, cho nên gã đành phải gật đầu đồng ý.

Gã vẫn còn nhớ như in đêm mưa ấy, khi gã ướt lướt thướt vì đi bộ dưới mưa hết mấy khối nhà, và Charlie nằm trên giường gã, trong căn hộ của gã, làn da tái nhợt ngày nào lúc này đây hồng hào căng bóng lên dưới ánh đèn mờ, đôi mắt long lanh, còn nụ cười thì rạng rỡ đến lạ. Họ đã ăn tối và hẳn là đã uống một chút cognac. Một chút thôi, vừa đủ để hai gò má Charlie ửng hồng, còn gã thì thấy mình như trẻ lại tới vài tuổi. Gã chưa từng nghĩ rằng mình sẽ thấy phấn chấn tới như vậy. Chăn gối được giặt giũ thơm tho, bàn ăn được bày biện, lọ hoa đã được thay mới, và một bữa tối không được tính là thịnh soạn nhưng khá tươm tất bên Charlie. Đêm hôm đó, trong khi mưa cứ rả rích bên ngoài, căn hộ của gã ấm sực lên.

Gã đang yêu.

Gã nhận ra rằng mình đang yêu một cách nhiệt thành như thế. Không toan tính, không nghĩ suy, cơ thể gã hoà làm một với Charlie. Dẫu rằng tới tận bây giờ khi đã cùng chung sống, người kia vẫn không thực sự an tâm với công việc của gã, nhưng gã vẫn không ngớt vỗ về người kia, nói rằng một ngày nào đó khi đã kiếm chác đủ, gã sẽ cùng người tình bé nhỏ của mình rời khỏi cái thành phố chết bờ chết bụi với mùa đông rét mướt sụt sùi này. Gã yêu người kia lắm. Yêu lắm ấy, yêu theo kiểu không thể diễn tả cho hết bằng lời được. Vì nghĩ cho tương lai của người kia, gã khuyên Charlie quay lại trường học. Nực cười thật, khi mà một kẻ lêu lổng suốt bao nhiêu năm và luôn tâm niệm rằng bọn trẻ con chẳng học được gì ở trường học ngoại trừ kĩ năng ve vãn giảng viên để được nâng điểm tổng kết, thế mà giờ đây lại khuyên nhủ một ai đó cố gắng học hành. Có hay chăng, gã chợt nhận ra việc lăn lộn ngoài đường phù hợp hơn với mình, nhưng trường học lại là nơi thích hợp hơn với Charlie. Gã muốn gửi gắm Charlie ở nơi đó.

Một nơi thật an toàn, và xinh đẹp nữa. Gã đã từng lái xe đưa Charlie tới trường. Những toà nhà cao tầng màu be, những ô cửa kính sáng loáng, hàng cây đều tăm tắp dọc hai bên lối đi, thảm cỏ trải dài, và tiếng nói cười không ngớt cứ thế vang vọng khắp nơi. Gã nhìn thấy từng tốp, từng tốp vừa sóng bước vừa trao đổi với nhau về bài giảng tuần trước, tay ôm một chồng sách trước ngực. Đại học là một điều gì đó thật khác biệt so với hình dung của gã. Ở trường, Charlie đeo kính. Mọi người cũng đeo kính. Ai ai cũng khả ái và thân thiện. Ngay cả những cậu bé, những cô bé mọt sách cũng cúi đầu chào gã khi gã băng qua sân trường để tới văn phòng làm thủ tục nhập học với tư cách người giám hộ của Charlie.

Một thế giới thật khác. Thế giới đáng yêu của Charlie. Mọi người đều chào đón chàng quay lại trường học, và chẳng một ai né tránh việc bổ nhào tới mà ôm chầm lấy chàng. Gã nhận ra mình chưa từng được ôm, cho nên gã đã bắt chàng phải ôm chặt lấy mình cả đêm hôm ấy trong căn hộ. Trời vẫn cứ mưa về đêm, nhưng như thế cũng thật tốt. Gã chẳng mấy khi thường xuyên ở nhà, thành ra thời gian ở bên cạnh Charlie luôn là thời gian yêu thích của gã.

Đợi đã, gã vừa gọi căn hộ là nhà? Một chút bối rối, gã nhìn bàn tay vẫn chưa hết run rẩy, tức mình đá chiếc lon rỗng nằm lăn lóc trên vỉa hè. Gã không hiểu vì sao mình lại cáu giận. Giống như việc run sợ vậy, gã chẳng tài nào lí giải được cớ gì mà mình cứ lạnh dọc sống lưng. Có thể là do mồ hôi. Lắc đầu một cái cho thật tỉnh táo, gã sải bước thật lớn, bước đi phăm phăm trên đường. Cánh cổng toà nhà đã ở ngay trước mắt. Căn hộ của gã là Charlie ở trên tầng ba. Kể từ khi dọn về ở chung với gã, Charlie không còn thuê căn phòng nhỏ ở đầu cầu thang tầng trên cùng nữa. Nhìn thấy cánh cổng, hai mắt gã sáng lên như bắt được vàng. Nói một cách hình ảnh thôi. Gã cần phải vào nhà ngay bây giờ. Gã phải để cho mùi thơm nức của những chiếc bánh vừa mới ra lò vây quanh mình. Hôm nay, Charlie được nghỉ. Hẳn là bây giờ chàng đang ngồi trong nhà rồi. Chàng phải về nhà từ chiều. Chưa chạm tay vào then cài cổng, nhưng gã đã thấy trong lòng nhộn nhạo. Ngay lúc này, gã cần vòng tay của Charlie. Chàng sẽ ôm lấy gã, xoa xoa lưng gã, để yên cho gã hôn lên trán, lên mi mắt, lên chóp mũi, lên đôi má, lên đôi môi, lên tai, lên cằm, lên cổ. Gã những muốn chạy ùa vào nhà ngay tức khắc, để được ủ ấm trong sự dịu dàng đến là nên thơ của người tình. Chàng để cho gã rúc đầu vào bên dưới áo mình, và khi chàng đang rên hừ hừ như một chú mèo được xoa bụng, gã sẽ giữ chặt lấy hông chàng để chàng chẳng thể đẩy mình ra xa như mấy lần trước nữa. Ở nhà, gã được yêu. Cho nên, ngay bây giờ, gã phải vào nhà. Gã cần phải vào nhà để quên đi tất thảy mọi sự, và để chối bỏ những gì mình vừa gây ra. Ngay lúc này, gã tỉnh. Gã đang tỉnh hơn bao giờ hết.

Gã đàn ông cần phải vào nhà, và gã chỉ cần vào nhà mà thôi. Kéo then cài cổng, gã đẩy cửa. Chợt, một chiếc phong bì rơi xuống. Đứng ngay trước cổng, gã khựng lại. Gã hiểu điều này có ý nghĩa gì. Nuốt nước bọt đánh ực một tiếng, gã run rẩy cúi người nhặt chiếc phong bì lên. Ngẩng đầu nhìn lên khung cửa sổ tầng ba, gã thấy Charlie đang tựa người bên cửa sổ, điềm tĩnh rót rượu vào cốc thuỷ tinh. Dường như, chàng đã nhận ra gã đang đứng dưới cổng. Giơ cốc rượu lên giả vờ mời gã, chàng ngửa cổ nốc cạn thứ chất lỏng sóng sánh kia xuống cổ họng rồi lẳng lặng kéo rèm cửa sổ lại. Vậy là chàng đã biết. Chàng đã nhìn thấy lá thư, và chàng biết rõ chuyện gì sẽ xảy ra sau đó. Charlie rất thông minh, chàng hiểu cả những lời mà gã chưa nói. Điều ấy đôi khi là ưu, nhưng lắm lúc lại là nhược. Bởi vì một khi đã lựa chọn không nói ra, gã phần nhiều là vì muốn che giấu chàng khỏi con mắt cú vọ của những nhân vật lão làng trong đại bản doanh, nhưng Charlie lại tỏ tường hết thảy. Lần này, gã có chủ đích giấu diếm chàng, nhưng xem ra lại không được mất rồi. Gã thấy tim mình như có một vết cắt. Một vết cứa đến ngọt, sâu hoắm. Ban đầu, gã chỉ cảm giác được cơn mát lạnh truyền tới ngay thớ thịt vừa bị lưỡi dao lướt qua. Nhưng ngay sau đó, sự đau đớn chạy theo dây thần kinh khiến gã chết lặng. Gã vừa nhận được thư mời tới dự tiệc của Al Capone. Câu này không được nói một cách hình ảnh đâu. Gã thực sự đã nhận được thư mời ăn tối của Al Capone. Với tư cách một kẻ phản bội, gã sẽ phải đến trình diện sếp và chờ đợi cho tới khi đồng hồ điểm giờ chết cho mình.

Quan trọng hơn, gã không có cơ hội để mỉm cười nói với Charlie rằng sẽ không có chuyện gì xảy ra.

.

Mười điều răn của Salvatore Lo Piccolo:

Một, không bao giờ được phép trực tiếp giới thiệu tên của mình với một thành viên khác trong băng đảng. Luôn phải thông qua một nhân vật thứ ba.

Hai, không bao giờ được phép nhòm ngó tới vợ của bạn bè.

Ba, không bao giờ được phép bị nhìn thấy khi đang ở cùng với cảnh sát.

Bốn, không bao giờ được bén mảng tới gần quán rượu và hộp đêm.

Năm, luôn sẵn sàng nhận mọi nhiệm vụ từ Cosa Nostra. Đây là một nghĩa vụ. Kể cả khi vợ đang lâm bồn, Cosa Nostra vẫn phải được đặt lên hàng đầu.

Sáu, tuyệt đối tôn trọng các cuộc hẹn.

Bảy, tôn trọng phụ nữ, đặc biệt là vợ mình.

Tám, khi được yêu cầu trả lời về bất cứ một điều gì cũng không được phép dối trá.

Chín, không được chiếm đoạt tài sản của người khác hay của gia đình khác.

Mười, không được có mối liên hệ với cảnh sát, phải căn dặn người trong gia đình sống trung thực, cư xử tốt và giữ gìn phẩm hạnh.

Mười điều răn của Al Capone:

Một, giết.

Hai, giết.

Ba, giết.

Bốn, giết.

Năm, giết.

Sáu, giết.

Bảy, giết.

Tám, giết.

Chín, giết.

Mười, giết.

.

Gabriele Capone, sinh ra tại làng Castellmarre di Stabia, cách thành phố Naples khoảng mười sáu dặm về phía Nam. Năm 1894, Gabriel đã mang người vợ đang mang thai là Teresina (thường được gọi là Teresa) cùng với cậu con trai 2 tuổi Vincenzo và bé Rafaele di cư tới Mỹ. Cùng với hàng ngàn người Italy di cư khác, gia đình nhà Capone chuyển về Brooklyn, gần khu vực hải quân Brooklyn. Khung cảnh ảm đảm của những năm đầu ở Tân Thế Giới khiến người ta dễ thấy chán chường. Tuy vậy, không giống như nhiều người Italy di cư khác chỉ chăm chú tìm việc làm thuê, anh có kế hoạch riêng cho cuộc đời mình, đó là làm việc cật lực để có thể để mở một tiệm cắt tóc cho riêng mình. Suy nghĩ đó khiến anh hết sức vui thích. Trong khi những người khác nhìn nước Mỹ như một chốn dung thân, người đàn ông ba mươi tuổi Gabriele khi ấy lại coi nơi đây như một miền đất hứa.

Nhờ biết đọc và biết viết tiếng Anh, Gabriele đã xin được một công việc ở tiệm tạp hoá cho tới khi mở tiệm cắt tóc riêng. Về phía Teresina, tuy bận bịu với các công việc nội trợ, chị vẫn nhận làm thêm may vá tại nhà để tăng thu nhập cho gia đình. Năm 1895, đứa con thứ ba của họ là Slavator Capone ra đời. Chỉ bốn năm sau, tức năm 1899, gia đình Capone chào đón thêm một thành viên mới. Đứa trẻ đó chính là Alphonse Capone, kẻ mà sau này đã khiến thế giới phải run sợ băng đảng mafia khét tiếng của mình với các phi vụ động trời, những đợt thanh trừng khủng khiếp và việc thanh toán cả bạn làm ăn ngay khi nghi ngờ đối phương có ý định ngáng chân mình.

Tháng 5/1906, Gabriele được nhập quốc tịnh và trở thành công dân Mỹ. Cả gia đình theo đó cũng đổi sang tên Mỹ, cho nên Alphonse trở thành Al Capone. Sau khi Al chào đời, gia đình họ chuyển tới một khu phố sung túc hơn, phía trên cửa hàng của Gabriele ở số 69 đại lộ Park tại Brooklyn. Cách nhà gia đình Capone vài dãy là một tòa nhà có diện tích khá khiêm tốn nằm trên quảng trường Garfield. Đó là trụ sở của một trong những trùm tội phạm khá nổi tiếng của khu Biển Đông, đứng đầu là Johnny Torrio. Là người có vóc dáng nhỏ bé, Torrio nhanh chóng biết được rằng trong thế giới khắc nghiệt này, nếu muốn sống sót thì cần phải biết dùng tới cái đầu chứ không thể chỉ dựa vào sức mạnh của cơ bắp và nắm đấm. Không những thế, hắn ta còn rất khéo léo và đặc biết biết cách huy động đồng minh. Nhờ có phong cách của một quý ông, Torrio chỉ bộc lộ mình là một tay giang hồ bình thường, nom có phần hơi lêu lổng, lông bông. Không nhiều người biết tới thân phận ông trùm bảo kê cho gái điếm của Johnny Torrio.

Torrio sớm trở thành một hình mẫu cho đám thanh niên trong khu phố. Capone, giống như nhiều bạn bè cùng tuổi, luôn ngưỡng mộ và tìm cách làm quen với Johnny Torrio. Theo thời gian, Torrio bắt đầu thấy tin tưởng Al và giao cho cậu bé ngày càng nhiều trọng trách trong các hoạt động phi pháp. Trong khi đó, Al đã học hỏi thông qua sự quan sát từ hành vi đến cách tư duy của ông trùm được nhiều người kính nể này cũng như các đàn em của hắn. Một trong những bài học lớn nhất mà Capone nhận được là phải biết điều, cũng phải biết phân biệt rõ ràng giữa bề ngoài và bản chất. Cho dù có làm gì đi chăng nữa, bề ngoài vẫn phải thật lịch lãm, cung cách ứng xử phải tỏ rõ là một nhân vật có giáo dục.

Năm 1909, Torrio chuyển tới Chicago làm ăn. Al Capone chia tay người thầy đầu tiên. Rất nhiều năm sau, chúng ta biết tới Chicago Outfit hay Capones, một tổ chức tội phạm lớn trước thời kì cấm rượu, chuyên buôn lậu và tổ chức mại dâm tại một trong những thành phố lớn nhất nước Mỹ từ đầu những năm 1921 tới năm 1930.

Chicago vào thời điểm đó là một mảnh đất hoàn hảo để xây dựng một đế chế tội phạm. Nơi đây thường xuyên xảy ra tình trạng rối loạn trật tự, các phe nhóm liên tục tranh chấp và đánh nhau. Đặc biệt, thói quen uống rượu như nước của người dân là yếu tố quan trọng mang lại khối tài sản kếch sù cho những kẻ thức thời. Những tờ báo hàng đầu đã nói về Chicago như sau: “Đó là một bang luôn đầy sức sống và bạo lực, những phe nhóm kích động và nhẫn tâm, không hề kiên nhẫn trước bất kì tình huống nào. Một thành phố đầy máu me và tàn bạo, nơi dung thân của hơn mười triệu ‘bò cái’, ‘lợn thiến’‘những con thiêu thân’ được chăn dắt bởi các ông trùm khét tiếng và mưu mô. Nhưng đó cũng là một thành phố thương mại không có chỗ cho những đầu óc ngu dốt, thói trịnh thượng và không thức thời”. Sự thối rữa về chính trị đã tạo nên một “thảo nguyên” xanh tươi, béo tốt cho thế giới tội phạm thoả sức tung hoành. Khi Al Capone tới Chicago vào năm 1920, lĩnh vực kinh doanh thân thể đã trở thành một ngành công nghiệp mang lại lợi nhuận kếch sù cho giới tội phạm. Đây có thể được cho là lí do vì sao hắn lại chọn Chicago là điểm dừng chân của mình và xây dựng một đế chế khổng lồ trên chính mảnh đất màu mỡ này.

Dù rằng trong thời gian tiếp xúc với Johnny Torrio, cậu bé Al Capone không hề có một dấu hiệu nào cho thấy mình sẽ trở thành một ông trùm mafia khét tiếng trong tương lai, nhưng không thể phủ nhận một điều rằng, cuộc gặp gỡ của cậu bé với Torrio là một bước ngoặt rất lớn trong cuộc đời Capone. Về sau, Capone cũng đã gặp lại Torrio tại Chicago và thừa hưởng khối tài sản của người thầy của mình trong thời gian Johnny Torrio ngồi tù. Trong công việc, nhờ có sự chỉ bảo của Torrio cùng phong cách vượt trên những định kiến, sẵn sàng kết bạn và thu phục người tài mà không hề phân biệt chủng tộc, màu da, giai cấp, Al Capone ngày càng có vị thế trong việc quản lý. Dần dần, hắn được Torrio giao cho toàn quyền tại vùng Levee. Từ khi Al điều hành mạng lưới tội phạm, xung đột giữa các băng nhóm trùng xuống. Về sau, khi William E. Dever về kế nhiệm chức thị trưởng của “Big Bill” Thompson, thời của Al không kéo dài được lâu. Ngay khi nhậm chức, William đã bắt đầu chiến dịch cải tổ hành chính và luật lệ điều hành trong thành phố, cùng với đó là những hoạt động liên quan tới đẩy lùi tham nhũng, khiến cho việc đút lót và bán rượu trở nên khó khăn hơn. Torrio và Capone quyết định đưa tất cả những hoạt động “kinh doanh” của mình ra khu ngoại ô Cicero, nơi cảnh sát và chính quyền dễ bị mua chuộc hơn. Torrio mở một nhà chứa tại Cicero, đồng thời đưa mẹ mình trở lại Italy để Capone một mình thống trị đế quốc mới. Đó là cơ hội tốt cho Al giành được nhiều quyền lực hơn trong công việc kinh doanh.

Gặp sớm hơn thì e là cũng chẳng thay đổi được điều gì, vậy thì, chuyện gì sẽ xảy ra nếu như Al Capone gặp Johnny Torrio muộn hơn một chút? Cậu bé người Mỹ gốc Ý năm nào liệu có trở thành một bác sĩ, kĩ sư, hay đơn giản là một người tốt thay vì trở thành nỗi khiếp sợ của Chicago hay không?

.

“Tôi hơi bất ngờ về cách thức mà người này sử dụng để tạo nên vầng hào quang đầy bí ẩn và lãng mạn xung quanh ông ta. Người này là ai? Người này là ai mà trong suốt nhiều năm dài, chúng ta coi như là quý ông triệu đô? Phải chăng, ông ta may mắn tìm được một kho vàng phía cuối chân trời? Hay người này chính là Robin Hood như thuộc hạ của ông ta hằng ca tụng? Không. Ông ta không thể là Robin Hood của dân nghèo khi sẵn sàng mua cái thắt lưng đính kim cương trị giá 8.000 đô la và bỏ ra 6.500 đô la cho một bữa ăn. Liệu số tiền đó có tới bàn tay của những người nghèo, những người thất nghiệp? Không, nó tới lâu đài ở đảo Palm.

Ông ta đã mua chiếc áo sơ mi giá 27 USD để tặng cho những người đang phải run rẩy tại khu Wacker tránh cái lạnh ban đêm? Không.

Tại bất kỳ thời điểm nào, bất kỳ nơi nào, bị cáo đều xuất hiện với vầng hào quang của một doanh nhân thành đạt. Hình tượng mà chúng ta luôn nhìn nhận về người đàn ông này là một người không có thu nhập, nhưng lại luôn mang trên mình thắt lưng đính kim cương, những chiếc áo sơ mi trị giá hàng chục đô la, đồ đạc trong căn hộ thì trị giá hàng trăm nghìn đô la. Vậy mà, luật sư bào chữa luôn miệng khẳng định rằng người này không hề có nguồn thu nhập nào. Vậy những tài sản ông ta có, là từ đâu mà tới?”

 

.

 

“Al mời ba vị khách quý tới nhà mình ăn tối. Ba vị khách người Sicilia này rất phấn khởi. Họ thưởng thức sơn hào hải vị và cùng nhau uống rượu vang. Ngồi trên đầu bàn, Capone cười một cách đầy sảng khoái, không ngớt chúc tụng: ‘Nào, chúc mừng Scalise! Chúc mừng, Anselmi! Chúc mừng, Giunta!’ Đến sau nửa đêm, khi miếng bánh cuối cùng đã hết và giọt rượu vang cuối cùng đã cạn, Capone đẩy ghế ra sau và đứng dậy. Một không khí im lặng bao trùm cả căn phòng. Nụ cười của hắn biến mất. Những vị khách quý đang thỏa mãn và no nê tới mức phải nới lỏng dây thắt lưng cho thoải mái hơn. Sự im lặng càng kéo dài khiến các vị khách nhận ra và cũng im bặt không dám cười nữa. Họ lo lắng, mắt dáo dác liếc nhìn khắp căn phòng. Al Capone nhìn trừng trừng về phía họ, những lời hắn nói ra nặng trịch như các tảng đá. ‘Những tên ngốc này, chúng tưởng ông trùm không biết sao? Chúng nghĩ rằng có thể che giấu sự phản bội của mình?’

Capone là kẻ thích làm theo lối truyền thống. Hắn luôn đãi khách trước rồi mới hành quyết sau. Các vị khách người Sicilia không làm cách nào tự vệ được, lần lượt bị thuộc hạ của Capone trói gô vào ghế. Capone đứng dậy, thong thả cầm một cây gậy đánh bóng chày, lững thững bước tới chiếc ghế của vị khách đầu tiên. Dừng lại, từ phía sau, bằng cả hai tay, Al giơ cao chiếc gậy và đập xuống lưng vị khách bằng tất cả sức lực của mình. Một cách từ từ và có phương pháp, hắn đập nát xương vai, xương tay và xương ngực của vị khách quý. Hắn bước tiếp đến sau ghế của vị thứ hai, rồi tới vị thứ ba… Cuối cùng, một trong các vệ sĩ của Capone kê súng lục vào gáy của từng người và bóp cò…”

(Kobler)

 

.

 

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như Al Capone gặp được Johnny Torrie muộn hơn? Charlie cá với anh rằng, anh chàng Capone sẽ giết chết ông ta. Vì sao ấy à? Chẳng phải vì ông ta là một tên khốn nạn đâu vì xung quanh Charlie đều rặt một lũ khốn nạn, mà vì tên ông ta là Johnny.

Theo Charlie, tất cả những kẻ mang tên Johnny đều nên chết đi. Thậm chí, chàng còn mong rằng sẽ có thật nhiều Johnny xuất hiện trước mặt để mình có thể lần lượt kết liễu từng tên một. Giết một người hết lần này đến lần khác, giết một người nhiều lần tới mức phát nghiện, Charlie muốn Johnny sống dở chết dở để chết dưới tay mình cho tới tận khi loài người diệt vong. Thà như thế còn hơn. Thà như thế còn hơn để Al Capone tìm thấy Johnny Suh. Nhưng không, hắn đã tới. Kẻ hắc ám ấy đã tới tận đây, nhét lá thư vào khe cửa, ngẩng đầu lên nhìn chằm chằm Charlie đang len lén nhìn trộm gã bên cửa sổ và rồi cười phá lên một cách khoái trá khi thấy chàng hoảng hồn kéo rèm cửa lại. Tiếng cười của kẻ mà người chàng đầu gối tay ấp gọi là sếp như kẹt lại trong đầu Charlie khiến chàng hoảng loạn tột độ. Chàng hiểu việc Al Capone tìm tới tận đây chỉ để đưa thư mời là có ý gì, và chàng thấy lòng mình nóng như lửa đốt vì điều ấy.

Thú thực, chàng chưa khi nào trực tiếp chạm mặt Al Capone cho tới tận hôm nay. John luôn tìm cách ngăn cấm chàng gặp kẻ mà gã cho là một con quái thú trong hình dáng con người. Chàng đã từng tận mắt chứng kiến một John lúc nào cũng điềm tĩnh, lịch lãm và thanh tao bỗng chốc lồng lên như một con thú bị thương, đôi mắt trợn trừng long lên sòng sọc, vằn lên những tia máu, nhảy bổ về phía cánh cửa hòng che chắn Charlie khỏi tầm nhìn của Al Capone. Gã phát điên. Trong giây phút ấy, chàng hoảng hồn bước giật lùi về phía sau vì sợ hãi, và lần đầu tiên, chàng trông thấy nỗi tuyệt vọng tràn trề trong gã. Nỗi tuyệt vọng của một người đàn ông hít một hơi thật sâu trước khi gieo mình xuống vực thẳm, và rồi cảm nhận từng chút một của mình đang vỡ vụn ra thành từng mảnh, cơ thể chỉ còn là một bọc da người đựng đầy thịt, xương và máu. Gã vặn vẹo trong đau đớn, cơ mặt cứ thế giật giật liên hồi. Từ tận sâu bên trong, Charlie biết gã đàn ông của mình đang vỡ vụn, và chàng vừa mới giết gã thêm một lần nữa khi giật mình bước lùi về phía sau. Chàng vừa mới bước ra xa khỏi gã một bước, nhưng gã đã vì khổ đau mà nhăn nhó, mà nhọc nhằn. Chàng chưa từng thấy gã trở nên như vậy. Giá như chàng thấy gã mệt mỏi khi chăm sóc cho mình, hay sau những thương vụ cân não mà gã luôn miêu tả là vô tiền khoáng hậu tới mức lắm lúc chính gã cũng thấy lợm giọng, giá như, chàng thấy gã đau khổ vì đã tự giam hãm mình trong vòng luẩn quẩn của tình, của tội và rồi lại kéo thêm một người khác nữa vào vũng lầy của gã thì dễ có khi chàng đã chẳng hãi hùng tới vậy. Nhưng không, gã không khóc. Gã đàn ông của chàng nào có khóc vì nỗi nhớ nhà, một ngôi nhà chỉ còn là tầng kí ức bị phủ sương. Gã khóc vì nhận ra mình không thể giữ chàng ở ngoài ánh sáng nếu như gã cứ đứng yên vị trong bóng tối nhưng lại nhất quyết giữ chặt lấy chàng không chịu buông.

Không khó để gã nhận ra một điều, rằng gã sẽ không bao giờ có được tất cả những gì mình muốn. Hoặc là đẩy Charlie ra xa khỏi mình, hoặc là nhấn chìm chàng xuống tận cùng của màn đêm sâu thẳm, gã chỉ được phép lựa chọn một trong hai. Nhưng gã không tài nào làm được. Gã không thể buông tay Charlie, nhưng cũng không cam tâm để chàng vì mình mà dấn thân vào chốn độc hại ấy. Kể cả khi Charlie tình nguyện đi chăng nữa, không muốn thì vẫn cứ là không muốn. Chàng là của riêng một mình gã. Chàng thuần khiết, chàng sáng trong, chàng gọn gàng và xinh đẹp. Chàng nào có vẩn đục, chàng nào có tì vết, chàng nào có bê tha và chàng cũng đâu có gớm ghiếc. Chàng khác xa một con quỷ hôi tanh nhuộm đôi bàn tay bằng máu người, biến cả một thành phố trở thành chốn địa ngục trên mặt đất, dốc ngược chai rượu mạnh mà đổ vào họng những tên tay sai của quỷ và bắt chúng phải còng lưng mà cống nạp cho hắn. Chàng đâu có dáng dấp của một quý ông lịch thiệp với đôi mắt tinh anh, chỉ cần nhìn một người là có thể định giá xem người kia đáng đồng tiền bát gạo hay không. Chàng là tất cả của gã. Khi ấy, lúc nhìn thấy nụ cười nửa miệng của Al Capone và Charlie đang đứng ở cửa, gã đã không kiềm chế được mà lao vụt tới giữ chặt chàng trong vòng tay mình. Quay lưng lại với Al Capone, gã nghe thấy tiếng tên bố già tặc lưỡi. Hắn luôn muốn xọc bàn tay nhơ nhuốc của mình vào đời tư của hắn.

Hai mươi năm rồi.

Al Capone đã chõ mũi vào chuyện của gã hai mươi năm rồi và gã đã quá mệt mỏi khi phải làm theo tất cả những gì mà lão yêu cầu. Từ khi còn là một đứa bé, gã đã đi theo hắn. Phục tùng vô điều kiện, gã coi hắn như cha. Đổi lại, gã được gì? Lão bảo rằng gã đừng đòi hỏi và một khi tay đã nhúng chàm thì sẽ không có đường quay lại nữa, nhưng ngay cả khi gã có chấp nhận cúi đầu trước hắn hay vâng lời như một con chó thì gã được gì? Một cái vỏ hào nhoáng nhưng rỗng tuếch? Trở thành một con tốt thí mạng vào tù bóc lịch thay lão mấy tháng trời? Một thằng đầy tớ xoàng xĩnh có cũng được mà không có thì cũng chẳng sao? Một thằng ngu cả đời chỉ đi làm lính đánh thuê, làm tay sai? Lão rất ranh. Ngoài mặt, lão luôn thật nồng hậu với mọi người. Hết lần này tới lần khác, lão tìm cách khơi dậy niềm tin để kêu gọi sự phò tá của những kẻ dưới trướng lão. Thế nhưng, lão bán đứng chính những kẻ đã dành một nửa đời người để phụng sự hắn. Tống họ vào tù thay mình, chà đạp lên xương máu của người khác. Lão bán mạng. Lão đấu giá những đầu người cùng xác thịt. Đẹp đẽ thay, cái mác một người giàu có đang làm nhiệm vụ vực dậy cả một thành phố từ đống tro tàn, nhưng sau lưng lại tiếp thị củi lửa để những kẻ điên đốt trụi những giá trị mà người ta dành cả đời để gây dựng.

Nâng chiếc cốc thuỷ tinh lên ngang tầm mắt, Charlie mơ màng ngắm nghía chất rượu mạnh đang nhảy múa bên trong cốc. Cốc cuối cùng. Uống cạn, chàng những muốn uống cho say. Gã đàn ông ngồi đối diện quẹt một que diêm, từ tốn châm thuốc. Chẳng mấy chốc, khói thuốc ngập ngụa khắp căn phòng. Gã luôn thích làm như vậy, rít một hơi, rồi nhả khói vào mặt chàng, vừa cười khoái chí vừa bông đùa rằng làm thế để chàng quen với sự độc địa của thói đời hèn hạ khi thấy chàng ôm cổ mà ho sặc sụa. Nhưng hôm nay, gã lại chẳng làm thế nữa. Gã chỉ ngồi yên ở đó, bình thản một cách đáng ngạc nhiên. Hình như, kẻ tử tù nào trước khi bị điệu ra bãi bắn đều đột nhiên trở nên khác thường. Nghĩ cũng dễ hiểu thôi, đúng trước cái chết, một sự kiện trọng đại một cách đáng mỉa mai và đáng mỉa mai một cách trọng đại tới như vậy, người ta không thể tỏ ra bình thường được. Người ta hoặc là sợ hãi tới mức kêu la thảm thiết, lạy lục hết người này tới người kia để cầu xin được thoát tội một cách muộn màng rất không cần thiết, hoặc là ngồi yên một chỗ mà ngẫm nghĩ về cuộc đời, như cách mà gã đang làm ngay lúc này đây.

Nhướn mày nhìn Charlie, gã nhận ra chàng vẫn đang quyết tâm nốc cho hết chai whiskey. Uể oải điều chỉnh lại tư thế ngồi, gã đợi cho tới khi Charlie rót đầy cốc thêm một lần nữa rồi mới giữ tay chàng lại. Gạt tàn thuốc vào miệng cốc, gã lại đưa thuốc lên miệng mà rít thêm một hơi nữa, híp mắt nhìn khuôn miệng người kia méo xệch đi, cặp mắt to tròn ngơ ngẩn nhìn tàn thuốc nổi lên trên thứ chất lỏng sóng sánh. Bật cười một tiếng, Charlie hiểu ra người kia đang muốn nói chuyện với mình. Đặt chiếc cốc xuống bàn đánh cạch một tiếng, chàng lả lơi.

“Ngài ấy nói với tôi rằng tôi là món quà mà ngài ấy tặng cho anh.”

Im lặng. Gã lại rít thêm một hơi nữa. Trong làn khói, gã thấy cái chết. Charlie hắng giọng một tiếng, ngắc ngoải ngửa đầu ra phía sau mà dán mắt nhìn con nhện đang bò lổm ngổm ngay trên trần nhà.

“Ngài ấy nói rằng để anh quét tay chủ quán rượu ấy ra khỏi Chicago, anh cần một con đĩ, và tôi vừa vặn được chọn để trở thành chiến lợi phẩm của anh.”

Vẫn im lặng. Im lặng có lẽ là chiến thuật của gã. Ngay cả chuyện ngày mai, gã sẽ ăn vận thật đẹp rồi đi vào chỗ chết, nếu như lúc chiều Charlie không phát hiện ra thì có lẽ chàng sẽ mất cả đời để khóc lóc trong đau khổ như một goá phụ không tìm được xác chồng. Gã dùng im lặng để giải quyết tất cả mọi chuyện. Im lặng chịu khổ. Im lặng hi sinh. Im lặng ngay cả khi không cần phải lặng im. Gã muốn nói chuyện, nhưng lại chẳng thốt lên một lời. Gã mong mỏi được thấu hiểu, nhưng không bao giờ cho người khác biết trong đầu mình đang chất chứa những điều gì. Cả một đời, gã đã sống như vậy. Đau, gã không khóc. Buồn, gã không nói. Càng cô đơn, gã càng ngẩng cao đầu. Càng khổ sở, gã càng nghiến chặt hai hàm răng. Người đàn ông này không hề biết một điều rằng, sự im lặng của gã đang bức chết người mà gã yêu bằng cả sinh mạng. Lúc này, chàng chỉ muốn yêu cầu hắn chi bằng cứ thẳng tay bắn chết mình. Chàng muốn chết. Chàng muốn được chết tới phát điên.

“Tôi thà chết dưới tay anh, chứ tuyệt đối không để anh chết.”

Giọng chàng lạc đi. Đưa hai tay lên ôm đầu, Charlie thở hắt ra một tiếng. Chàng không định rơi nước mắt. Suốt những năm tháng ấu thơ, chàng đã khóc nhiều tới mức hai mắt lúc nào cũng đỏ hoe, cho nên kể từ khi dọn tới sống ở đây, chàng đã căn dặn mình không được khóc thêm một lần nào nữa. Nhưng không rõ vì cớ gì, cứ ngỡ tới việc sau ngày mai… Cứ nghĩ tới John, chàng lại thấy cổ họng mình nghẹn ứ như bị người ta bóp cổ. Gồng cả người lên để chống trọi với cơn đau thắt nơi ngực trái, Charlie bật lên một tiếng nấc nghẹn. Co hai chân lên ghế, chàng chôn mặt giữa hai đầu gối, ngăn không cho người kia nghe thấy tiếng khóc. Chàng thấy mình đang chết dần, như ngọn đèn tù mù trong phòng. Hai má chàng nóng lên, bụng đau quặn. Chàng muốn nôn mửa, nhưng không đủ sức. Phía đối diện, gã buông điếu thuốc.

“Hứa với anh, em sẽ tới chỗ Sonny.”

Nói rồi, gã đứng dậy, tiến tới phía sau lưng Charlie. Chàng vẫn đang run lên từng chập. Đặt tay lên vai chàng, gã cúi người hôn lên mái tóc người kia. Mùi rượu nồng nặc lẫn với mùi khói thuốc, tạo thành một thứ hỗn tạp khiến người ta say đắm. Gã đang say. Không một giọt rượu, nhưng gã lại say, và gã muốn mình cứ say sưa mãi như thế. Say chàng. Gã là một kẻ phản bội. Một kẻ phản bội lãng mạn chỉ mong sao người mình yêu được yên thân. Gã chỉ cần có như thế mà thôi. Sonny sẽ tìm cho Charlie một chỗ ở mới. Tiền học phí, gã cũng đã nhờ Sonny giữ giúp mình. Gã kiếm được đủ nhiều để hai năm tới có thể lo liệu xong chuyện học hành cho Charlie. Chàng phải học chứ. Chàng phải đi thật xa khỏi đây. Chàng phải bay lên giữa những vì sao. Ở đây không có chỗ cho chàng.

“Đáng mà.”

Gã thì thào bên tai Charlie. Đêm hôm ấy, gã cứ ôm chặt Charlie trong vòng tay mình, hết xoa nắn rồi lại âu yếm chàng. Gã đã hôn lên mi mắt, hôn lên trán, lên chóp mũi, lên đôi má, lên đôi môi, lên vành tai, lên chiếc cằm người kia. Rúc đầu bên dưới lớp áo mỏng tang của Charlie, gã thấy mình như quay về trong bụng mẹ. Thế cũng tốt. Gã luôn mơ ước rằng mình đừng bao giờ được sinh ra, nhưng nếu như gã ở trong bụng Charlie, gã sẽ là một phần cơ thể chàng. Gã thấy mình điên mất rồi. Quả nhiên, trước khi tiến tới đoạn đầu đài, ai cũng điên. Nghe tiếng thở dốc của Charlie, gã mỉm cười rời khỏi nơi ấm áp kia. Người kia vẫn đang thút thít. Đêm cuối cùng ở Chicago, chàng muốn ghi nhớ từng cú động chạm, từng cái vuốt ve, từng chiếc hôn và từng thớ thịt trên cơ thể người tình. Mê muội, điên loạn, đau đớn, tuyệt vọng. Chàng bị men say thôi thúc mà áp sát thân dưới trần trụi vào háng gã. Ngoài kia, trời lại mưa tí tách. Chicago cất tiếng tang khúc mà tiễn đưa hắn. Mỗi Chủ nhật, hắn lại được nghe Charlie hát trong dàn đồng ca của nhà thờ. Khuôn mặt thơ ngây, giọng hát ngân vang như tiếng ca của thiên thần. Nếu Chúa mà biết được tất thảy những tội lỗi mà gã đã gây ra và đã khiến chàng phạm phải, Người chắc chắn sẽ trừng phạt gã. Nhưng đêm nay, chỉ đêm nay thôi, gã thực lòng muốn chàng ở bên mình. Gã thấy xương mình bị đập vỡ. Xương gãy cắm thẳng vào tim, xuyên thủng lá phổi. Nén cơn đau, gã bật cười hôn lên cổ Charlie. Cọ cọ trán mình vào trán người kia, gã nhẹ nhàng.

“Em là phép màu của cuộc đời anh. Lão chỉ muốn chọc giận em đó thôi. Nhưng mà… Vì em, thì là thật. Em xem… Nếu là vì em thì cũng đáng mà.”

Vỗ nhè nhẹ lên lưng Charlie, gã cắn môi. Gã không khóc. Ít nhất, gã cũng không khóc. Gã không còn là đứa trẻ năm ấy nữa. Gã biết mình đang làm gì.

Câu này, cũng không phải là đang nói một cách hình ảnh đâu.

 

 

 

 

 

 

Posted in my johnny, night night (II), Triphenylmethane Project

[Oneshot | Triphenylmethane Project #E131 | #JohnDo] the witness

LsRnubF

Author: Jacob, Trịnh Ánh

Requested by: Cà Chua

Special Requirement: over 9,120 words

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Character(s): Johnny (NCT Johnny), the blind/Doyoung (NCT Doyoung), the deaf, the mute, the twins, the woman, the mayor, the mayor’s lady and her brother

Categories: Tarot reading, character’s death, angst, postwar!au; dystopia!au; sci-fi

Rating: K+

Summary:

“Anh đã tận mắt nhìn thấy họ tìm cách giết chúng ta.”

“Em đã tận mắt nhìn thấy anh tìm cách cứu chúng ta.”

 

 

 

the witness

Viết cho em.

 

Một người có thể nhìn và có thể nói, nhưng lại không thể nghe. Một người có thể nói và có thể nghe, nhưng lại không thể nhìn. Một người có thể nghe và có thể nhìn không thể nói. Ba nhân chứng được yêu cầu ngồi yên trong ba căn phòng. Họ được đưa tới đây sau cái chết của ngài thị trưởng mới được bổ nhiệm. Sự kiện bổ nhiệm ngài thị trưởng đã được truyền hình trực tiếp chỉ vài ngày sau khi những người cầm quyền sáng suốt và ưu tú chỉ huy quân đội cắm lá cờ lên nóc toà thị chính, tức là không lâu sau khi hoà bình được lập lại. Một cách tự nguyện, họ rỉ tai nhau như vậy. Đất nước này đã tự giao nộp mình, thành ra họ chẳng phải cố gắng gì mấy để độc chiếm nó. Nhưng đáng nhẽ ra, nếu như chính phủ thực sự muốn vẫy cờ trắng xin hàng, họ vẫn mong mấy lão già lẩm cẩm đó nên nhanh chân nhanh tay một chút. Họ đã phải bắn phá một góc thủ đô thì mới nhận được tín hiệu xin hàng. Nghĩ tới việc mình vừa mới tự tay đạp đổ rất nhiều công trình nguy nga, tráng lệ của một thành phố nay đã là chiến lợi phẩm, ai mà không tiếc kia chứ?

Quay lại với ba nhân chứng. Người ta cho rằng họ sẽ ít nhiều cung cấp được một tin hữu ích để bắt được hung thủ đã gây ra vụ ám sát, hoặc làm chứng cho phu nhân ngài thị trưởng – lúc này vẫn đang trong trạng thái hoảng loạn – rằng bà vô can. Phu nhân ngài thị trưởng cứ bưng mặt khóc. Phu nhân khóc suốt đêm, vẻ đẹp trẻ trung tươi rói khi thường bỗng chốc tàn tạ. Mừng là phu nhân không có thì giờ để mà nhìn ngắm khuôn mặt mình lúc này, bởi nếu không thì dễ có khi phu nhân sẽ lao vào mà bóp cổ người trong gương mất thôi. Khóc lóc chịu tang người chồng quá cố đến là kịch. Trái tim yếu ớt của phu nhân hẳn là không thể chịu đựng nổi khi biết rằng trình độ giả vờ của mình chỉ ngang một diễn viên tầm trung không biết chọn kịch bản.

Người điếc ngồi trong Phòng Trắng. Anh ta liên tục than phiền với viên cảnh sát canh gác bên ngoài căn phòng rằng thứ màu trắng loá mắt trong phòng đang tra tấn anh ta và nếu như họ không tiến hành lấy lời khai hoặc làm gì đó để anh ta nhanh chóng được phép rời khỏi đây thì sẽ có chuyện không hay xảy ra với hệ thần kinh yếu ớt của anh ta. Người mù ngồi trong Phòng Đỏ. Thật may mắn, người này không nhìn thấy gì nên chẳng hề bị bức tường sơn màu đỏ làm phiền. Tuy vậy, anh ta cứ nhăn nhó mặt mày suốt thời gian bị bắt ngồi đợi một mình trong một không gian xa lạ. Khi được hỏi về điều gì đang quấy rầy anh ta, người mù lưỡng lự một lúc rồi trả lời rằng anh ta bị tiếng nước nhỏ giọt tí tách vắt kiệt sức chịu đựng. Người câm ngồi trong Phòng Đen. Tất nhiên, kể cả khi có muốn thì anh ta cũng không tài nào thở ngắn than dài với bất cứ ai. Anh ta cứ nhìn chòng chọc vào ngọn đèn trên đầu mình, nom có vẻ thảnh thơi đến lạ kì, nhưng ai cũng biết là không phải như vậy.

Bắt một người phải chờ đợi trong một khoảng thời gian dài sẽ bào mòn sự kiên nhẫn của người đó. Trong lúc nóng vội, người ta vẫn thường hớ hênh. Để một người tự hồi tưởng lại những gì đã xảy ra trong lúc đợi tới lượt mình tường trình sẽ khiến người đó có nhiều thời gian để soạn ra một bộ câu hỏi trong đầu và chuẩn bị tốt hơn cho những gì mình sắp nói ra, nhưng đồng thời cũng khiến một người bồn chồn, lo lắng nhiều hơn. Thông thường, một người chưa từng có kinh nghiệm trong việc lấy lời khai sẽ đứng ngồi không yên trong suốt thời gian phải chờ đợi. Người ta sẽ nói không ngừng – nếu như bản thân có thể nói, đi đi lại lại, săm soi móng tay, ngắm nghía hoạ tiết trên sàn nhà, nói chung là làm tất cả những gì được phép làm để giết thời gian. Trong một vài trường hợp, người ta chỉ ngồi yên một chỗ, cố gắng tỏ ra bình tĩnh bằng cách trấn an bản thân rằng sẽ không có gì xảy ra cả.

Nhưng nét mặt căng thẳng, ánh mắt láo liên đảo như rang lạc, đôi bàn tay đan chặt vào nhau, người hơi chồm về phía trước, tì ngực vào bàn hoặc ngả hẳn người về phía sau, đẩy ghế ra xa khỏi bàn hết sức có thể là một vài biểu hiện tố cáo trạng thái tâm lý của người đó. Một người chịu áp lực tốt đến đâu đi chăng nữa, lần đầu tiên phải ngồi đợi một mình trong tư thế chầu chực đều sẽ bứt rứt. Chỉ khi đã đối phó với cảnh sát và qua mặt cả máy móc chuyên dụng được dùng trong kiểm tra nói dối, người ta mới có thái độ bình thản khi phải đợi ít nhất một giờ đồng hồ trong một căn phòng biệt lập. Ba người bị giam lỏng trong phòng đều chưa từng phải đối diện với bài kiểm tra này, cho nên giả sử họ không thấy ruột gan nóng như lửa đối thì mới có chuyện để nói, còn một khi thấy sợ hãi thì mọi việc vẫn nằm trong tầm kiểm soát.

Người điếc ở Phòng Trắng được yêu cầu thực hiện bài kiểm tra Turing vì anh ta khả năng nhìn và thao tác với máy tính. Cằn nhằn mấy câu, nhưng nghĩ tới việc ngồi yên một chỗ mãi cũng chẳng biết làm gì, anh ta đồng ý thực hiện bài kiểm tra trong lúc chờ người có thẩm quyền tới ghi chép lời khai của mình. Anh ta không hề biết một điều rằng, người câm ở Phòng Đen cũng tham gia bài kiểm tra này cùng với mình. Bản gốc của bài kiểm tra Turing được mô tả khá đơn giản và dễ thực hiện. Bài kiểm tra này cần đến ba người tham gia. Người tham gia A là một người đàn ông, người tham gia B là một người phụ nữ và người tham gia C, tức người đóng vai trò của người hỏi, là một người mang giới tính chưa xác định. Lí do mà bài kiểm tra Turing được gọi là “trò chơi mô phỏng” nằm ở chính luật chơi của nó. Người chơi C không thể nhìn thấy hai người chơi A hoặc người chơi B mà chỉ có thể giao tiếp với họ thông qua ghi chép bằng văn bản. Bằng việc nêu các câu hỏi cho người chơi A và người chơi B, người chơi C cố gắng để xác định giữa hai người chơi, ai là đàn ông và ai là phụ nữ. Vai trò của người chơi A là để lừa người hỏi đưa ra các quyết định sai lầm, trong khi người chơi B cố gắng để giúp người hỏi đưa ra quyết định đúng.

Bài kiểm tra kết thúc khá chóng vánh. Chỉ bằng ba câu hỏi, người điếc đã đoán được người câm là một người đàn ông, còn người còn lại thì tất nhiên là một người phụ nữ. Câu đầu tiên, anh ta hỏi hai người chơi về màu sắc của chiếc áo khoác đôi giày mà nhân viên dẫn họ vào phòng đang mang trên người. Người phụ nữ trả lời rằng chiếc áo khoác đó có màu tím mận còn đôi giày thì có màu gạc nai sừng tấm, người điếc thì đưa ra câu trả lời là chiếc áo màu tím và đôi giày màu nâu. Câu thứ hai, anh ta hỏi hai người chơi rằng họ có đang mặc áo có cúc hay không, nếu không thì hãy thử nhớ lại xem hàng cúc trên áo của mình thường nằm ở bên nào. Người phụ nữ nói rằng mình không mặc áo có cúc, tuy vậy hàng cúc áo ở phía bên trái. Trong khi đó, người điếc không chần chừ mà trả lời rằng mình đang mặc áo có cúc và hàng cúc nằm phía bên tay phải. Câu cuối cùng, anh ta hỏi vị trí của cánh cửa ra vào so với ghế ngồi. Người phụ nữ mất một thời gian để trả lời là cánh cửa nằm bên tay phải, nhưng người điếc thì lập tức trả lời chính xác vị trí của nó. Vì đã xuất sắc vượt qua bài kiểm tra, người điếc được đưa ra khỏi phòng.

Anh ta bị bắn chết bởi một người bị bịt mắt. Chính người vừa mới bóp cò cũng không hề biết rằng mình vừa mới giết người điếc ở Phòng Trắng. Chị ta chỉ biết rằng nếu như mình thua trò chơi mô phỏng, người mà chị ta gọi là chồng và con trai chị ta sẽ chết nếu như chị ta không giết người ở Phòng Trắng.

Người câm ở Phòng Đen cũng được yêu cầu thực hiện một bài kiểm tra khác. Bài kiểm tra này được đưa ra dưới hình thức trắc nghiệm bao gồm một câu hỏi và ba phương án trả lời. Số điểm mà người câm dành được trong từng câu hỏi sẽ không hề được công khai. Sau khi hoàn thành xong bài kiểm tra, người câm sẽ phải nộp lại tờ giấy ghi đáp án của mình cho nhân viên phụ trách đưa anh ta vào phòng. Kết quả của bài kiểm tra sẽ được thông báo cho anh ta sau khi nhân viên phụ trách nhận lại bản sao bài kiểm tra đã chấm điểm xong từ Tổng cục.

Bài kiểm tra của Tổng cục dành cho người câm bao gồm mười câu.

Câu thứ nhất: Khi bước chân vào một căn phòng, anh chú ý tới điều gì trước tiên?

Đáp án thứ nhất, vị trí sắp xếp của bàn ghế. Đáp án thứ hai, cách bài trí các đồ đạc trong phòng. Đáp án thứ ba, các đồ vật được treo trên tường. Người câm chọn đáp án thứ hai, tương ứng với mười điểm.

Câu thứ hai: Khi gặp một người lạ, anh quan sát người đó như thế nào?

Đáp án thứ nhất, quan sát khuôn mặt trước tiên. Đáp án thứ hai, quan sát một lượt từ đầu đến chân. Đáp án thứ ba, chỉ quan sát các bộ phận liên quan đến phần đầu, tức là kiểu tóc và các loại phụ kiện gắn trên tóc. Người câm chọn đáp án thứ hai, tương ứng với mười điểm.

Câu thứ ba: Anh ghi nhớ điều gì hơn cả khi đến một môi trường mới?

Đáp án thứ nhất, cảnh vật. Đáp án thứ hai, bầu không khí bên trong môi trường đó. Đáp án thứ ba, cảm xúc có được khi lần đầu tiên tới đó. Người câm chọn đáp án thứ nhất, tương ứng với mười điểm.

Câu thứ tư: Khi vừa mới tỉnh giấc, anh làm điều gì đầu tiên?

Đáp án thứ nhất, những việc nên làm trong ngày. Đáp thứ thứ hai, nghĩ về giấc mơ mà mình vừa thấy đêm hôm trước. Đáp án thứ ba, nhớ lại những gì mình đã làm được hôm qua. Người câm chọn đáp án thứ nhất, tương ứng với mười điểm.

Câu thứ năm: Khi nhìn vào một tấm ảnh cũ, anh sẽ rơi vào trạng thái nào?

Đáp án thứ nhất, cảm động. Đáp án thứ hai, thấy buồn cười. Đáp án thứ ba, cố gắng xác định chính xác tên và tuổi của những người xuất hiện trong ảnh. Người câm chọn đáp án cuối cùng, tương ứng với mười điểm.

Câu thứ sáu: Nếu như được mời tham gia một trò chơi mà anh không biết chơi, anh sẽ phản ứng như thế nào?

Đáp án thứ nhất, thử nhìn những người khác chơi trong lượt đầu tiên và tham gia vào lượt thứ hai sau khi nắm qua được cách chơi. Đáp án thứ hai, lấy lí do mình không biết cách chơi để đứng bên ngoài quan sát, sau đó khéo léo từ chối. Đáp án thứ ba, trực tiếp từ chối. Người câm chọn đáp án đầu tiên, tương ứng với mười điểm.

Câu thứ bảy: Khi buông quyển sách đang đọc xuống, anh sẽ làm gì?

Đáp án thứ nhất, tìm cách để đánh dấu trang đang đọc. Đáp án thứ hai, không đánh dấu. Đáp án thứ ba, tự tin vào khả năng ghi nhớ của mình nên không đánh dấu. Người câm chọn đáp án thứ nhất, tương ứng với mười điểm.

Câu thứ tám: Đứng trước một bàn tiệc, anh sẽ có động thái gì?

Đáp án thứ nhất, khen ngợi người đã nấu nướng và bày biện bàn ăn. Đáp án thứ hai, kiểm tra xem mọi người đã có mặt đầy đủ hay chưa. Đáp án thứ ba, quan sát xem các ghế ngồi đã được sắp xếp hợp lí hay chưa. Người câm chọn đáp án thứ hai, tương ứng với mười điểm.

Câu thứ chín: Anh quan sát điều gì khi đi trên đường?

Đáp án thứ nhất, các phương tiện tham gia giao thông. Đáp án thứ hai, tất cả những gì diễn ra phía trước mặt. Đáp án thứ ba, người đi đường. Người câm chọn đáp án cuối cùng, tương ứng với mười điểm.

Câu thứ mười: Anh quan sát như thế nào khi nhìn ra ngoài cửa sổ?

Đáp án thứ nhất, quan sát một cách những gì có ích cho mình. Đáp án thứ hai, quan sát tất cả những gì lọt vào tầm mắt. Đáp án thứ ba, chỉ quan sát một sự vật hoặc một sự việc cụ thể. Người câm chọn đáp án cuối cùng, tương ứng với mười điểm.

Kết thúc bài kiểm tra, người câm dành được tổng cộng một trăm điểm. Anh ta được một người đàn ông đưa ra ngoài. Người đàn ông hỏi anh ta rằng anh ta có nhận ra mình chính là người đã đưa anh ta vào đây lúc đầu hay không. Vì nóng lòng muốn được ra ngoài, anh ta gật đầu. Người câm bị người này bắn chết vì không phân biệt đâu là người nhân viên công vụ, đâu là song sinh của anh ta. Người anh em sinh đôi đã buộc phải bắn chết người câm nếu người này nhận lầm mình với anh, nếu không thì Tổng cục sẽ đem đứa con duy nhất của anh ta đi và bắt giữ người mà anh ta gọi là vợ vì chị ta bị kết tội giết chết người ở Phòng Trắng.

Liền ngay sau đó, một tiếng súng khác lại vang lên. Người đàn ông mặc áo khoác màu tím mận và mang đôi giày màu gạc nai sừng tấm vừa mới bắn chết người anh em sinh đôi của một nhân viên thuộc Tổng cục. Anh ta nhận được lệnh phải giết chết người phụ nữ tham gia trò chơi mô phỏng (người đã giết chết người điếc ở Phòng Trắng), người em trai sinh đôi của người đàn ông mặc áo khoác (người đã giết chết người câm ở Phòng Đen), sau đó tự sát.

Nếu như anh ta chết, em gái anh ta sẽ được an toàn. Nhìn về phía căn phòng ở cuối hành lang, nơi phu nhân ngài thị trưởng đang co rúm lại vì hoảng sợ, người đàn ông mỉm cười. Em gái anh sẽ không thấy tự hào về những gì mà anh đã làm, nhưng điều ấy đối với anh chẳng còn nghĩa lí gì nữa. Trong phút giây cuối cùng, anh chợt nhớ tới bố mẹ mình. Người đàn ông chết trận. Người đàn bà kiên cường. Bà đã hi sinh quá nhiều, tới mức độ các con bà nói rằng xin bà hãy thương lấy thân mình một chút thôi. Nhưng bà không vì những lời ấy mà ăn nhiều hơn lệ thường chút ít, cũng không vì các con nói rằng mình không cần phải sống vì người khác nữa mà chịu đi ngủ sớm hơn một giờ. Anh luôn canh cánh trong lòng một điều như thế, đó là vì cớ gì mà mẹ biết rõ mình chỉ cần sống an nhàn cho con cái vui lòng là được, thế nhưng bà cứ phải đầu tắt mặt tối như vậy. Phải tới tận khi ở vị trí một người không còn sự lựa chọn nào khác nữa, sự thật mới được phơi bày ra trước mắt anh. Cả đời, anh chưa từng được tận mắt nhìn thấy trăng tròn. Không một ai trong thành phố còn tâm trí mà ngẩng đầu lên nhìn bầu trời nữa. Từ rất lâu rồi, người ta chỉ quen nhìn xuống dưới chân mình. Nhưng ngày hôm nay, anh thấy vầng trăng nơi đáy nước. Người đàn ông soi mình vào chính cuộc đời chưa khi nào khiến anh đang yên thân. Nếu như phải lựa chọn giữa tính mạng cô con gái út mình rứt ruột đẻ ra và cái chết, hẳn là mẹ anh chẳng cần tới một giây để nghĩ suy. Còn gì để mà nghĩ nữa.

Dí súng vào bên dưới cằm, anh bóp cò.

Chỉ còn lại người cuối cùng, người mù ở Phòng Đỏ. Từ lúc nghe thấy tiếng súng đầu tiên nổ ra bên ngoài, anh ta đã thôi không than phiền nữa. Đến tiếng nước cứ nhỏ tong tỏng xuống mặt sàn cũng chẳng khiến anh ta hé răng mà nói một lời. Giữ yên lặng, anh ta bấu chặt tay vào tay vịn ghế ngồi. Trong tĩnh lặng, người mù nghe thấy tiếng chìa khoá tra vào ổ. Một người đang tiến vào phòng. Khép cánh cửa lại phía sau lưng, người kia cố gắng bước đi thật nhẹ nhàng để không làm người mù nhận ra rằng ngoài anh ta, vẫn còn một người khác nữa bên trong căn phòng màu đỏ. Thế nhưng, dường như người mù có thể cảm nhận được luồng không khí xung quanh mình biến động. Khoé miệng người mù khẽ giật giật. Theo phản xạ, người mù đứng dậy. Quay đầu về hướng mà anh cho rằng đó là nơi tiếng bước chân phát ra, người mù nín thở. Anh cảm giác như có người đang đứng phía sau lưng mình, nhưng lại không dám chắc. Phải đến khi người đứng phía sau choàng chiếc áo khoác lên vai mình, người mù mới giật thót một cái. Một vòng tay ôm ghì lấy anh.

Hoảng hồn, người mù toan kêu lên nhưng rồi lại quyết định giữ yên lặng. Bởi vì người đang ôm anh từ phía sau đang thì thầm một điều gì đó. Anh ta không đe doạ anh rằng khôn hồn thì hãy giữ yên lặng, cũng không dí nòng súng vào sau đầu anh. Anh ta chỉ nói. Giọng người đàn ông nhẹ như không.

“Đừng sợ. Anh giết chúng rồi.”

Người mù chỉ cần nghe có vậy để biết hai nhân chứng giả mạo đã chết.

.

Một người có thể nhìn và có thể nói, nhưng lại không thể nghe. Một người có thể nói và có thể nghe, nhưng lại không thể nhìn. Một người có thể nghe và có thể nhìn không thể nói. Người điếc là một thợ làm vườn, người mù làm công việc phụ bếp, còn người câm thì chịu trách nhiệm quét dọn các phòng ốc trong nhà.

Một ngày của người thợ làm vườn bắt đầu khi anh ta bước chân ra khỏi căn phòng phía Đông. Nhiệm vụ của anh ta vốn dĩ rất đơn giản, đó là khởi động hệ thống tưới nước tự động, thiết lập thời gian để vòi phun ngắt đúng thời điểm mình muốn, chăm sóc các khóm hoa và đảm bảo cây cối được cắt tỉa thật cẩn thận. Kể từ khi mọi thứ đều được vận hành bằng máy móc, không còn nhiều công việc dành cho con người nữa. Đáng nhẽ ra, chẳng cần phải bỏ tiền ra thuê thêm một người chỉ để nhấn nút bật công tắc. Với khoản tiền tiết kiệm được khi không phải chỉ trả cho người điếc, các thành viên trong gia đình có thể chi tiêu cho nhiều việc khác nhau. Thế nhưng, trái với suy nghĩ của nhiều người, chủ nhân cho rằng ắt hẳn phải có một lí do nào đó khiến cho những gì do bàn tay con người tạo ra lại kì diệu tới như vậy. Đôi khi, người ta không cần sự chính xác tới từng li từng tí. Một chút xộc xệch, một chút xiêu vẹo, một chút thiếu cân đối, thế nhưng lại khiến cho vườn tược mang dáng dấp đáng yêu tới bất ngờ. Con người thổi hồn vào tất cả những gì mình làm, và đó là lí do mà máy móc với năng suất đáng mơ ước cùng sự tuyệt đối của chúng khiến chủ nhân quyết định chọn một người thạo việc. Tuy vậy, kể ra thì người điếc vẫn khá nông nhàn. So với những gì mà người phụ bếp phải thực hiện thì quả thực là việc làm vườn chẳng hề thấm tháp vào đâu.

Rời căn phòng phía Tây, người phụ bếp tiến về khu vực làm việc của mình. Mặc dù đã có người máy phụ trách việc nấu nướng và đảm bảo từng món ăn sẽ được chuẩn bị đúng giờ, nhưng chủ nhân thích những món ăn do bàn tay con người làm ra. “Đã quá đủ thuật toán cho ngày hôm nay rồi”, chủ nhân đã nói như vậy khi nhận người mù vào làm việc cho mình. Về việc nhận một người không có khả năng nhìn cho một vị trí vốn đã là một thách thức cho những người lành lặn, chủ nhân chỉ đưa ra một lời giải thích hết sức đơn giản. Người mù có thể thực hiện được một bữa sáng khiến ngài thấy hài lòng, và ngài chưa từng thấy một người máy nào làm được món trứng rán xuất sắc như vậy. Bữa sáng kiểu Mỹ không hề làm khó người mù. Thật vậy, bánh mì nướng, trứng rán, xúc xích, thịt xông khói và khoai tây nghiền, tất cả những món mà người phụ bếp bày lên đĩa đều được nấu một cách hoàn hảo. Người làm bếp phải dậy từ sớm để chuẩn bị thức ăn. Nêm nếm các loại gia vị và một việc rất khó, nhưng không phải là không thể làm được.

Căn phòng phía Nam là nơi nghỉ ngơi của người câm. Công việc của người câm là đảm bảo đồ đạc trong nhà được lau chùi và bảo quản thật cẩn thận. Thực chất, có kha khá máy móc hỗ trợ việc quét dọn, nhưng chủ nhân không tin tưởng việc người máy có thể nâng niu từng món đồ của ông theo cách mà người câm sẽ làm. Ngài muốn chắc chắn rằng những món đồ thủ công mĩ nghệ được chế tác tinh xảo của mình luôn được để mắt tới. Vốn là một người đặc biệt cầu kì, ông cho rằng không một cỗ máy nào đủ khả năng trân trọng những món kỉ vật vô giá mà ông tự hào khi sở hữu chúng trong bộ sưu tập của mình. Đồ vật cũng có tâm hồn. Chúng xứng đáng được yêu thương bằng một tâm hồn hiểu rõ tầm quan trọng của chúng đối với gia chủ. Không một hạt bụi nào được phép vương lại trong biệt thự, và một người câm không thể than phiền về việc phải làm quần quật cả ngày xem ra khá thích hợp cho công việc này. Chủ nhân rất ghét phải lắng nghe người khác. Căn bệnh của con người, không thể khoanh vùng đối tượng sẽ phơi nhiễm loại virus này.

Không một ai có nhu cầu nghe ý kiến của người khác. Họ cũng không muốn có người nhìn thấy hay nghe thấy những gì mình đã, đang và sẽ làm, nhưng lại một mực khẳng định cả thế giới phải chiêm ngưỡng mình. Vừa trẻ con, vừa ngớ ngẩn, cũng không lạ nếu như sử dụng các tính từ nói giảm nói tránh như vậy đối với con người, đặc biệt là những kẻ vừa mới nắm được quyền thống trị và cho phép bản thân vênh váo một chút. Vênh váo một chút, đủ để nghĩ rằng tấm lòng mình thật bao la, đức độ khi tạo công ăn việc làm cho một lũ khố rách áo ôm đang chật vật tìm một chỗ đứng trong xã hội khi nhan nhản khắp nơi thông tin về việc cắt giảm biên chế sau khi cả một nhà máy được thay thế bằng hai con rô bốt và vẫn hoạt động ngon ơ. Kênh kiệu một chút, đủ để thoả mãn lòng tự tôn luôn cần được ve vuốt, nâng niu của mình và tự đánh bóng bản thân lên tầm thượng đẳng khi trở thành những kẻ nắm giữ nhiều quyền lực nhưng lại khoác vỏ bọc một kẻ biết quan tâm và sẻ chia với cộng đồng. Thôi miên chính mình bằng suy nghĩ khoảng cách giai cấp đang được xoá nhoà, những kẻ xâm lược kiểu mới sẽ không đi vào vết xe đổ của người đi trước mà sẽ đem yêu thương và hoà bình tới cho mọi người dân sống trong lãnh thổ của một đất nước vừa mới bị tước đi tự do rồi được ghi tên trên bản đồ với tư cách một thuộc địa; ru ngủ cả một tầng lớp bằng cách cho mình cái quyền bày tỏ quan ngại cùng sự thương xót tới quần chúng nhân dân lầm than, khổ cực trong khi chính dân tộc mình lại đem súng ống, đạn dược tới một vùng đất thanh bình và tham lam chiếm cứ lấy nó; quả nhiên, con người vẫn luôn là con người.

Chúng ta thổi hồn vào mọi thứ, nhưng cũng đồng thời có quyền năng tước đi linh hồn của cả một dân tộc. Bởi vậy nên người ta mới nói rằng phải luôn cẩn thận khi ở bên một người đã từng cho ta thấy cả thiên đường. Bạn tôn xưng anh ta như chủ nhân của Vườn Địa Đàng, vậy thì chẳng mấy chốc, anh ta sẽ cho rằng mình chính là Thiên Chúa. Đừng bao giờ trao cho một người quá nhiều quyền lực. Anh ta quá ngu ngốc để điều khiển chúng. Dù rằng niềm vui của Người chính là sức mạnh dành cho chúng ta, nhưng câu đó không nên được hiểu là niềm vui mà Người ban cho chúng ta tạo thành một điểm tựa, mà phải nhận thức theo đúng nghĩa-trên-mặt-chữ của nó, đó là niềm vui của Người – tức là bản thân từng người trong số chúng ta, những đứa con được người che chở và yêu thương – chính là một đòn bẩy để chúng ta vươn tới những điều tốt đẹp hơn nữa. Nói một cách đơn giản, chính chúng ta mới tạo nên sức mạnh phi thường để bản thân kinh qua mọi chông gai. Niềm vui của Chúa là sức mạnh của chúng ta. Chúng ta là niềm vui của Chúa. Vậy thì chính nhựa sống bên sau chúng ta là sức mạnh cho chính mình.

Không có một ai thay thế được Chúa, không một người trần mắt thịt nào. Cho nên những gì mà những kẻ thống trị đang ngấm ngầm thực hiện, đại khái là thay mặt Người để ban ân huệ cho thế giới, lấy những điều cao cả để lấp liếm ước muốn tầm thường là muốn thu phục lòng dân để lũ mông muội ngây thơ và dễ mềm lòng tuân lệnh mình, khiến cho rất nhiều người phải phẫn nộ. Các đội quân kháng chiến vẫn đang ráo riết chuẩn bị lực lượng, các nhóm biểu tình vẫn ngày đêm túc trực bên ngoài Toà Thị chính, các nhóm vận động, tuyên truyền vẫn tìm đủ mọi cách để lôi kéo người ủng hộ chiến dịch của mình. Nhưng như đã nói, thì người dân rất mông muội, ngây thơ và dễ mềm lòng. Ai đối tốt với họ, cho họ mái ấm, cơm ăn áo mặc, cho họ việc làm, cho con cái họ học hành, họ đi theo kẻ đó. Người ta có cần gì nhiều nhặn đâu. Người ta chỉ cần mỗi sáng thức giấc thấy cuộc sống của mình có ý nghĩa, biết mình hôm nay không bị đói, con mình hôm nay được vui vẻ, thế là đủ rồi. Cái bụng còn chưa no thì thật khó nghĩ tới những điều gì khác được. Chừng nào no cái bụng, người ta mới đói con mắt, mới thèm được thể hiện mình, mới khát khao giành lấy công trạng này, thành tích kia. Chưa lấp đầy cái bụng, nghĩ nhiều làm gì, hơi đâu mà nghĩ. Không một ai giúp việc trong nhà biết chủ nhân có thực sự quan tâm đến họ hay không, hay chỉ muốn những người đầy khiếm khuyết quây quần xung quanh mình để chứng tỏ sự cao cấp của bản thân. Vẻ lịch sự của chủ nhân, sự ân cần của ông đối với những người đầy tớ, có hay chăng được dùng để che đậy cảm giác thoả mãn khi nhận ra mình vượt trội so với những người khác?

Họ không biết những điều ấy, và cũng không có ý định biết về chúng. Có đôi khi, người ta từ chối nhận thức một vài sự thật. Không cần biết, hay không muốn biết. Bất kể là giàu hay nghèo, thượng đẳng hay hạ đẳng, sự khước từ sự thật luôn hiện diện. Không khó để người ta nhận ra rằng đây chính là phương thuốc hữu hiệu nhất để chữa trị cho căn bệnh quái ác ăn mòn tâm trí con người. Người phụ nữ duy nhất trong biệt thự không muốn hiểu vì sao xung quanh mình lại đầy rẫy những người trầm mặc như thế. Lí do duy nhất mà nàng nghĩ tới được, chính là người đàn ông của mình không muốn ai lại gần nàng, tìm cách quyến rũ nàng và cướp nàng đi, Người phụ nữ thấy mình như được chữa lành với suy nghĩ ấy. Nàng cho như vậy là phải lắm, và ban đầu thì nàng thật sự hài lòng, thậm chí là vui sướng khôn cùng khi biết người chồng sợ mất mình tới như vậy. Nàng đã từng diện kiến người vợ cả một lần trước giây phút bà lâm chung. Ngay cả khi nằm liệt giường, người phụ nữ kia vẫn toát lên một vẻ kiên định cùng khí chất ưu tư, và nàng biết rằng chồng mình đã bị khí chất ấy mê hoặc như thế nào. Nàng biết rõ hơn ai hết, tình yêu mà chồng mình dành cho người vợ yêu dấu cùng cậu con trai nay đã khôn lớn vĩ đại ra sao. Cho nên, lắm lúc nàng không khỏi tủi thân khi nghĩ tới việc có thể chồng ôm mình trong vòng tay, nhưng tâm trí lại đặt nơi người phụ nữ đã nằm dưới sáu tấc đất. Nàng sinh cho người đàn ông một cậu con trai kháu khỉnh, khoẻ mạnh cũng là để ràng buộc ông, và đúng như ý nàng, ông đã yêu chiều nàng hơn hẳn trước đây.

Nhưng dạo gần đây, một suy nghĩ loé lên trong đầu nàng. Nàng tự hỏi, liệu có khi nào người chồng vốn dĩ không hề thương yêu nàng tới mức ngăn không cho nàng tiếp xúc với đàn ông, mà là vì chồng nàng không muốn nàng có lấy một người để bầu bạn, để nàng cứ thế chết dần chết mòn trong buồn bã, cô đơn. Có thể lắm chứ, có thể lắm. Chồng nàng gần đây cũng không mấy khi gần gũi nàng như trước nữa. Cứ như một người lạ, nàng nghĩ bụng. Ngài thị trưởng hệt như một vị khách xa lạ tới chơi nhà, vì trời đột ngột đổ mưa nên đành phải nán lại nghỉ ngơi một đêm. Đến cả món ăn yêu thích của ngài cũng tự dưng thay đổi. Trước khi kết hôn với ngài thị trưởng, nàng đã tìm hiểu về mọi thói quen của người chồng tương lai. Nàng biết rõ ngài yêu thích món bánh quế, cho nên việc ngài nổi giận khi thấy món tráng miệng này được bày lên bàn vào tối hôm qua khiến nàng cùng mọi người trong nhà ai nấy đều ngỡ ngàng. Ngài thị trưởng không còn là người mà nàng từng biết nữa. Ngài là một ai đó vừa đáng thương, lại vừa đáng ghét, khiến nàng không khỏi khó nghĩ.

Bỗng dưng, nàng chợt nhận ra có thể sự lo lắng của mẹ mình trước đây là hoàn toàn đúng đắn. Không phải là ngài thị trưởng đang thay đổi, mà là hiện tại ngài đã biết chắc nàng sẽ chẳng thể rời bỏ ngài được nữa, cho nên ngài đã để lộ ra bản chất thật sự của mình. Nàng trộm nghĩ, hẳn là trên dưới ai nấy đều sẽ ngã ngửa vì bất ngờ khi biết được người đàn ông đang nhận được sự kính trọng và tín nhiệm thực ra lại là một ai đó vừa thô lỗ, vừa cục cằn. Những người giúp việc trong nhà đã đúng. Dù họ không bao giờ nói với nàng lấy một lời, nhưng trông thấy biểu cảm trên khuôn mặt họ là đủ hiểu rằng họ không nể phục chồng nàng như họ vẫn cố tỏ ra thông qua thái độ nhún nhường và lễ độ. Nàng đã rất bất ngờ khi nghe có người nói rằng ngài thị trưởng, tức chồng nàng, không hề có ý định giảm tỉ lệ thất nghiệp của con người hay xoá nhoà ranh giới giữa người dân của đất nước đi xâm lược và đất nước bị xâm lược mà chỉ muốn mọi người sống với thái độ mang ơn mình mà thôi. Ngài thị trưởng muốn được tôn xưng như một vị thánh, và có lẽ ngài đã thực sự cho rằng bản thân là một ai đó cao cao tại thượng. Bằng chứng là ngài muốn người vợ trẻ trung xinh đẹp của mình ngậm miệng và tôn sùng ngài một cách vô điều kiện.

Ngài không cần một người vợ. Ngài cần một người phụ nữ để quán xuyến công việc trong nhà và làm đẹp bộ mặt của ngài khi chuẩn bị tranh chức thị trưởng thành phố. Một gia đình nom có vẻ hạnh phúc với cậu con trai thành đạt, cậu con nhỏ tinh nghịch, đáng yêu và một người phụ nữ đỏm dáng, e ấp núp dưới cái bóng của mình. Mơ màng, nàng trông ra ngoài khung cửa sổ. Người tài xế đã lái xe tới. Chiếc xe bay dễ điều khiển tới mức nàng chỉ cần học sơ sơ cũng đã nắm được đại khái cách sử dụng, nhưng ngài thị trưởng lại cho rằng sẽ thật mất uy nghi và tôn nghiêm nếu như ngài phải tự mình lái xe. Thời gian đã khiến người ta quên mất rằng bản thân đã từng từ công việc thấp kém ấy mà đi lên. Ngài thị trường trong mắt người dân lúc nào cũng tươi cười, tưởng chừng như không một điều gì có thể dập tắt được sự lạc quan bên trong người đàn ông quắc thước, rắn rỏi này. Thế nhưng, đối với nàng, ông không hơn không kém một trái nho khô bị ép hết nước, chua không ra chua, ngọt chẳng ra ngọt, lúc nào cũng khiến nàng thấy áp lực trước bị kìm hãm, trói buộc. Nàng không muốn ở lại, cũng chẳng thể rời đi. Bên trong bốn bức tường, nàng thấy bức bối tới mức nhiều khi chỉ muốn phát điên. Nghĩ rằng nếu mình điên dại, người ta sẽ đưa mình ra ngoài, nàng từng vò đầu bức tóc, ngồi nhìn chằm chằm vào gương mà cười như phát bệnh. Nhưng chẳng ai quan tâm tới nàng cả. Những bóng ma trong biệt thự cứ đi đi lại lại. Họ chỉ là chiếc bóng. Một chiếc bóng mờ hắt lên vách tường, yếu ớt, mòn mỏi và kiệt quệ.

Họ cũng giống nàng, chẳng còn gì để mất, nhưng tuyệt nhiên không thể định hình được bản thân đã mất đi những gì. Trái tim họ chai sạn, tâm hồn nàng trơ khấc. Mất cảm giác đau, người ta dạn dĩ hơn và làm được nhiều điều hơn, nhưng cũng tiến gần tới cái chết hơn bao giờ hết. Nàng vẫn trăn trở một điều, đó là lí do gì đã khiến ngài thị trưởng hạ nghị quyết toàn bộ công dân trong thành phố của ngài đều phải tiêm thuốc gây tiêu biến cơ quan xúc giác. Suốt nhiều tháng trời ròng rã, người ta chỉ truyền đi một thông điệp duy nhất từ ngài thị trưởng, đó là thứ thuốc ấy chỉ có lợi chứ không hề có hại. Không còn thấy đau đớn, người ta sẽ chẳng cần tới thuốc giảm đau, vậy là tốn một khoản tiền lớn trong hiện tại nhưng lại tiết kiệm được vô số khoản chi tiêu trong tương lai. Một người không biết đau thì cũng sẽ không biết sợ. Nàng không còn nhớ cảm giác đau đớn ra sao nữa, nên nàng không sợ. Kéo cao cạp váy lên, nàng hài lòng ngắm nhìn chính mình trong gương. Cạp váy ôm trọn lấy vòng eo thon gọn, đôi chân thẳng tắp lộ ra bên dưới chân váy ngắn khiến nàng trong chốc lát thấy mình vẫn còn quyến rũ lắm. Gái một con trông mòn con mắt. Nàng vẫn còn trẻ. Nàng từng yêu say đắm một người đàn ông không còn yêu thương mình, sinh cho ngài một cậu con trai khoẻ mạnh, thực hiện hết nghĩa vụ với ngài, và giờ nàng thấy mình chẳng còn lí do gì mà không tìm tới một tình yêu mới.

Một chàng trai trẻ trung, đẹp mã và phong độ. Nàng cần một ai đó ở bên nàng, âu yếm nàng, vuốt ve nàng, xoa nắn nàng. Anh chàng tài xế riêng cho ngài thị trưởng xem ra cũng đã để mắt tới nàng. Mới hôm trước thôi, nàng nhận ra anh chàng dán mắt vào đôi chân mình ẩn hiện bên dưới lớp váy voan. Ánh mắt chàng hau háu. Nàng đã từng tưởng tượng ra khung cảnh ấy, mỗi khi nằm một mình trên giường trong căn phòng lạnh lẽo, và nàng tự chạm vào cơ thể mình. Khung cảnh ướt át, tình tứ, và người đàn ông đang ôm lấy nàng thì tràn trề sinh lực. Nàng chợt hiểu mình không cần một tình yêu. Nàng cần một người ở bên mình cho quên đi nỗi quạnh hiu. Người đàn bà chỉ cần có như vậy mà thôi. Bật cười tự chế nhạo mình, nàng hiểu ra, mình và ngài thị trưởng vốn chẳng khác gì nhau. Có lẽ vì thế mà họ tìm tới bên nhau rồi chôn sống nhau trong nấm mồ hôn nhân này. Cả hai đều mong muốn lợi dụng lẫn nhau. Người ta ăn thịt người thành quen, nên nhìn đi đâu cũng nghĩ có kẻ muốn xơi tái mình là vậy. Nhưng nàng không thể dứt ra khỏi suy nghĩ để cho người đàn ông cường tráng kia vùi sâu vào bên trong thân thể mình. Nàng run rẩy, và nàng để cho thứ ấm nóng kia len lỏi mà thấm vào vách thịt trong khi người đàn ông phủ lên thân thể nàng những chiếc hôn.

Nghĩ tới đây, người đàn bà rùng mình một cái vì rạo rực. Nàng thấy mình quay lại thời thiếu nữ. Một người con gái cô đơn, phụ giúp mẹ phân loại phế thải trong bãi rác thành phố, bật cười thích thú khi nghe anh trai kể về những chuyến phiêu lưu sang bờ bên kia bãi rác, nơi nhà cao tầng mọc lên như nấm sau mưa, và những chiếc xe thì bay lượn trên bầu trời. Việc gặp được người chồng hiện tại, đối với nàng mà nói, chính xác là một bất ngờ. Chưa bao giờ nàng cho rằng mình sẽ yêu một ai đó chứ đừng nói tới việc kết hôn. Cha mẹ nàng cả một đời lao lực, chẳng có lấy thời gian chăm lo cho bản thân mình. Nợ nần chồng chất, gánh nặng cho con cái một mái ấm trong thời buổi mà ngay cả những nhân vật xuất chúng với hai, ba tấm bằng đại học cũng chưa chắc đã tìm được việc làm, nàng đã tự nhắc nhở bản thân rằng mình sẽ không tự đày ải mình như thế. Nàng sợ. Nàng từng rất sợ việc kết hôn. Cứ nghĩ tới viễn cảnh phải để con cái thấy cảnh mình thắt lưng buộc bụn, chắt chiu từng đồng, nàng lại nhói lòng. Nhưng cuộc đời nào có thuận theo những gì người ta muốn. Nàng gặp được ngài, khi đó chưa phải là thị trưởng.

Dường như ngay từ lần đầu gặp gỡ, nàng đã gọi người chồng một cách cung kính như thế. Nàng biết rõ, ông có một cậu con trai. Nàng biết cả người phụ nữ đã gắn bó bên ngài. Nhưng nàng vẫn lao vào vòng tay ngài như một chú thiêu thân. Mẹ nàng luôn nói rằng, khi không thể kiểm soát được con người, nàng buộc phải nghiêm khắc với bản thân. Tuy vậy, nàng vẫn chẳng thể nào làm được gì. Bỏ ngoài tai những lời can ngăn của cha mẹ, của anh trai, nàng lên xe hoa. Nàng muốn sống hết mình một lần với tình yêu. Nàng cảm thấy mình sẽ chết khô như mặt đất ngày hạn nếu như cứ sống theo cách mà mình từng mơ ước trước đây. Nàng đã yêu một cách điên cuồng như vậy, và rồi đây là những gì mà nàng đã nhận được. Đáng nhẽ ra, khi đứng ở ngay ngã ba đường như vậy, nàng nên khôn ngoan mà lắng nghe lời khuyên nhủ của gia đình. Nhưng thú thực, kể cả có cho nàng lựa chọn lại một lần nữa, nàng cho rằng mình vẫn sẽ kết hôn với người đàn ông ấy.

Một người nghiêm túc, có lí tưởng, đáng tin cậy, khiến nàng muốn kí thác cả cuộc đời mình, chững chạc, thông minh, ngài thị trưởng khi ấy nắm giữ trong tay thứ phép màu mê hoặc cô gái trẻ. Bây giờ, tất cả những gì mà nàng nhìn thấy ở ngài chỉ là sự hợm hĩnh cùng ham muốn chứng tỏ bản thân và chẳng thèm quan tâm tới việc làm vừa lòng bất cứ ai. Nhưng vài năm về trước, ngài là bùa hộ mệnh của nàng. Ngài vượt trội hơn nàng về mọi mặt, và việc kết hôn với chàng sẽ khiến địa vị xã hội của nàng được nâng cao. Không một ai dám trừ điểm tín nhiệm công dân của một người đàn ông đứng đắn như ngài. Nếu như nàng kết hôn với một nhân vật như vậy, cả gia đình nàng sẽ luôn được bảo vệ. Họ sẽ không bao giờ phải lo lắng về bữa cơm hàng ngày, hay giật mình thon thót giữa đêm khuya vì bị cảnh sát truy đuổi khi định cư trái phép trong bãi rác nữa. Nàng cho rằng, đó là một biểu hiện của lòng hiếu thảo.

Nàng nhiều lần muốn ngài lắng nghe mình, nhưng hiển nhiên là ngài chẳng bao giờ để tâm. Không bỏ cuộc, trong một lần nóng giận, nàng đã nói ra tất cả, từ việc mình thường xuyên ngoại tình trong tâm tưởng với người tài xế cho đến chuyện nàng đã chán ngấy việc phải băn khoăn, lưỡng lự không biết phải đối xử với ngài ra sao. Nàng không che giấu một điều gì, và rồi ngài chỉ nhíu mày bảo nàng lần sau hãy mặc váy dài quá đầu gối rồi rời khỏi phòng ngủ, để lại nàng một mình trơ trọi.

Ngài đã từng khiến nàng lầm tưởng rằng ngài yêu nàng bằng cả tâm hồn, nhưng rồi cuối cùng đó chỉ là một ảo tưởng. Nàng thấy điều tích cực trong một tấn bi kịch trong khi những người xung quanh thì bấm bụng nhịn cười vì nàng trở thành một con ngốc trong mắt họ mà không hề hay biết. Nhưng nàng không ngốc. Nàng quay sang tìm cách kết bạn với họ. Dĩ nhiên, nàng không thể trò chuyện cùng gia nhân theo cách thông thường. Người câm viết cho nàng một mẩu giấy rồi đặt bên dưới hộp đựng đồ trang điểm, cho nàng biết rằng nàng đang bị lừa dối bởi chính người chồng mà mình hết lòng yêu thương. Người điếc trong một lần hiếm hoi rời khỏi khu vườn đã vào trong biệt thự để cho nàng hay anh ta trông thấy người mù trò chuyện một cách hết sức thân mật với ông chủ của họ. Duy chỉ có người mù là không hề tới gần nàng. Ban đầu, nàng còn nghĩ hẳn là cậu ta ngại ngùng mà thôi. Nếu như quần áo lúc nào cũng ám mùi dầu mỡ, nàng cũng thường tránh tiếp xúc với mọi người. Nhưng sau khi nghe tin người kia cùng với chồng mình có gì đó mờ ám, nàng bắt đầu sinh nghi. Nàng tin vào trực giác, và nàng biết ngài thị trưởng luôn giấu diếm mình một điều gì đó, nhưng chẳng bao giờ nàng có đủ bằng chứng cả. Còn bây giờ, nàng không tin rằng mình không thể khiến anh chàng phụ bếp nhà mình nói thật mọi chuyện.

Cậu ta mù, nhưng cậu ta không điếc mà cũng chẳng hề câm. Cậu ta nghe thấy những gì đang diễn ra, cũng có thể nói với nàng mọi điều cậu ta biết nếu như có người nghĩ oan uổng cho mình. Thế nhưng, cậu ta tuyệt nhiên không hé răng mà nói một lời với nàng. Chính điều ấy mới khiến nàng phẫn uất. Giá như cậu ta cứ đến trước mặt nàng, nói một lời xin lỗi rồi bảo rằng ngài thị trưởng ve vãn cậu ta thì ít nhất nàng cũng không thấy khó thở như lúc này. Cậu ta nói gì, nàng cũng tin. Nàng sẽ tin. Nàng không phán xét bất cứ điều gì cả. Đằng nào thì nàng cũng đã mất niềm tin vào chồng mình rồi, và nếu như ngài thị trưởng cũng có cảm giác tương tự, muốn kiếm tìm một điều gì đó thật mới mẻ để không phải nhìn mặt nàng hay nghĩ tới nàng, người đàn bà cũng chẳng hề thấy bất ngờ. Ngược lại, nàng còn thấy vui là đằng khác. Vui để đâu cho hết. Một người ra sức kìm kẹp mình, cuối cùng cũng đã cho mình một cái cớ để dứt áo ra đi, không buồn ngoảnh lại, nàng nên thấy vui mới phải. Nhưng cậu ta không buồn nói chuyện với nàng. Cậu ta coi thường nàng, cho rằng nàng là một ả tóc vàng ngu xuẩn không biết gì, và cậu ta chẳng nhất thiết phải thông báo cho nàng hay rằng cậu ta có đang ăn nằm với chồng nàng hay không. Nàng phẫn uất. Nàng đau đớn. Nàng nhục nhã ê chề. Nàng cảm thấy mình như đang chết đi sống lại. Những tưởng rằng mình sẽ không bao giờ biết đau là gì, nhưng hoá ra tiêm thuốc vào sâu trong cơ thể cũng chỉ phòng ngừa được những đớn đau ngoài da. Trái tim nàng như bị bóp nghẹt khi nàng tận mắt chứng kiến tên đĩ đàng kia giả vờ ngây thơ mà cười nói với chồng mình.

Nàng không thể chấp nhận điều ấy. Nàng không lên giường với một người đàn ông khác. Dẫu có lúc lầm lạc, nhưng nàng đã nói ra những điều ấy, đã mong muốn được thứ tha, và khát khao nhận được một chút xót thương từ chồng mình. Nhưng không. Không một điều gì. Không một chút quan tâm. Người chồng mà nàng hết mực tôn trọng, hết lòng hẫu thuẫn, giờ đây đang quyến rũ một chàng trai trẻ. Nàng còn nghe người ta nói rằng, cậu ta cũng đang dan díu với cậu con trai cả của ngài thị trưởng. Cậu ta còn chưa từng hướng về phía nàng mà gọi nàng là mẹ. Đành rằng nàng chẳng phải người đã sinh ra cậu ta, nhưng nàng là vợ của người đàn ông cậu ta coi là cha. Hai người đàn ông trong nhà nàng đều yêu một gia nhân. Nàng có thể hình dung ra nếu chuyện này vỡ lỡ, mọi thứ sẽ tồi tệ đến như thế nào, rằng người đời rồi sẽ buông những lời cay nghiệt tới đâu về phẩm hạnh của nàng. Trong một xã hội mà người ta dùng vỏ bọc công nghệ cao để che đậy đời sống thấp tới mức thảm thương, mất lòng tự trọng đồng nghĩa với mất tư cách làm người. Họ sẽ cho rằng, nàng là một người vợ không ra gì nên chồng mới ngoại tình, một người mẹ hư hỏng, đốn mạt nên không nhận được sự tôn trọng từ con trai riêng của chồng. Nàng sẽ mất địa vị. Nàng sẽ mất tất cả trang sức. Nàng sẽ bị đuổi ra khỏi cơ ngơi này. Lạ lùng thay, mỉa mai thay. Nàng thấy mình như một kẻ thất bại chứ chẳng phải là một phần của dân tộc thượng đẳng. Nỗi sầu não của nàng tưởng như đã chết cứng cùng với những hồn ma của thế kỉ trước, nay lại trỗi dậy mạnh mẽ hơn bất cứ lúc nào.

Nàng không còn sự lựa chọn nào khác nữa. Chính họ đã không cho nàng một cơ hội để lựa chọn. Nàng phải quyết định, và quyết định thật nhanh. Mất chồng, mất con, mất nhà cửa, mất tự trọng. Đằng nào rồi cũng sẽ mất. Thoả thuận giữa nàng với người điếc và người câm đã được thiết lập. Họ sẽ làm chứng rằng cả hai đã nhìn thấy người mù giết chết ngài thị trưởng và nàng hoàn toàn vô tội. Lẳng lặng cầm lấy khẩu súng, nàng rời khỏi phòng. Ngài thị trưởng đang ngồi trong phòng ăn, nhàn nhã thưởng trà. Đáng ra ông ta có thể mua về một người máy để phục vụ mình, nhưng rồi ông ta lại chọn một con người. Hiển nhiên là như vậy rồi, nàng cười khẩy khi lên đạn khẩu súng kiểu cũ. Người ta đã không dùng tới loại súng này từ trước cuộc chiến, nhưng nàng vẫn muốn sử dụng nó. Một người vợ giết chồng vì lòng đố kị và coi đó như một sự phản kháng, vụ án cổ điển cần một thứ vũ khí cổ điển. Một người máy thì không thể phủ phục dưới chân ông ta, vục mặt vào giữa hai chân ông ta, làm những điều thô thiển và bỉ ổi hơn để làm vừa lòng ông ta. Chúng được lập trình, nhưng lại không được sử dụng cho chức năng đó. Không một người máy nào vừa có thể làm bếp, vừa làm nô lệ cho một ông già chán vợ cả.

Quá đủ thuật toán trong căn nhà này rồi. Quá đủ sự dối lừa trong nơi xa hoa lạnh lẽo này rồi. Nàng phải sống vì mình. Nàng không chịu đựng được thêm nữa. Ý muốn được tự giải thoát cho mình khiến nàng như được tiếp thêm sức mạnh. Không nghĩ thêm gì nữa, người đàn bà bóp cò. Đó là giây phút sai lầm nhất trong cuộc đời nàng. Trong căn phòng bên cạnh, đằng sau tấm rèm, cậu con trai cả của ngài thị trưởng đang bịt chặt tai người phụ bếp mù. Anh đã nhìn thấy tất cả.

Nhân chứng duy nhất, vừa vặn không câm, không điếc, cũng không mù.

.

Chọn lấy một lá bài, Johnny đặt úp xuống mặt bàn. Năm lá bài nằm bên cạnh nhau, ngay hàng thẳng lối. Thế giới có đổi thay đến đâu thì những lá bài vẫn vậy. Chúng không nói dối kẻ tin vào chúng.

Nhận ra người đối diện mình vẫn còn run rẩy, anh vươn tay nắm lấy những ngón tay tê cóng của cậu. Người kia xem chừng đã không còn giật mình thon thót như lúc được anh đưa ra khỏi phòng nữa, nhưng vẫn để lộ ra một vẻ nhọc nhằn khiến anh không khỏi khó chịu trong lòng. Dường như, người kia đang âm thầm chê trách anh một điều gì nhưng lại không buồn nói cho anh hay. Kể ra cũng thật lạ, Doyoung chỉ không thể nhìn mà thôi, nhưng đôi khi lại khiến anh có cảm giác dường như cậu không nghe thấy gì, thành ra cũng chẳng bao giờ nói gì. Sự yên lặng của Doyoung luôn ngấm ngầm lên án Johnny, và anh tức mình vì điều ấy. Đôi mắt mù loà kia nhìn thấy anh, mọi lúc. Chúng sâu thăm thẳm và vô định. Chúng giống như một vị quan toà đạo mạo hơn là đôi mắt của một con người.

Rời khỏi chỗ ngồi của mình, Johnny tiến tới bên cạnh Doyoung. Vòng tay ôm lấy cậu vào lòng, anh khẽ thở dài. Năm lá bài vẫn nằm nguyên trên bàn, nhưng anh chẳng buồn lật lên. Anh không muốn biết. Anh không muốn biết câu chuyện của người phụ nữ đã giết chết cha mình, trong khi tất cả những gì mà cha anh đã làm chính là bảo vệ anh và chắc chắn rằng người mà anh yêu luôn được an toàn trong cơ ngơi của ông. Người phụ nữ ấy đã tước đi gia đình của anh, âm mưu hãm hại Doyoung của anh, và bà ta đang phải trả giá cho những lỗi lầm của mình. Anh không giết bà ta. Người đàn bà ấy không xứng đáng có được một cái chết quá nhẹ nhàng như vậy. Khẽ hôn lên vành tai Doyoung, anh thì thầm.

“Em đang trách anh vì anh giết chết đôi vợ chồng đó, đúng không?”

Người phụ nữ đã giết người điếc, còn người đàn ông đã giết chết người câm. Cả hai sau đó đều đã chết theo đúng kịch bản mà anh dựng lên. Doyoung hẳn là đang trách móc anh vì điều này. Khi anh nhắc tới họ, cả người cậu cứng đờ, mặt mũi cũng tái dại đi. Cũng phải thôi. Doyoung không biết điều ấy. Doyoung không hay biết rằng một khi đã lấy chính mình làm động lực, người ta sẽ có sức mạnh làm nên những điều kinh thiên động địa tới như thế nào.

“Người đàn ông ấy là nhân viên vận chuyển thực phẩm, còn vợ ông ta là chuyên viên kiểm định vệ sinh an toàn. Có một lần, rất nhiều rau củ bốc mùi thuốc trừ sâu đã được đưa tới trung tâm kiểm định. Lúc ấy, anh cũng có mặt ở đó. Em có biết chị ta đã nói gì với anh không?”

Doyoung lắc đầu. Johnny bật cười trào phúng.

“Chị ta không buồn nhìn anh, chỉ nói với anh rằng: ‘Nồng độ thuốc trừ sâu vẫn chưa vượt mức cho phép, vẫn ăn được.’ Đến cả chuột thí nghiệm cũng chết sau khi ăn thứ rau củ ấy. Em biết không, đến cả chuột thí nghiệm còn chết, nhưng chị ta muốn anh phê duyệt để chỗ rau ấy trở thành thức ăn cho con người.”

Doyoung yên lặng. Đưa hai bàn tay ra phía trước mặt, cậu cẩn thận chạm vào từng lá bài rồi lật chúng lên. The High Priestess. The Hanged Man. King of Pentacles. Ace of Swords. Nine of Wands. Năm lá bài ngược nằm ngay ngắn trên bàn. Cuộc đời của một người đàn bà hiện ra trước mặt anh. Một người có thể nhìn và có thể nói, nhưng lại không thể nghe. Một người có thể nói và có thể nghe, nhưng lại không thể nhìn. Một người có thể nghe và có thể nhìn không thể nói. Khuôn mặt của họ hiện lên trên những lá bài. Ba nhân chứng, không một ai biết chuyện gì thực sự xảy ra. Chúng ta là những nhân chứng trong cuộc đời nhau. Chúng ta chứng kiến mọi điều, cả tốt lẫn xấu. Chỉ có điều, kẻ thì tố cáo, vạch trần mọi điều, kẻ khác thì toan tính để làm giả chúng, ngậm máu phun người. Chúng ta là những nhân chứng trong cuộc đời của chính mình. Chúng ta nhận thức được hết thảy, cả xấu lẫn tốt. Vấn đề nằm ở chỗ, nhân chứng của chúng ta điếc, câm hay mù mà thôi. Nhân chứng điếc không thể nghe. Nhân chứng câm không thể nói. Nhân chứng mù không thể nhìn. Ở chung một chỗ, ba nhân chứng sẽ tố giác mọi điều xấu xa.

“Anh đã tận mắt nhìn thấy họ tìm cách giết chúng ta.”

Tiếng còi hụ của cảnh sát vang vọng bên ngoài căn nhà. Hôn Doyoung một lần cuối, anh chỉnh lại chiếc áo khoác trên người cậu. Chiếc áo khoác màu mận chín nhăn nhúm một góc. Doyoung đã ngồi một chỗ quá lâu. Nhận ra anh đang đứng dậy, Doyoung cũng chống tay xuống mặt bàn mà loạng choạng đứng lên. Cảnh sát đang tới để bắt giữ anh, và Johnny không có ý định chối tội. Bần thần nhận ra Doyoung không có ý định nói thêm câu gì với mình, anh nhún vai rồi ôm cậu. Nhưng ngay trước lúc anh cất bước rời đi, anh nghe thấy một tiếng nói khe khẽ. Doyoung đang nói với anh. Cậu đang tạm biệt anh một lần cuối cùng.

“Em đã tận mắt nhìn thấy anh tìm cách cứu chúng ta.”

Johnny cúi đầu. Anh chợt hiểu ra vì sao Doyoung không mấy khi ngẩng đầu lên. Thật tệ. Thật tệ khi nhìn thấy vầng trăng sáng tỏ trên đầu mình và nhận ra nó không tròn đầy như mình từng nghĩ.

Làm một nhân chứng không điếc, không câm, không mù, kể ra cũng thật tệ.

Tệ lắm.

Tệ đến mức phát khóc.

 

 

Posted in my johnny, night night (II), Triphenylmethane Project

[Oneshot | Triphenylmethane Project #E131 | #happyJOHNDOmonth | #JohnDo] la tristesse durera toujours (the sadness will last forever)

e74bca1f36ec4714af3555f4413116b4

Author: Trịnh Ánh

Requested by: Cừu

Pairing: JohnDo (NCT Johnny x Doyoung)

Character(s): John Suh/Johnny (NCT Johnny), Kim Dongyoung/Doyoung (NCT Doyoung)

Categories: fluff/WAFF, soft, HE

Rating: G

Summary:

“Mái tóc được cắt gọn gàng, không nhuộm. Khuôn mặt phảng phất một nét trầm buồn như thể mang nặng sầu nhân thế, một nỗi u hoài chỉ có trong cổ thi. Và đôi mắt. Đôi mắt trong veo lúc nào cũng hướng về phía những bức tranh như đôi mắt của một kẻ giã từ tình nhân nhưng vẫn chẳng thể ngừng trông về nơi biên ải xa xôi, mong người mình thương có lấy một phút nông nhàn. Thế nhưng, mỗi khi ngắm nhìn các bức tranh, khoé miệng cậu lại hơi cong lên thành một nụ cười.

Một nụ cười chỉ thoáng qua thôi, rất nhẹ, rất dịu dàng, hệt như thoáng thấy bóng dáng cố nhân giữa dòng đời xuôi ngược. Cậu như bước ra từ trong tranh, dùng vẻ ngoài điềm đạm che giấu đi cơn sóng lòng đang cuộn trào, lấy nét thanh tú mà chối phăng đi những sôi sục nơi ngực trái.”

 

 

 

la tristesse durera toujours (the sadness will last forever)

Thương yêu, 

 

 

 

 

Không nhiều người tới triển lãm tranh vì trót đem lòng yêu hội hoạ. Bảng màu và giá vẽ không dễ dãi tới mức như thế.

Người ta bước chân vào một phòng tranh, đôi khi là để buổi tối cô đơn bớt đi một chút nhàm chán. Cũng lắm lúc, người ta tha thẩn tiến vào một nơi trưng bày tranh chỉ vì bị thu hút bởi một tờ rơi quảng cáo, một tấm áp phích được thiết kế đẹp mắt, hoặc được một ai đó ngỏ lời mời, không đi thì không được. Cũng có nhiều kẻ rất lạ, vì muốn thể hiện bản thân nhiều hơn một chút, gây ấn tượng với bạn trai hoặc bạn gái rằng mình là một người có mắt thẩm mĩ, tư duy có chiều sâu, thành ra không một chút ngần ngại đưa đối phương tới triển lãm tranh.

Gặp phải người cũng mù mờ chẳng kém gì mình thì ba hoa chích choè cả buổi cũng không ai nói gì, cùng lắm chỉ nhận được ánh mắt ghét bỏ của thiểu số vì tranh mà cất công tới triển lãm mà thôi. Nhưng thông thường, đã muốn chứng tỏ mình cũng am hiểu về tranh với người yêu, thì anh bạn hoặc cô bạn người yêu kia thường yêu tranh hơn cả mạng sống của mình. Nếu sự thật không phải là như vậy, dễ có khi người ta đã đưa bạn trai, bạn gái đi ăn cho ấm bụng rồi, chẳng cần phải mất công như vậy để mà làm gì. Có quyết tâm tìm một chút đồng điệu để gắn kết mình và người mình đang theo đuổi hoặc người mình yêu thương thì thật đáng khen, nhưng nếu như đã quyết tâm tới như vậy, chi bằng đọc thật nhiều sách, xem thật nhiều tranh có phải là tốt hơn bao nhiêu hay không? Người ta không thích một kẻ ngốc, không ưa một kẻ chẳng biết điều, nhưng chắc chắn là ghét một người múa rìu qua mắt thợ. Còn kẻ ngốc ham học hỏi và thấy vui vẻ khi học được một điều gì đó thì dám chắc là ai cũng đều quý mến cả thôi.

Tuy vậy, không phải là không có những người vì những bức hoạ mà mua vé vào phòng tranh. Kể cả khi có là thiểu số đi chăng nữa, được hoà mình vào không gian của đường nét, màu sắc và tâm hồn hoạ sĩ luôn khiến trái tim họ rung động. Không biết từ bao giờ, họ lại yêu tranh tới như vậy. Có lẽ, chính bản thân họ cũng sẽ trăn trở vì một câu hỏi, rằng họ đã thấy gì trong tranh, đã cảm nhận được gì nơi tâm hồn người nghệ sĩ, đã mường tượng ra những điều kì diệu nào khi đưa mắt tìm bố cục của một bức hoạ, phân tích những mảng màu, cân nhắc, đánh giá chất màu, chất giấy? Chính họ cũng không hiểu vì lẽ nào mà tranh lại trở thành một phần trong cuộc sống của mình như vậy. Thế nhưng, như người ta vẫn hay nói về tình yêu, một ngày kia nếu như nắm bắt được chính xác vì cớ gì mình đem lòng mến mộ một người, rất có thể mình đã không yêu người đó nhiều tới như vậy được nữa. Thật vậy, yêu tranh bởi vì tranh vừa chỉ là tranh, vừa không đơn thuần là tranh, những người yêu hội hoạ đã trò chuyện với nhau bằng những lời lòng vòng và chùng chìn tới như thế kia đấy.

Yêu tranh bởi vì tranh là tranh, là tất cả những gì mà một bức tranh cần phải có: này thì giấy, này thì bố cục, này thì đường nét, này thì màu sắc. Người ta yêu là yêu chính bản thân bức tranh ấy với những gì mà nó vốn sở hữu. Nhưng hơn thế nữa, người ta còn sa vào lưới tình với một bức tranh vì những điều chưa hoàn toàn được hoạ sĩ thể hiện trên chất liệu mình chọn để kí gửi một góc tâm tư và một mảnh hồn phiêu diêu cần tìm nơi nương tựa, người xem tranh có thể ngẫm nghĩ, có thể suy tư.

Nhìn vào một bức tranh, người xem tranh trông thấy bối cảnh mà bức tranh ấy được ra đời. Dường như, đôi tai nhạy cảm của họ có thể xuyên thời gian mà lắng nghe những thanh âm của một buổi sáng đã đi vào kí ức của người hoạ sĩ, vui thích khi nghe thấy tiếng vó ngựa nện xuống cung đường lát đá nơi thành phố mù sương vang vọng đâu đây, và thời khắc người hoạ sĩ mở tung cánh cửa sổ, tâm hồn của cả người xem tranh như một chú chim sổ lồng, không chần chừ mà hoà vào làm một với khung cảnh huyên náo của một con phố sầm uất. Họ phóng tầm mắt mà ghi nhớ khuôn mặt của những người sống cách họ hàng thế kỉ. Họ hiểu ra người hoạ sĩ kia đang tương tư cô nàng chơi đàn dương cầm trong nhà hát, lúc này đây đang nói cười vui vẻ với chị hàng bánh ngay góc phố thân quen.

Họ yêu tranh, vì tranh như một bài thơ được thể hiện qua nét vẽ, vì tranh như biến khuông nhạc thành dòng sông, thành mặt đường, còn những nốt trầm bổng thì hoá những dáng người, những ngọn đèn của thành phố. Người xem tranh bắt gặp một tâm hồn lang thang. Hai tâm hồn đồng điệu, cứ thế vấn vương nhau, khi thì chia phôi, lúc lại hoà quyện. Người trân trọng những bức tranh sẽ không bao giờ để lạc mất chiếc hồn tha hương của người nghệ sĩ. Đó là cách mà một người nghệ sĩ trở nên bất tử. Chừng nào vẫn còn ít nhất một người tìm thấy người hoạ sĩ đang ngồi bên bậu cửa sổ mà ngắm nhìn khoảng trời của mình, thì chừng đó người hoạ sĩ vẫn còn sống. Người hoạ sĩ ấy sống trong tâm trí người yêu tranh. Người hoạ sĩ ấy hoà vào làm một với chính người thưởng thức bức tranh của mình và dành tình yêu cho nó. Người hoạ sĩ ấy đã được tái sinh.

Một người đến phòng tranh thường sẽ bị lầm tưởng là thực sự cần một thú vui nào đó để giải khuây trước khi chấp nhận việc mình chẳng có gì để làm cho hết ngày, nhưng một người đi tới nhiều đất nước khác nhau để tham dự các triển lãm tranh của cùng một hoạ sĩ thì lại là chuyện khác. Nếu như không thực sự đem lòng yêu các bức tranh của người hoạ sĩ kia tới như vậy, thì thật sự không hề dễ dàng để một ai đó ở độ tuổi hai mươi tiết kiệm tiền để mua vé máy bay và vé vào triển lãm cho bằng được, bất chấp rào cản ngôn ngữ – điều chắc chắn sẽ gây ra vô số khó khăn trong suốt chuyến đi – cùng với hàng đống hoá đơn cần phải thanh toán đang gây sức ép lên vốn tài chính không đến nỗi eo hẹp nhưng cũng chẳng được dư dật gì. Hoạ sĩ thường không giàu, hay nói cho đúng thì nghèo đến mức khó tin. Nhưng mọi người lại hay nghĩ rằng người yêu tranh luôn rủng rỉnh tiền bạc. Kể ra thì người ta nghĩ như vậy cũng có cái lí của họ thôi, vì không có tiền thì khó lòng đến các buổi đấu giá tranh, hay mua lấy bức tranh mà mình đặc biệt yêu thích. Tuy vậy, vẫn có một số người không sở hữu một bức hoạ nổi tiếng nào vì họ cho rằng, người yêu cái đẹp sẽ không chiếm giữ cái đẹp rồi giam hãm nó trong bốn bức tường của sự hẹp hòi, nông cạn, mà phải để cái đẹp được thật nhiều người thưởng lãm, tán dương. Tất nhiên, họ cũng nói không với các bản sao chép có thể tìm mua ở bất cứ đâu. Không có một bức tranh nào treo trong nhà, vậy mà kiến thức của họ về tranh và tình yêu họ dành cho tranh thì thật khó có người vượt qua được. Điều ấy chứng tỏ tình yêu với hội hoạ không tỉ lệ thuận với vật chất. Có những giá trị mà chúng ta chỉ có thể quy chiếu trên phương diện tinh thần.

Chàng trai trẻ đang đăm chiêu ngắm nhìn bức “Chân dung tự hoạ” (Portrait de l’artiste sans barbe) của Van Gogh kia chính là một ví dụ điển hình cho việc thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật bằng cả tri giác và tưởng tượng khiến anh dám chắc rằng cậu đã có một cuộc đối thoại với Vincent trong đầu mình. Thực ra, chính những người như cậu mới xứng đáng sở hữu các tác phẩm có giá trị ấy. Một người có vẻ rất am hiểu về nghệ thuật và coi nghệ thuật như một sinh thể hữu linh.

Muốn quan sát từ xa kĩ hơn một lần nữa để chắc chắn rằng mình không sơ suất mà nhận nhầm người, John tần ngần hồi lâu, vẫn chưa biết mình có nên tiến tới để bắt chuyện với chàng trai ấy hay không. Tính cả lần này nữa, anh đã gặp cậu trai này tới tận bốn lần ở bốn địa điểm khác nhau. Lần nào chạm mặt, anh cũng bỏ lỡ mất cơ hội để chào hỏi người kia. Phần vì cậu đi một mình, lại luôn giữ dáng vẻ tư lự như vậy, cho nên anh thấy rằng mình sẽ có phần hơi lỗ mãng nếu như làm phiền đến quá trình thưởng thức nghệ thuật của người khác. Phần vì sự hiện diện của cậu trong phòng tranh khiến anh có cảm giác vô cùng khác lạ, thành ra John quyết định đứng từ đằng xa để dõi theo từng cử động của cậu.

Người con trai kia thường mặc đồ sáng màu. Màu pastel hợp với cậu một cách đáng ngạc nhiên, bất kể là xanh hay hồng thì màu sắc đều tôn lên một vẻ hết sức trang nhã, tinh tế và có chút gì đó gần như thuần khiết tựa pha lê, không một chút vẩn đục. Mái tóc được cắt gọn gàng, không nhuộm. Khuôn mặt phảng phất một nét trầm buồn như thể mang nặng sầu nhân thế, một nỗi u hoài chỉ có trong cổ thi. Và đôi mắt. Đôi mắt trong veo lúc nào cũng hướng về phía những bức tranh như đôi mắt của một kẻ giã từ tình nhân nhưng vẫn chẳng thể ngừng trông về nơi biên ải xa xôi, mong người mình thương có lấy một phút nông nhàn. Thế nhưng, mỗi khi ngắm nhìn các bức tranh, khoé miệng cậu lại hơi cong lên thành một nụ cười.

Một nụ cười chỉ thoáng qua thôi, rất nhẹ, rất dịu dàng, hệt như thoáng thấy bóng dáng cố nhân giữa dòng đời xuôi ngược. Cậu như bước ra từ trong tranh, dùng vẻ ngoài điềm đạm che giấu đi cơn sóng lòng đang cuộn trào, lấy nét thanh tú mà chối phăng đi những sôi sục nơi ngực trái.

Đợi cà phê từ máy tự động đổ đầy hai chiếc cốc giấy, John chỉnh trang lại đầu tóc mình một chút rồi nhẹ nhàng tiến tới đứng bên cạnh người kia. Có vẻ như chàng trai đang hết sức tập trung. Cậu không hề để ý tới việc có người đang đứng bên cạnh mình. Nhưng điều này thì cũng dễ hiểu thôi. Đây là phòng tranh, những ai đã mua vé đều được phép ngắm tất cả những bức thu hút sự chú ý của mình, nên việc có một người đứng sát bên cạnh cũng không gây bất ngờ cho lắm. Đưa một cốc cà phê về phía cậu, để mùi hương quyến rũ của nó lan toả trong không gian nhỏ hẹp giữa hai người, John thành công khiến chàng trai để mắt tới mình. Nhận ra mình đang được anh mời cà phê, chàng trai mỉm cười. Hơi cúi đầu như muốn cảm ơn, cậu đón lấy cốc cà phê bằng cả hai tay rồi kề sát môi mà thổi phù phù mấy cái, đoạn nhấp một ngụm nhỏ. Nhắm mắt lại như muốn cảm nhận dư vị chua thanh của cà phê lưu lại nơi cuống lưỡi, chàng trai gật đầu vẻ hài lòng.

Lại cúi đầu cảm ơn anh thêm lần nữa, cậu nhìn John, đôi mắt biếc sáng lên lấp lánh như chứa đựng cả trời sao. Phải thú thực, anh chưa từng nhìn thấy một ai có đôi mắt đẹp tới như vậy. Vẻ bí ẩn, mị hoặc những đồng thời cũng hết sức thanh tao, yêu kiều đậm nét Á Đông kia khiến cậu trở nên đặc biệt. Hơi kiễng lên một chút, cậu nói tiếng Anh một cách chậm rãi như thể sợ mình phát âm không đúng. Chỉ riêng sự đáng yêu ấy thôi cũng đã khiến John thấy vui vẻ. Ai mà không thích những người dễ thương tới mức luôn cố gắng làm tốt mọi thứ kể cả khi gặp phải vô số chướng ngại kia chứ?

“Thank you for the coffee.”

(Cảm ơn anh vì cốc cà phê nhé.)

Đột nhiên, anh muốn trêu chọc người kia một chút. Tạm thời gác chuyện làm quen qua một bên, anh nói thật chậm bằng tiếng Anh để người kia hiểu được mình đang nói điều gì. Trêu người ta mà người ta không hiểu thì còn gì là vui nữa.

“Do you know that what you’ve just said is exactly what my mom tells her husband, I mean my dad, every morning?”

(Cậu có biết là câu mà cậu vừa nói khi nãy chính là những gì mà mẹ tôi đã nói với chồng của bà, ý tôi là bố tôi, mỗi sáng không?)

Thấy người kia tròn mắt nhìn mình, anh bật cười.

“My mom and my dad have a morning ritual. Depending on their kid and work schedules, they alternative who wakes up first. This is important, because the first one up makes coffee. She usually text him her undying love and gratitude believing at that moment that nothing communicates love more clearly than the fact that my dad made her coffee, and she said: ‘When I drink my coffee, my life starts to sing’. You sound like my mom, and your sweet voice melted my heart.”

(Bố mẹ tôi có một nghi thức đặc biệt vào buổi sáng. Đó là tuỳ thuộc vào việc ai sẽ đưa con đi học và lịch làm việc, hai ông bà sẽ luân phiên nhau thức giấc sớm hơn và đánh thức người kia dậy. Nghi thức này khá là quan trọng đấy, bởi vì người dậy sớm hơn sẽ pha cà phê mà. Mẹ tôi thường xuyên nhắn tin cho bố tôi để nói với ông về tình yêu bất diệt và sự biết ơn mà bà tin rằng những tình cảm ấy đã lấp đầy trái tim mình trong khoảnh khắc đó, cũng để bố tôi hiểu một điều rằng không có một phương thức bày tỏ tình cảm nào hữu hiệu hơn việc ông đã pha cho mẹ tôi một tách cà phê. Mẹ đã nói với tôi rằng khi mẹ uống tách cà phê ấy, mẹ cảm tưởng như cuộc đời mình đang cất tiếng ca vang. Cậu nói chuyện rất giống mẹ tôi, và giọng nói ngọt ngào của cậu khiến trái tim tôi tan chảy rồi đây này.)

Chàng trai hình như đã nghe không sót lấy một từ nào trong những gì mà anh vừa nói. Khuôn mặt chăm chú như trẻ con lắng nghe người lớn kể chuyện cổ tích lập tức đỏ lựng lên không khác gì quả cà chua chín khiến cậu trông đến là ngộ nghĩnh. Nhấp vội một ngụm cà phê để chiếc cốc che bớt đi khuôn mặt đang vì xấu hổ mà đỏ tía tai, cậu bối rối suýt chút nữa thì tự làm bỏng lưỡi mình. Thấy người kia cứ lóng ngóng như vậy một hồi, John vừa thấy thương vừa buồn cười. Đưa mắt ngắm nhìn bức tranh, anh thong thả uống cà phê rồi chuẩn bị lảng sang chuyện khác để cậu khỏi ngại ngùng. Thực ra thì anh cũng không hiểu vụ biết được mình vừa mới nói chuyện như một người vợ nói với chồng đã tác động tới người kia mạnh mẽ tới đâu, nhưng thấy cậu xấu hổ thế kia thì hẳn là trong đầu đã tự tưởng tượng ra một số viễn cảnh rồi. Nghĩ tới đây, anh cũng mường tượng ra hình ảnh mình thức giấc vào buổi sáng để pha cà phê, và người đang đứng bên cạnh sẽ dùng đôi mắt lấp lánh xinh đẹp kia mà nhìn mình rồi nói: “Cảm ơn anh nhé, cà phê ngon quá!” Nhận thức được hai gò má mình cũng đang nóng ran lên, John vội nói vào chủ đề chính.

“Tôi đã nhìn thấy cậu ở Trung tâm Ian Potter.”

Chàng trai giật mình quay sang anh, nghiêng đầu vẻ khó hiểu. Ngạc nhiên khi thấy anh không dùng tiếng Anh là một chuyện, nhưng dường như cậu đang choáng váng khi có ai đó nhìn thấy mình một lần ở Melbourne và lại gặp mình ở đây. Thấy cậu nhíu mày như đang cố lục lại trong trí nhớ xem cả hai có thật sự là đã gặp nhau hay không và nếu từng chạm mặt thì đó là tình huống nào, anh thủng thẳng nói tiếp.

“Triển lãm tranh Van Gogh ở Phòng triển lãm Quốc gia Victoria NGV, Phòng triển lãm Trung tâm Ian Potter ở Quảng trường Federation. Lúc kết thúc triển lãm, tôi thấy cậu đi bộ về hướng nhà ga Flinders Street. Khi đó tôi đứng ngay gần cậu ở bên ngoài phòng triển lãm, vốn đang định gọi giúp cậu một chiếc tắc xi nhưng cậu lại quyết định đi bộ. Cậu đã nhặt điện thoại giúp tôi khi tôi vô tình làm rơi. Chỗ bức ‘Hoa diên vĩ’ (Iris).”

Người kia ngây ra một lúc, đoạn như bừng tỉnh. Hào hứng gật đầu với anh một cái thật mạnh, cậu toan trỏ tay về phía anh nhưng hình như nhận ra làm như vậy có chút thất lễ, bèn bỏ tay xuống. Nói bằng giọng ngờ ngợ như đang phỏng đoán, cậu hướng mắt lên trần nhà suy nghĩ gì đó rồi tiến sát về phía anh hơn một chút rồi reo lên.

Van Gogh & Japan! Anh cũng đến triển lãm lưu động ở Bảo tàng nghệ thuật Tokyo chỗ Công viên Ueno đợt đầu tháng Một và triển lãm ở Bảo tàng nghệ thuật hiện đại quốc gia Kyoto gần ga Higashiyama nữa. Tầm khoảng tháng Hai, đúng không nhỉ? Đúng rồi, ngày 16 tháng Hai! Hôm đó tôi đã huỷ vé máy bay để tới triển lãm ở Kyoto nên tôi nhớ lắm. Anh đã ngắm bức ‘Tại ngưỡng vĩnh hằng’ (Trauernder alter Mann) tận mười lăm phút nên tôi có ấn tượng về anh.”

Rồi như nhớ ra gì đó, chàng trai đưa mắt nhìn anh một lượt rồi nói bằng giọng có phần hơi ngờ vực, dường như không chắc chắn lắm.

“Lúc đó tóc của anh khá dài… Anh cắt tóc đúng không ạ?”

Nghe thấy câu hỏi của người kia, John bất giác đưa tay lên chạm vào tóc mình. Đúng là anh đã cắt tóc. Sau khi trở về từ Nhật, anh đã quyết định cắt bỏ mái tóc dài của mình. Không phải là thất tình, cũng chẳng vì lí do gì quá đặc biệt cả. Nhiều người muốn thay đổi không khí nên đặt chân tới phòng tranh mà chẳng hề dự tính trước, thì cũng có người đột nhiên muốn cắt tóc, thay đổi cách ăn mặc, đổi sang một phong cách khác. Để cảm thấy mới mẻ và tràn đầy hứng khởi hơn, có lẽ thế. Đổi tên, cắt bỏ mái tóc nhiều năm bỏ công chăm sóc, làm mới tủ quần áo, để có một khởi đầu mới, người ta có thể làm rất nhiều điều. Chẳng cần một lí do nghe có vẻ chính đáng hay đao to búa lớn gì, John chỉ muốn không ngừng phá cách, thử những điều mới lạ xung quanh mình và yêu thương bản thân nhiều hơn sau khi nhìn thấy một hình ảnh hay một khía cạnh độc đáo khác mà trước đây mình chưa từng nghĩ tới. Mọi người nói rằng tóc dài hợp với anh hơn cả, nhưng sau khi cắt tóc ngắn, chính họ đã trầm trồ vì anh trông sáng sủa và gọn gàng hơn. Làm mới không ngừng để khám phá bản thân và yêu đời hơn, giờ đây John tự tin khi nói rằng mình yêu thích mái tóc ngắn này. Tuy vậy, anh đang có một chút lo lắng. Có vẻ như người kia đã nhớ đến anh với mái tóc dài trước đây mất rồi.

Uống nốt cà phê rồi bỏ vào thùng rác ngay gần đó, anh quay lại đứng đối diện với chàng trai, tiện tay chỉnh lại cổ áo giúp cậu rồi thầm thì, ra vẻ cực kì nghiêm túc.

“Tôi mới cắt thôi. Đẹp không?”

“Hợp với anh lắm.” Chàng trai cũng uống cho xong cốc cà phê. Ngó vào chiếc cốc rỗng không trên tay mình, cậu bật cười rồi lại ngẩng đầu lên nhìn John. “Nhưng chỉ cần anh thấy thích thì tóc ngắn hay tóc dài cũng đâu còn quan trọng nữa.”

Giờ thì tới lượt John ngẩn ngơ nhìn cậu. Anh thấy mình đang xúc động. Anh đã từng được nghe rất nhiều lời yêu thương. Sống trong một gia đình có thể được coi là khá hạnh phúc, anh là con trai của một bà mẹ lãng mạn tới mức đã tự mình viết một bài hát để cảm ơn người chồng vì mỗi sáng đã pha cà phê cho bà, cho nên John thường xuyên được bao bọc bởi rất nhiều dịu dàng cùng êm ái. Nhưng một người mà anh mới nhìn thấy ba lần và tới tận bây giờ mới chính thức chào hỏi nhau lại nói với anh những lời ngọt ngào tới như vậy thì anh chưa từng có cơ hội gặp được một người thứ hai. Trước đó không, sau này có lẽ cũng sẽ không còn ai vừa mới gặp đã dùng tất cả sự dịu dàng cùng ân cần, cẩn trọng mà đối xử với anh như vậy. Ánh đèn ấm áp trong phòng tranh soi rọi khuôn mặt khả ái của người kia, khiến trái tim John xao xuyến. Anh nhận ra giọng mình không hề che giấu được sự xúc động trong lòng.

John thấy mình đang yêu. John thấy mình đang yêu thật nhiều. Và anh muốn được yêu. Anh muốn được yêu nhiều hơn thế nữa.

“John Suh. Cứ gọi tôi là Johnny.” Chìa tay về phía chàng trai, anh mỉm cười.

“Kim Dongyoung. Mọi người gọi tôi là Doyoung, anh cũng có thể gọi như vậy.” Bắt lấy tay anh, chàng trai nói bằng giọng hân hoan. Đoạn, Doyoung buông tay Johnny rồi lấy điện thoại trong túi ra, gõ gì đó lên bàn phím rồi hỏi anh. “Anh không phiền nếu như tôi xin số điện thoại của anh chứ?”

Thấy Johnny có chút ngỡ ngàng, cậu nhẹ nhàng.

“Tôi còn ở đây mấy ngày nữa, nhưng chẳng quen biết ai cả thành ra cũng không biết nên đi thăm thú những đâu cho đỡ phí thời gian. Tôi lại không tin tưởng sách hướng dẫn du lịch lắm, cho nên…”

“Tôi hiểu mà.”

Lưu số liên hệ của mình vào điện thoại của Doyoung, anh nhìn cậu hí hửng như vớ được vàng mà tự dưng cũng thấy vui lây. Cả buổi hôm ấy, Johnny đã đi hết một lượt triển lãm tranh. Cứ khi nào dừng lại trước một bức hoạ, họ sẽ nói cho người kia nghe những gì mà mình biết về nó, từ việc nó đã được vẽ vào thời điểm nào trong cuộc đời Van Gogh cho tới việc đã có bao nhiêu người chép lại bức tranh mà chỉ có thể giống về đường nét chứ chẳng tài nào thể hiện hết được nội hàm ẩn sâu bên trong nó. Doyoung nói rất nhiều. Cậu nói một cách hăng say, vừa nói vừa khua chân múa tay, dùng ngôn ngữ hình thể để diễn đạt suy nghĩ của mình. Nhưng cậu cũng là một người rất biết cách lắng nghe và lĩnh hội. Không bao giờ có chuyện cậu ngắt lời anh, hay tỏ ra mình cái gì cũng biết rồi coi thường người khác. Suốt cuộc trò chuyện, anh không chỉ biết được sự phong phú trong kiến thức của Doyoung, mà còn nắm được một vài thông tin về cậu nữa. Thì ra, Doyoung lớn tuổi hơn anh phỏng đoán. Ban đầu, anh cho rằng cậu hẳn chỉ mới đầu hai mươi thôi, vẫn là sinh viên đại học nên mới nghĩ bụng người này hẳn phải đến từ gia đình có điều kiện lắm thì mới đi du lịch liên tục như vậy. Doyoung là một cây bút chuyên viết cho các tuần san về nghệ thuật, đặc biệt là lĩnh vực hội hoạ, cũng từng có nhiều bài đăng trên các tạp chí quốc tế. Đó là lí do cậu cất công tới rất nhiều triển lãm trên thế giới, kể cả các triển lãm lưu động. Những người tài giỏi thì mới có cái để mà khiêm tốn, chỉ có thùng rỗng mới kêu to mà thôi. Càng nói chuyện, anh lại càng thấy nể phục Doyoung nhiều hơn.

Từ trước đến nay, anh vốn không nghĩ rằng mình sẽ tìm được một ai đó để cùng họ chuyện trò về những sở thích, những thú vui trong cuộc sống chứ đừng nói là có thể tới triển lãm tranh rồi thảo luận về đủ thứ trên đời như thế này. Không phải là John không có bạn bè thân thiết. Ngược lại, anh tự thấy mình khá quảng giao, cũng giỏi giữ liên lạc với mọi người. Chỉ có điều, anh chưa từng có cơ hội được tới phòng tranh với một người vừa thông minh sắc sảo lại vừa khéo ăn kéo nói như vậy.

Cuối buổi hôm đó, anh lái xe đưa Doyoung về tới tận khách sạn. Trên đường đi về, cậu cứ thở ngắn than dài mãi về chuyện lúc nào cũng phải làm phiền người khác đưa đi đón về. Hỏi ra thì mới biết, lí do mà Doyoung không lái xe chẳng phải là vì không có thời gian luyện tập, mà là do khi còn nhỏ từng bị tai nạn nên không dám đi xe. Cậu ám ảnh với vụ tai nạn ấy tới độ không dám chợp mắt một lát cho đỡ mệt suốt cả quãng đường, mặc cho anh trấn an liên tục rằng mình sẽ đi thật chậm, và tai nạn giao thông chỉ là một sự cố hết sức hi hữu mà thôi. Hiểu thêm về Doyoung hơn một chút, anh lại càng thấy thương người kia nhiều hơn.

Thực ra, có rất nhiều người vì sang chấn tâm lý mà không thể sinh hoạt bình thường được, trường hợp như Doyoung cũng không hề hiếm gặp. Mỗi lần được nghe những người có chấn thương tâm lý liên quan tới xe cộ kể về câu chuyện của bản thân họ, anh lại thấy mình thực ra vô cùng may mắn khi vẫn có thể thi lấy bằng lái khi đủ tuổi quy định, và nếu như thấy không khoẻ vì vẫn đánh một giấc trên xe nếu như không phải ngồi ở ghế lái. Thế nhưng lần này, thay vì thấy bản thân may mắn thì suy nghĩ muốn được giúp đỡ Doyoung lại chi phối đầu óc anh, và điều này trước đây chưa từng có tiền lệ. Không phải là anh thấy chuyện một người với nỗi sợ, nỗi đau hay nỗi buồn dai dẳng là điều gì đó thật mới lạ hay đáng để đem ra mà bàn tán, chỉ là anh chợt nhớ tới một câu của Van Gogh. Câu nói cuối cùng của ông trước khi từ giữ cõi đời, một cuộc đời đầy những đau thương và trắc trở.

“La tristess durera toujours.”

(Nỗi buồn sẽ kéo dài mãi mãi.)

Không phải là niềm vui, không phải là ước mơ, không phải là khát vọng, mà là nỗi buồn. Chỉ có nỗi buồn mới là thứ kéo dài mãi mãi. Một lần bị rắn cắn, cả đời sợ dây thừng chính là như vậy. Từng bị tai nạn, từng tận mắt chứng kiến giây phút sinh tử chỉ cách nhau một tấm kính chắn gió của xe hơi, nảy sinh tâm lý sợ phải ngồi trên xe cũng là điều có thể xảy ra. Điều ấy không đáng trách, nhưng Doyoung lại thấy áy náy khi cho rằng mọi chuyện đều là do lỗi của mình, là vì mình không cố gắng vượt qua nỗi sợ nên mới gây phiền phức cho những người xung quanh, vì mình không đủ can đảm, không đủ dũng cảm để đối diện với thách thức, chỉ có khó khăn nhỏ như vậy mà đã vội tìm cách thoái lui, không dám đương đầu, đâm ra làm gì cũng thấy không tự tin vì nhược điểm của bản thân.

Rõ ràng, vụ tai nạn ấy xảy ra không phải do lỗi của Doyoung, nhưng cậu ấy không còn cách nào khác ngoại trừ tự trách chính bản thân không thể làm gì để khiến nỗi sợ của mình biến mất. Thậm chí, anh còn phải gặng hỏi mấy lần, cậu mới khẽ khàng nói rằng có đôi khi, cậu thấy mình giống như một gánh nặng cho mọi người. Cậu có thể nhìn thấy cả điều ấy trong mắt người đối diện. Ngoài mặt, họ đồng ý mở cửa xe để đưa cậu tới bất cứ đâu cậu muốn. Nhưng họ đang nghĩ đến điều gì khi nhận lời nhờ vả ấy thì ánh mắt của họ sẽ nói lên câu trả lời. Doyoung còn không thể đòi hỏi họ phải cảm thấy vui vẻ khi giúp đỡ mình được, vì cậu cho rằng mình không có quyền hạn đó. Họ cho cậu đi nhờ, kể ra đã là may mắn lắm rồi, trông chờ vào một điều gì đó xa vời, vừa ích kỉ, vừa vô lý.

Anh không thể không nghĩ tới Van Gogh cùng nỗi buồn đeo đẳng người hoạ sĩ tài ba suốt cả cuộc đời. Có lẽ là bởi vì cả anh và Doyoung đều tìm được sự kết nối với đối phương nhờ Van Gogh, cho nên anh thấy đọng lại trong không gian bên trong xe câu nói bỏ lửng của Doyoung một nỗi buồn chẳng hề vu vơ. Cậu buồn. Thực vậy, khi ngắm bức tranh ấy ở Melbourne, ở Tokyo, ở Kyoto và cả ở đây, một vài phút trước thôi, Doyoung buồn. Cậu buồn vì phải di chuyển một mình tới nơi mà không một ai nhớ mặt điểm tên. Cậu buồn vì phải làm việc một mình, ăn một mình, ngủ một mình. Cậu buồn vì không thể lái xe tới bất cứ nơi nào mình muốn, suốt ngày phải gây phiền hà cho người khác và vô tình bắt ép họ phải chịu đựng cả nỗi khổ tâm của mình. Trong đôi mắt cậu, nỗi buồn không hề tan biến. Ngay cả khi Doyoung đang mỉm cười, anh vẫn thấy nhàn nhạt một nỗi niềm tựa khói sương phủ lên đôi mắt trong. Như khói xám, như biển bạc, cảm giác mà Doyoung mang lại cho Johnny phảng phất một nỗi buồn vô hạn, không dữ dội, không giằng xé, không cồn cào, mà cứ âm ỉ mãi như vậy mà thôi. Dường như, Doyoung được sinh ra với nỗi đau nơi ngực trái. Thi thoảng, cậu sẽ thấy ngột ngạt tới mức không tài nào thở nổi, và xúc cảm bế tắc nơi Doyoung truyền thẳng tới Johnny, làm anh hít thở không thông.

Doyoung có những phút giây hạnh phúc. Chí ít thì khi nhìn thẳng vào mắt người kia và thấy hình ảnh phản chiếu của chính mình, anh biết Doyoung đang vui vẻ. Trong chốc lát, cậu đã cười một cách chân thật. Không phải là một nụ cười nguỵ tạo giả dối, cố khoác lên mình vẻ lanh lợi, hoạt bát, mà là một nụ cười của những hạnh phúc và yêu thương. Johnny những muốn giây phút ấy kéo dài thêm chút nữa. Anh mong mỗi khi nhìn vào mắt Doyoung cũng đều thấy cậu đang hân hoan như vậy. Chẳng có một ai lúc nào cũng nói cười, nhưng cũng chẳng một ai sẽ cứ buồn mãi không thôi. Nỗi buồn vẫn luôn ở đây. Nó chẳng đi đâu cả. Giống như Van Gogh đã nói, ông chưa bao giờ hết buồn, và phần còn lại thế giới sẽ phải dành cả đời mình để hiểu thấu điều này. Nỗi buồn không bao giờ tan biến. Nhưng nỗi buồn sẽ không cướp mất trái tim con người, chừng nào con người còn muốn sống. Gốc rễ của sự sống là yêu thương. Còn yêu thương, nỗi buồn không thể nuốt chửng được một tâm hồn.

Trước khi tạm biệt cậu, Johnny còn hẹn sẽ đưa người kia đi tham quan bảo tàng vào ngày hôm sau. Vui mừng trước lời đề nghị ấy, Doyoung gật đầu đồng ý ngay. Anh vẫn còn nhớ rõ lúc còn ở trong phòng tranh, mình đã nhắc tới việc một ngày nào đó sẽ mở một triển lãm tranh mà tất cả những ai yêu tranh để có thể hoà vào không gian trong các bức tranh ấy, và anh nhất định sẽ chờ cho tới khi công nghệ kĩ thuật số phát triển để thực hiện được giấc mơ ấy. Anh không bao giờ quên được điều đó, vì trước khi tiễn Doyoung lên máy bay về nước, cậu đã ôm anh – và phải nói thật, đó là cái ôm dễ chịu nhất anh từng biết – và đưa ra một lời hứa. Một lời hứa mà nhiều năm sau, khi đã họ không còn đơn thuần là hai người bạn có chung niềm đam mê mà còn là người yêu, người thân và nhiều hơn thế nữa, Doyoung đã thực hiện được.

“Em nhất định sẽ viết bài về triển lãm tranh của anh.”

.

Bảy năm sau.

Chính bản thân Johnny cũng cảm thấy khó tin khi nhìn thấy tên mình xuất hiện trong bài viết của Doyoung. Nhưng vẫn như mọi khi, những chuyện càng khó tin thì lại càng dễ trở thành sự thực. Chuyện này đáng ngạc nhiên tới mức anh phải tự véo vào tay mình xem rốt cuộc đây là mơ hay là thực (kết quả là lưu lại một vết đỏ trên cánh tay trái), cho nên có lẽ việc anh đã mở một triển lãm và kết quả thu được trong ngày đầu tiên hết sức khả quan không phải một giấc mơ đẹp đẽ nào đó khiến người ta không bao giờ muốn tỉnh giấc. Doyoung đã rời khỏi nhà sớm hơn cả anh để tới triển lãm, tìm một vị trí tác nghiệp thật tốt để ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ hơn cả xuyên suốt ngày đầu tiên triển lãm mở cửa, và tất nhiên là không thể thiếu một bài phỏng vấn độc quyền với chủ nhân của phòng tranh là anh.

Mặc dù anh đã nói với Doyoung từ tối hôm trước rằng cậu không cần thiết phải viết cả một bài dài như vậy, nhưng chính anh cũng biết thật khó để thuyết phục được Doyoung. Một khi đã ra quyết định, cậu nhất định sẽ làm đến nơi đến chốn. Cậu vẫn hay nói rằng, bởi vì anh đã kiên định với giấc mơ của mình từ nhiều năm về trước, cho nên cậu mà không giữ được lời hứa sẽ viết bài về triển lãm tranh của anh thì thật đáng xấu hổ, sau này không còn mặt mũi mà nhìn anh nữa. Doyoung nói được là làm được. Bài viết về buổi triển làm tranh Van Gogh kết hợp với công nghệ kĩ thuật số cho phép người xem có thể thực sự hoà mình vào bức tranh chứ không cần phải đứng từ phía bên ngoài mà nhìn ngắm như trước nữa đã được biên tập lại và đăng ngay trong ngày. Khi nãy, Doyoung vừa mới cho anh xem qua về bài báo đã được đưa lên mạng. Phải nói thật, anh hoàn toàn tin tưởng vào khả năng của cậu, nhưng khi đọc kĩ từng câu chữ mà Doyoung viết ra, anh vẫn mắt chữ A, mồm chữ O vì nghệ thuật sử dụng câu từ của người yêu mình. Kì diệu. Thật sự hết sức kì diệu. Cậu làm chủ từng từ một, và khiến cho con chữ như có linh hồn. Chúng nhảy múa trên trang viết, sống động tới độ khiến cho ai đọc được cũng thấy mình thực sự bước vào không gian của buổi triển lãm, và đó là điều anh mong mỏi nhất.

Dù thưởng thức nghệ thuật theo phương thức nào, Johnny vẫn tâm niệm rằng nếu như không tìm được sự giao cảm với những người, những vật, những cảnh trong tranh thì không phải là lỗi của hoạ sĩ, càng không phải là vấn đề của người thưởng tranh, mà là nguyên nhân nằm ở việc bức tranh ấy được đặt trong không gian nào. Kiến trúc của toàn nhà được chọn để tổ chức triển lãm, cách bài trí từng bức tranh được đem ra trưng bày, ánh sáng, âm thanh, thậm chí là cả màu nước sơn tường cũng đều có tác động không hề nhỏ tới quá trình thâm nhập vào bức tranh của những người tới triển lãm. Họ cần phải nắm bắt được thông điệp mà hoạ sĩ muốn truyền tải. Họ cần sự đồng điệu của tâm hồn. Nếu như ánh sáng trong phòng trưng bày quá chói mắt, quá trình này cũng sẽ dễ dàng bị ảnh hưởng. Bản thân việc thưởng thức một tác phẩm nghệ thuật đã rất cầu kì, không chuẩn bị thật chu toàn thì khó lòng kì vọng sau khi rời khỏi triển lãm, người xem sẽ thấy yêu mến người hoạ sĩ và các tác phẩm tuyệt vời nhiều hơn chút đỉnh.

Không mượn tranh của các bảo tàng danh tiếng để trưng bày trong buổi triển lãm của riêng mình, Johnny đã mượn tranh để sử dụng đồ hoạ dựng lại từng chi tiết dù là nhỏ nhất, sau đó ứng dụng công nghệ vào việc thưởng thức nghệ thuật, nhằm giúp cho tất cả những ai tới triển lãm dù có ở trình độ nào, hay hiểu biết bao nhiêu về hội hoạ, cũng đều có được những cảm nhận chân thực nhất. Ý tưởng cho buổi triển lãm tranh xoá bỏ rào cản giữa nghệ thuật và công nghệ đã được Johnny nhen nhóm từ rất lâu, có lẽ là từ khi bắt đầu đem lòng yêu mến các tác phẩm hội hoạ cho tới tận bây giờ, nhưng anh đã phải chờ đợi cho tới khi công nghệ đủ phát triển thì mới có thể thực hiện được. Thuở ban đầu, để thuyết phục được Bảo tàng Nghệ thuật Van Gogh ở Amsterdam đồng ý giúp đỡ mình, anh đã phải tốn rất nhiều công sức. Áp lực cũng mỗi lúc một cao hơn khi anh bắt tay vào thực hiện dự án của mình. Johnny gần như tham gia vào tất cả các khâu, từ lập trình đến chỉnh sửa, hiệu đính, đảm bảo hiệu ứng chân thật nhất có thể, kí hợp đồng thuê địa điểm, tự mình làm đủ thứ việc không tên khác, rồi còn quảng bá về triển lãm nữa. Anh đã bị công việc xoay như chong chóng, suốt một năm trời gần như không có lúc nào được ngơi tay.

Trong suốt thời gian ấy, Doyoung luôn sát cánh bên anh. Cậu góp ý với anh dưới góc độ một người yêu tranh đã tới rất nhiều triển lãm khác nhau, và góc độ của một nhà báo chuyên viết bài cho tuần san nghệ thuật. Không những thế, mỗi khi anh căng thẳng vì sức ép của công việc, Doyoung thường tìm cách giúp anh thả lỏng tinh thần, đồng thời cổ vũ anh hết mình. Có những lúc, anh và Doyoung đã tranh luận nảy lửa vì bất đồng quan điểm, nhưng rồi cũng lại làm hoà với nhau. Nhận ra rằng đối phương quan trọng hơn cái tôi của chính mình, đây là một bước tiến rất lớn và có lẽ là quyết định việc anh và cậu đến với nhau. Một lời xin lỗi kể cả khi mình không làm gì sai đã chứng tỏ rất nhiều điều. Một chút nhường nhịn để hiểu nhau hơn, trân trọng nhau hơn, anh và cậu cứ từng bước một mà bước vào trái tim nhau rồi ở lại đó như thế. Vừa làm việc cật lực, vừa yêu thương hết mình, anh đã sống một quãng đời cực kì hiển hách. Johnny cho rằng, mình quả thực là người đàn ông hạnh phúc nhất trên đời. Mấy ai mà được làm những gì mình thích cùng với người mình yêu kia chứ? Không nhiều người đàn ông có được may mắn ấy đâu.

Bởi vì giúp đưa Van Gogh – hay đúng hơn, là tâm hồn ông – tới gần hơn với đại chúng luôn là ước mơ của Johnny, còn Doyoung lại là thực tại tuyệt vời của anh, cho nên anh đã sống những ngày tháng đáng nhớ nhất của cuộc đời.

Nhờ có sự giúp đỡ của rất nhiều người khác nữa, cuối cùng triển lãm cũng đã được mở cửa. Ngày hôm này. Anh và Doyoung luôn biết rằng ngày hôm nay kiểu gì cũng sẽ tới, nhưng anh lại thấy đôi chút trống vắng trong lòng. Nghĩ lại cũng thật buồn cười. Lúc bình thường thì bận tối mắt tối mũi tới mức chỉ mong được về nhà đánh một giấc tới sáng, không phải lo nghĩ gì nữa. Thế mà vừa mới thở phào nhẹ nhõm tiễn người cuối cùng rời triển lãm, anh lại chẳng biết mình cần phải làm gì nếu như không còn bận rộn như trước đây nữa.

Johnny vẫn thường như vậy, và anh nghĩ rằng mọi người ai cũng sẽ có lúc bất chợt nhận ra mối lo trong lòng đã tan biến, hoặc một mục tiêu lớn lao nay đã được hoàn thành. Một chút hụt hẫng, một chút không biết phải trông chờ vào điều gì tiếp theo. Một nỗi buồn khó tả khi anh không được cuống cuồng chuẩn bị hết cái này cái kia nữa. Nhưng dù sao thì so với nỗi buồn, niềm hạnh phúc vẫn lớn hơn. Anh đã làm được. Anh đã chinh phục giấc mơ của mình và biến các ý tưởng trở thành sự thực. Dù sao thì đâu đó, nỗi buồn vẫn luôn tồn tại. Càng nghĩ, anh lại càng thấm thía câu từ của vị hoạ sĩ tài hoa ấy. Nỗi buồn chưa từng rời bỏ anh, cũng không có ý định tan biến nơi Doyoung. Trong đôi mắt đen láy của cậu, sắc vui cứ đậm dần, nhưng đâu đó, nỗi buồn vẫn ở lại. Anh và cậu chỉ cùng nhau biến nỗi buồn thành một năng lượng khác để làm được nhiều việc có ích hơn và yêu thương nhau nhiều hơn.

Hôm nay, anh ủ ê khi nhận ra mình đang chơi vơi vì vừa mới hoàn thành giấc mơ lớn của cuộc đời và đột nhiên “thất nghiệp”. Nhưng ngày mai, nỗi buồn trong anh có thể trở thành động lực lớn lao, giúp anh tiếp tục vươn tới những đỉnh cao mới. Doyoung cũng vậy. Ngày hôm nay, cậu có thể than phiền với anh rằng xét cho cùng thì điểm khởi đầu cho mọi nỗi buồn của chúng ta chính là chúng ta để cho hạnh phúc phụ thuộc vào sự tồn tại của một ai đó và mong muốn người khác yêu mình theo cách mà đáng lẽ mình nên tự yêu lấy bản thân. Nhưng ngày mai, sự lo lắng của Doyoung sẽ được chuyển thành tình yêu và niềm tự hào mà cậu dành cho chính mình. Cậu yêu bản thân hơn, và một khi đã yêu bản thân thì cậu sẽ dễ dàng yêu thương những người xung quanh. Yêu anh nhiều hơn chẳng hạn. Ý nghĩ lấy loé lên trong đầu khiến Johnny vừa lắc đầu vừa cười. Thấy vậy, Doyoung đặt chai nước ngọt vào xe đẩy hàng, nhìn về phía anh với vẻ hiếu kì.

“Anh đang nghĩ gì thế?”

Nhìn chiếc xe đẩy hàng chất đầy thức ăn được chế biến sẵn như một hệ quả của quyết định sẽ không phải vật lộn trong bếp vào lúc chín giờ tối trong một ngày mệt nhoài như hôm nay, Johnny nhấc hộp pizza lên ngắm nghía một hồi, đoạn lại hạ xuống. Đột nhiên, bao nhiêu mệt mỏi chợt tan biến hết. Bật cười, anh trả lời cậu.

“Anh đang nghĩ ai mà được đi siêu thị cùng em thì hẳn là phải may mắn lắm.”

Doyoung bây giờ không dễ dàng đỏ mặt như trước nữa. Nháy mắt với anh một cái, cậu cười phá lên, xem chừng hết sức sảng khoái.

“Thế thì chia một chút cho em với nào, Quý ngài May Mắn.”

Vỗ một cái lên thành xe, Johnny tự hiểu ý rằng Doyoung đã mua sắm xong xuôi, bèn đẩy xe tiến về phía trước. Trên đường đi tới quầy thu ngân, cậu hào hứng nói với anh rằng bố cậu vừa gọi điện tới để chúc mừng anh. Ban đầu, bố Doyoung cũng định trực tiếp gọi điện cho Johnny nhưng lại ngại, tới lúc thu hết can đảm để gọi một cuộc thì điện thoại của anh lại hết pin. Thật ra cũng chẳng trách Johnny được. Cả ngày hôm nay, anh chạy đôn chạy đáo khắp nơi, hỏi thăm người này, hỗ trợ người kia. Vì là buổi đầu tiên của triển lãm, thành ra vẫn có rất nhiều vấn đề phát sinh mà anh không lường trước được. Mọi thứ sau đó đều được giải quyết ổn thoả, nhưng cũng khiến Johnny không còn tâm trí đâu mà để ý tới điện thoại nữa. Chốc nữa về nhà, anh sẽ sạc điện thoại rồi gọi điện cho bố Doyoung ngay. Dù có hơi muộn một chút, nhưng ông cụ cũng có thói quen thức khuya, hẳn là sẽ không làm phiền tới giấc ngủ của ông được. Vả lại, con cái gọi điện cho mình, người làm cha làm mẹ nào cũng đều thấy phấn khởi, sẽ không quan tâm tới chuyện gọi điện sớm hay muộn nữa đâu. Anh muốn gọi điện tới để hỏi thăm sức khoẻ của mẹ Doyoung nữa. Chẳng là tháng trước, bà vừa mới không may bị ngã nên rạn xương. Lần đó, cậu chỉ kịp gọi điện cho anh một cuộc rồi lập tức lên tàu về quê ngay. Bản thân Johnny cũng gác công việc qua một bên, ngay trong đêm hôm ấy lái xe tới bệnh viện. Bây giờ thì mẹ Doyoung đang phải tiến hành vật lý trị liệu, Doyoung cũng đã tìm được bác sĩ tốt rồi, nhưng anh vẫn thấy lo lắng. Johnny thì chưa từng bị gãy xương, nhưng anh nghĩ cứ liên quan tới xương cốt thì đều đáng lo cả.

Doyoung ngày còn nhỏ bị gãy chân, phải ngồi xe lăn ba tháng. Anh không được chăm sóc Doyoung thời điểm ấy, nhưng chỉ cần trộm nghĩ tới chuyện cứ mỗi khi trái gió trở trời, vết thương cũ lại đau nhức không thôi là anh lại thấy thương cậu vô cùng. Ai cũng mong người mình yêu thương được khoẻ mạnh cả.

Hôm nay, anh và Doyoung quyết định sẽ mua pizza ở siêu thị trước khi về nhà. Một phần vì quá mệt nên chẳng còn muốn nấu nướng gì nữa, một phần vì cả hai đều thích đi siêu thị cùng nhau như thế này. Doyoung vẫn hay nói đùa rằng chắc chắn không ai có thể ngờ được anh lại thích đi siêu thị tới như vậy, anh nghĩ cậu nói cũng không sai. Cùng cậu quyết định mua gì cho bữa tối, hàn huyên với nhau về giá cả thị trường tăng giảm ra sao, kể cho nhau nghe những chuyện trời ơi đất hỡi, lắng nghe người kia nói về một ngày đằng đẵng nhưng không thiếu giây phút vui vẻ. Việc đi siêu thị thực chất cực kì bình thường. Nó chỉ là một phần của cuộc sống hàng ngày thôi. Nhưng anh luôn muốn mình được góp mặt trong những việc nhỏ nhặt như thế này. Bình dị thôi, không cần phải lên rừng xuống bể, nhưng lại thể hiện được sự gắn kết bền chặt hơn bất cứ điều gì khác trên đời. Sống cùng Doyoung, sinh hoạt cùng Doyoung, anh vẫn nghĩ rằng thật khó có điều gì lại có ý nghĩa lớn tới như vậy đối với mình.

Sau cùng, anh đã hiểu vì cớ gì mà bố mình luôn muốn pha cà phê cho mẹ mỗi sáng. Yêu thương nhau, ủng hộ và bảo vệ nhau, là hạnh phúc khi được trở thành một phần trong cuộc sống của nhau. Chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ, pha cho nhau một cốc sữa ấm, để dành cho nhau những điều ngọt ngào cùng thật nhiều cảm thông và thật nhiều vị tha, đó là những gì anh đã học được về cách bày tỏ tình yêu thương. Những gì đã được học, anh dành cả cho Doyoung.

Đứng xếp hàng ở quầy thu ngân, Johnny lấy thẻ tín dụng trong ví và chìa khoá xe đưa cho Doyoung. Trước ánh mắt ngạc nhiên của cậu, anh ngoắc ngoắc tay trỏ về phía sau lưng mình.

“Em cứ thanh toán xong xuôi rồi ra xe trước nhé. Anh đi vệ sinh một lát.”

Doyoung miễn cưỡng gật đầu. Không chần chừ thêm một phút nào nữa, Johnny chạy thật nhanh về hướng các kệ hàng, đi lòng vòng một hồi như thể đang thật sự đi tìm nhà vệ sinh. Nghển cổ nhìn về phía quầy thu ngân, Johnny đợi cho tới khi Doyoung không nhìn theo mình nữa mới phăm phăm bước về quầy hoa. Khi nãy lúc đi ngang qua đây, anh đã để ý thấy Doyoung cứ nhìn mãi về phía này. Mỉm cười với người nhân viên đang ngơ ngác nhìn mình cứ ngó quanh ngó quất hồi lâu, Johnny hơi đỏ mặt. Nghiêng đầu nghĩ ngợi một chốc, anh trỏ tay vào một bó hoa diên vĩ. Giờ này rồi, muốn mua hoa tươi kể ra cũng khó. Nhưng những bông diên vĩ thì vẫn xinh đẹp, lộng lẫy và yêu kiều. Giống như Doyoung. Bằng một cách nào đó, hoa diên vĩ thực sự rất hợp với người anh yêu. Hoa của Van Gogh. Hoa của nỗi buồn.

“Xin lỗi, tôi muốn gây bất ngờ với em ấy nên đã giả vờ đi vệ sinh để chuồn ra đây… Tôi lấy nốt chỗ diên vĩ ấy, chị bó lại giúp tôi được không?”

Người nhân viên bán hàng ngây ngẩn, rồi lập tức thoăn thoắt bó hoa giúp Johnny. Có vẻ như chị rất xúc động khi thấy dáng vẻ một người đàn ông muốn tạo ra một niềm vui nho nhỏ vào giây phút cuối ngày cho người mình yêu, thành ra động tác của chị nhanh hơn hẳn mọi ngày. Chọn một chiếc ruy băng thật đẹp, người nhân viên bán hàng thắt nơ thật cẩn thận rồi trao bó hoa cho Johnny. Cảm kích đón lấy bó hoa, Johnny thanh toán tiền rồi rời khỏi siêu thị.

Bên ngoài, Doyoung đang chờ anh trong xe. Hôm nay, cậu ngồi ở ghế lái. Mở cửa xe bước vào trong, Johnny đóng sập cánh cửa lại. Không để Doyoung kịp hỏi mình câu nào, anh đã lập tức đưa bó hoa về phía cậu. Rướn người hôn lên má Doyoung, với nụ cười rạng rỡ, anh nói rằng giọng vui vẻ.

“Chúc mừng em vì đã thi đỗ bằng lái xe.”

.

Johnny để ý thấy Doyoung đã thay hoa trong bình bằng bó hoa diên vĩ của anh. Anh cũng không thể không nhận ra trong lúc ăn tối, cậu ít nói hơn hẳn mọi khi. Dù Doyoung có cố gắng che giấu tới mức nào, anh cũng nhận ra sau khi ăn xong và tranh thủ dọn dẹp trong lúc anh gọi điện cho bố cậu, Doyoung đã nhanh tay quệt nước mắt. Kể cả khi Doyoung có bướng bỉnh, có cứng đầu nhất quyết không chịu tỏ ra mềm yếu trước mặt anh, Johnny vẫn biết cậu đã khóc một mình trong phòng tắm. Anh biết hết, anh biết tất cả. Nhưng anh cũng biết một điều, đó là Doyoung luôn yêu mình theo một cách riêng. Cậu không giỏi nói ra những lời tình tứ, đường mật, bày tỏ tình cảm cũng thật vụng về, đã thế lại còn ngang ngạnh, anh nói không biết bao nhiêu lần nhưng nhiều khi vẫn giấu nhẹm mọi nỗi niềm cho riêng mình, không chia sẻ cùng anh. Nhưng Doyoung yêu anh. Anh biết Doyoung yêu anh, thế là đủ rồi.

Sấy khô tóc cho cậu, xen lẫn giữa tiếng mấy sấy đang hoạt động hết công suất, anh nghe thấy Doyoung đang ngân nga hát khe khẽ. Hình như cậu đang vui, ít nhất thì cũng vui hơn lệ thường. Lấy lược chải lại tóc cho Doyoung, anh giúp cậu rẽ ngôi rồi đứng ra xa một chút để ngắm nhìn thành quả của mình. Hoàn hảo.

Doyoung ngả lưng xuống giường. Trèo lên giường nằm bên cạnh cậu, Johnny khoan khoái rúc mình vào trong chăn. Vừa mới vươn tay tắt đèn, chính thức khép lại một ngày vất vả, anh ôm lấy Doyoung, chuẩn bị chìm vào giấc ngủ. Đúng lúc này, anh lại nghe thấy tiếng Doyoung vang lên khe khẽ.

“Lúc Vincent tự dùng khẩu revolver bắn vào ngực mình, ông ấy đã nghĩ gì nhỉ?”

Chần chừ một lát như thể không muốn nói ra câu trả lời, một lúc sau Johnny mới thì thào trả lời. Trong bóng tối, dù anh đã cố gắng giảm âm lượng, nhưng dường như từng câu từng chữ vẫn đập vào thành vách của màn đêm, cứ thế vang vọng.

“Thực ra thì anh cũng không chắc chắn về chuyện ông ấy tự sát đâu.”

Van Gogh đã tự bắn vào ngực mình bằng một khẩu revolver 7mm. Ông đi bộ về nhà, gặp bác sĩ nhưng đã không thực hiện ca phẫu thuật để gắp viên đạn ra, cho nên các bác sĩ đã rời đi để ông ở lại một mình hút tẩu thuốc trong căn phòng của ông. Vincent qua đời vì nhiễm trùng hai ngày sau ở tuổi 37. Câu nói cuối cùng kết thúc cuộc đời của một danh hoạ chính là “Nỗi buồn sẽ kéo dài mãi mãi”. Khi chuyện đó xảy ra, ông ấy đang ở ngoài cánh đồng với hai thanh niên và dạy họ bắn súng. Đã có vài cuộc tranh luận về việc liệu ông tự bắn mình hay một trong những thanh niên đã vô tình bắn ông và ông đã tự nhận trách nhiệm về bản thân để bảo vệ họ. Không phải là không có cơ sở cho lập luận ấy, vì trước đây đã từng có mộ vụ việc Vincent “nhận tội thay” như vậy rồi. Câu chuyện cắt tai nổi tiếng của Vincent được cho là do người bạn của ông gây ra khi hai người gây gổ với nhau và cả hai đã đồng ý rằng sẽ giữ im lặng về chuyện này. Anh và Doyoung đã nói về việc Van Gogh có thực sự tự kết liễu đời mình hay không trước đây và không đưa ra được một kết luận nào cả. Johnny có chút thắc mắc không biết vì sao đột nhiên Doyoung lại nhắc tới chuyện này.

Nằm trong vòng tay anh, Doyoung ngẩng đầu nhìn lên trần nhà. Những ngôi sao dạ quang trên trần – tác phẩm của Johnny, sau khi cậu nói rằng thật tiếc khi không thể mỗi đêm đều được ngắm sao – sáng lên lấp lánh trong bóng tối. Chỉ khi màn đêm buông xuống và bốn bề chung quanh chìm vào bóng tối, người ta mới có thể nhìn ngắm những vì sao. Chúng thật bé nhỏ, thật xa xôi, nhưng Johnny đã đem chúng vào trong căn phòng nhỏ của họ chỉ vì muốn thành toàn mong ước được ngắm sao của cậu. Người đàn ông đang ôm lấy cậu lúc này đây đã làm rất nhiều điều vì cậu. Không biết có phải do bị ảnh hưởng từ người cha của mình hay không, mà mỗi sáng Johnny đều dậy thật sớm để pha cho cậu một tách cà phê, đưa cậu đi làm ngay cả khi cậu đã có bằng lái xe, cùng cậu đi siêu thị, và trước khi đi ngủ thì giúp cậu sấy tóc. Anh nói rằng anh yêu cậu giản dị như vậy thôi, nhưng không lúc nào Doyoung thấy không choáng ngợp trước những điều phi thường mà anh đã làm được vì mình.

Anh mời cậu một cốc cà phê, anh dành thời gian để đưa cậu đi một vòng thành phố xa lạ mà bây giờ cậu coi là nhà, anh cho cậu thấy thế nào là hoài bão, là khát vọng, thế nào là chiến đấu, thế nào là không biết bỏ cuộc. Ngày hôm nay, anh đã tặng cho cậu rất nhiều. Nhiều hơn một bó hoa diên vĩ. Johnny đã trao cho Doyoung rất nhiều tình yêu thương. Anh không phải là Van Gogh, nhưng bầu trời đầy sao của anh luôn là điều kì diệu bậc nhất mà Doyoung từng được chiêm ngưỡng, và sự đồng điệu, sự giao hoà với tâm hồn anh đang khiến cậu nghẹn ngào.

Trở mình trên giường, cậu ôm lấy anh. Những vì sao vẫn sáng trên đầu, và những bông hoa diên vĩ đã quay về với Van Gogh.

“Em cũng không biết nữa. Em cũng không biết Van Gogh đã ra đi như thế nào. Nhưng ngay cả khi không còn nữa, ông vẫn nói rằng nỗi buồn sẽ kéo dài mãi mãi. Nếu Vincent thật sự đã nói đúng, vậy thì cứ để em yêu anh mãi mãi là được rồi.”

Nỗi buồn có thể sẽ kéo dài mãi mãi. Nỗi buồn không có điểm dừng, và nỗi buồn khiến lòng ta tê tái. Nhưng có những khoảnh khắc, nỗi buồn sẽ buộc phải nhường chỗ cho niềm vui khôn tả. Lần đầu tiên biết đi, lần đầu tiên tới trường, lần đầu tiên giành được một tấm huy chương, lần đầu tiên được khen ngợi, lần đầu tiên được công nhận, lần đầu tiên được mời một tách cà phê, lần đầu tiên nhận ra mình đang yêu, lần đầu tiên được tặng hoa, lần đầu tiên biết ơn vì được sống để yêu và được yêu, để làm tất cả những gì mình muốn làm. Khoảnh khắc hạnh phúc ấy, đôi khi chỉ cần một là đủ rồi. Bởi vì tới một lúc nào đó, sẽ có một người xuất hiện trong cuộc đời và khiến tạo ra một khoảnh khắc khiến ta hạnh phúc như thể lần đầu tiên biết đi, lần đầu tiên tới trường, lần đầu tiên giành được một tấm huy chương, lần đầu tiên được khen ngợi, lần đầu tiên được công nhận, lần đầu tiên được mời một tách cà phê, lần đầu tiên nhận ra mình đang yêu, lần đầu tiên được tặng hoa đang xảy ra cùng một lúc, và người ấy thì lại chỉ là duy nhất mà thôi.

Người khiến ta biết ơn vì được sống để yêu, để được yêu, và để làm tất cả những gì mình muốn làm. Người khiến ta nhận ra ngay cả khi nỗi buồn có là mãi mãi hay không, thì tình yêu luôn là bất tử.

Mãi đồng điệu cùng anh, vậy là được rồi.

Có anh bên cạnh, vậy là được rồi.